Quan điểm của Đảng về đội ngũ doanh nhân qua các văn kiện đại hội
1. Quá trình lựa chọn và sử dụng thuật ngữ “doanh nhân” trong các văn kiện của Đảng
Doanh nhân là người trực tiếp lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu xã hội khác. Tại Đại hội lần thứ VI, cùng với việc thừa nhận sự cần thiết của thành phần “kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa”[2], Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đồng thời đề cập đến những người lãnh đạo, quản lý và điều hành thành phần kinh tế này. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, thuật ngữ “doanh nhân” chưa được nêu ra. Thay vào đó, những thuật ngữ chưa mang tính thống nhất được sử dụng để chỉ lực lượng này. Có thể liệt kê một vài thuật ngữ mà Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI đã sử dụng để chỉ những người lãnh đạo, quản lý, điều hành doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa. Họ gồm: “tiểu thương”[3], “nhà tư sản nhỏ”[4] hay “những người kinh doanh tư nhân”[5]. Sự không thống nhất trong cách gọi về lực lượng này còn tiếp tục được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII và IX. Cụ thể, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII gọi lực lượng này là “tiểu chủ”[6], “nhà kinh doanh”[7]; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII lại dùng những thuật ngữ: “các nhà doanh nghiệp tư nhân”[8], “nhà quản trị sản xuất kinh doanh”[9] và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX còn dùng thêm những thuật ngữ như: “các nhà doanh nghiệp”[10], “nhà kinh doanh”[11] để chỉ lực lượng này. Như vậy, qua 4 kỳ đại hội (từ Đại VI đến Đại hội IX), Đảng ta vẫn chưa có tên gọi chính thức cho một lực lượng xã hội đang ngày càng đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước.
Đại hội Đảng lần thứ X diễn ra trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới đã thực hiện được tròn 20 năm. Trải qua 20 năm đổi mới, rất nhiều vấn đề cần được tổng kết, bổ sung nhằm tiếp tục phát huy những thành tựu ở chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước. Trong bối cảnh ấy, lần đầu tiên, thuật ngữ “doanh nhân” đã chính thức được sử dụng và sử dụng thống nhất để chỉ những người trực tiếp lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thuộc cả thành phần kinh tế nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: “Nhà nước định hướng, tạo môi trường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường; bồi dưỡng, đào tạo và tôn vinh các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt”[12]; “Đối với doanh nhân, tạo điều kiện phát huy tiềm năng và vai trò tích cực trong sản xuất kinh doanh”[13]…
Thuật ngữ “doanh nhân” cũng tiếp tục được sử dụng và sử dụng với tần suất nhiều hơn trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Văn kiện đã nêu: “Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh”[14]; “Phát triển doanh nhân”[15]; “đội ngũ doanh nhân”[16]; “Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh”[17]; “Phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của đội ngũ doanh nhân”[18].
Điểm mới đáng chú ý là, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, thuật ngữ “đội ngũ” đã được sử dụng gắn liền với thuật ngữ “doanh nhân” để hình thành thuật ngữ “đội ngũ doanh nhân”. Điều này, tạo nên sự thống nhất hơn nữa trong cách gọi về lực lượng này (trong bối cảnh có rất nhiều thuật ngữ khác được sử dụng như: giới doanh nhân, tầng lớp doanh nhân, lực lượng doanh nhân, bộ phận doanh nhân… và tạo ra sự tranh luận trong giới nghiên cứu). Hơn thế nữa, với việc sử dụng thuật ngữ “đội ngũ doanh nhân”, Đảng ta đã chính thức thừa nhận lực lượng này là một trong 4 lực lượng xã hội cơ bản trong cơ cấu giai tầng xã hội của Việt Nam. Như vậy, cơ cấu xã hội phân loại theo giai tầng ở Việt Nam hiện nay bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông nhân, đội ngũ trí thức và đội ngũ doanh nhân. Đây thực sự là một chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Đảng về vai trò quan trọng của đội ngũ doanh nhân trong bối cảnh hiện nay.
Như vậy, sự thống nhất trong quan điểm của Đảng khi xác định tên gọi một lực lượng xã hội đang gia tăng nhanh chóng là một bước chuyển đáng chú ý. Điều này thể hiện sự nhanh nhạy trong nắm bắt thực tiễn và tổng kết lý luận của Đảng, đồng thời thể hiện sự đổi mới táo bạo trong quan điểm của Đảng khi thực hiện quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sự chuyển biến này có tác dụng quan trọng trong việc khuyến khích lực lượng doanh nhân cống hiến nhiều hơn nữa để tiếp tục khẳng định vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước.
2. Những chuyển biến trong quan điểm của Đảng khi đánh giá vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân
Đại hội Đảng lần thứ VI gắn với những bước chuyển quan trọng về tư duy kinh tế của Đảng, trong đó bao gồm sự đổi mới tư duy về cơ chế kinh tế, về chế độ sở hữu và về cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, tại thời điểm này, khi đánh giá về vai trò và vị trí của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng mới chỉ đề cập tới giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Đó là 3 giai tầng luôn giữ vị trí hàng đầu, có vai trò và đóng góp quan trọng đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam trong suốt thế kỷ XX. Văn kiện nêu rõ: “Cần có quan điểm đúng đắn và thống nhất, kèm theo những chính sách, biện pháp có hiệu quả xây dựng toàn diện giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, làm cho nền tảng chính trị - xã hội của xã hội mới ngày càng vững chắc”[19]. Bên cạnh việc chưa khẳng định vị trí của đội ngũ doanh nhân trong xếp hạng các lực lượng xã hội theo cơ cấu giai tầng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng còn đánh giá chưa đầy đủ về những đóng góp và vai trò của đội ngũ doanh nhân khi vẫn đề ra quan điểm “phải xóa bỏ thương nghiệp tư bản, tư nhân”[20]; “cải tạo và xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân”[21]; “Đối với tiểu thương, thông qua nhiều hình thức tùy theo ngành hàng để sắp xếp, cải tạo và sử dụng họ thành lực lượng bổ sung cho thương nghiệp xã hội chủ nghĩa”[22]. Như vậy, tại thời điểm nền kinh tế nhiều thành phần mới được hình thành ở Việt Nam, Đảng ta vẫn chưa thể hiện tầm nhìn dài hạn trong việc đánh giá vị trí và vai trò của một lực lượng xã hội mới được thừa nhận nhưng tiên liệu sẽ có những bứt phá mạnh mẽ, đó là đội ngũ doanh nhân.
Tại Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng, khi bàn về chính sách giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực nhằm chuẩn bị lực lượng khi bước vào thế kỷ XXI, Đảng ta đã chú trọng việc “xây dựng đội ngũ trí thức, nhà kinh doanh, người quản lý, chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề”[23]. Điều này thể hiện Đảng đã đánh giá được vai trò quan trọng của đội ngũ doanh nhân (cùng với đội ngũ trí thức, người quản lý, chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề) trong quá trình phát triển đất nước khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI. Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII cũng không đề cập tới việc ngăn cản, hạn chế, cải tạo hay xóa bỏ bộ phận tiểu thương mà nhất quán chủ trương “mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”[24]. Điều này thể hiện nhận thức mới của Đảng về vai trò ngày càng tăng của đội ngũ doanh nhân trong bối cảnh nước ta đã dần bước ra khỏi khủng hoảng và bước đầu cần phát huy sự đóng góp của mỗi cá nhân để tích luỹ cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Đại hội Đảng lần thứ VIII đánh dấu một bước chuyển mới trong quan điểm của Đảng khi lần đầu tiên, đội ngũ doanh nhân đã xuất hiện trong cơ cấu xã hội phân chia theo giai tầng ở Việt Nam. Ngoài giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, thanh niên, phụ nữ thì “các nhà doanh nghiệp tư nhân”[25] cũng được Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đề cập tới như một lực lượng có vị trí quan trọng trong xã hội. Tuy nhiên mức độ quan trọng được xếp ở vị trí sau cùng (đứng thứ 6 trên tổng số 6 lực lượng được nhắc tới). Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh việc: "Phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, chú trọng các lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, quản lý kinh tế, xã hội và quản trị sản xuất kinh doanh”[26] trong chương trình phát triển giáo dục và đào tạo của quốc gia.
Như vậy, đây là lần đầu tiên khái niệm nhân tài ở Việt Nam được mở rộng đến cả những người quản trị sản xuất kinh doanh. Trước đó, nhân tài chỉ bao hàm hai lĩnh vực, nhân tài khoa học và nhân tài chính trị. Đến thời điểm này, Đảng ta đã nhận thức được rằng, đội ngũ doanh nhân cũng là một phần của “nguyên khí quốc gia”, họ có vai trò và vị trí đáng được tôn vinh trong xã hội. Nhận thức này của Đảng tiếp tục được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Văn kiện nêu rõ: “Đối với các nhà doanh nghiệp, nêu cao vai trò và trách nhiệm đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển kinh tế - xã hội” [27] và “Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản lý”[28] trong chương trình giáo dục và đào tạo của quốc gia.
Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục thể hiện sự chuyển biến đáng ghi nhận trong quan điểm của Đảng khi đánh giá vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân.
Về vị trí, đội ngũ doanh nhân từ chỗ chỉ được xếp ở vị trí có tầm quan trọng thấp nhất so với những lực lượng xã hội khác đã vươn lên và được xếp ở vị trí cao hơn. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, “doanh nhân”[29] chỉ xếp sau công nhân, nông dân, trí thức và đứng ở vị trí thứ 4 so với tổng số 8 lực lượng được nhắc tới.
Vai trò của đội ngũ doanh nhân tiếp tục được đề cao. Lần đầu tiên Đảng khẳng định việc “tôn vinh các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt”[30], đồng thời khẳng định chủ trương: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân”[31]. Điều này chứng tỏ, Đảng đã coi doanh nhân như là một lực lượng ưu tú của xã hội. Họ có vị trí, vai trò tiên phong trong việc phát triển kinh tế - xã hội.
Tiếp tục những chuyển biến đáng ghi nhận trong các kỳ đại hội trước, Đại hội Đảng lần thứ XI chính thức coi doanh nhân là một đội ngũ: “đội ngũ doanh nhân”[32] (bên cạnh đội ngũ trí thức) và trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong cơ cấu giai tầng của xã hội Việt Nam hiện đại. Như vậy, cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức - những lực lượng luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam ở thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI thì đội ngũ doanh nhân - mặc dù mới được chính thức công nhận khoảng 20 năm nhưng đã được Đảng ta thừa nhận là đủ tầm vóc và uy tín để sánh vai cùng với các lực lượng đó nhằm góp phần thực hiện thành công công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Như vậy, những chuyển biến trong quan điểm của Đảng khi đánh giá về vai trò, vị trí của đội ngũ doanh nhân từ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là những chuyển biến mang tính lịch sử. Thông qua sự chuyển biến ấy, đội ngũ doanh nhân Việt Nam thực sự đã được nâng tầm, được tôn vinh và đã trở thành một trong những lực lượng tiên phong trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh ngày nay.
3. Những chuyển biến trong quan điểm của Đảng khi xác định phương hướng phát triển đội ngũ doanh nhân
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI chưa đề cập đến phương hướng phát triển đội ngũ doanh nhân, thậm chí vẫn còn tồn tại những quan điểm nhằm hạn chế sự phát triển của lực lượng này cả về quy mô và lĩnh vực kinh doanh. Đảng chỉ đạo: “Nhà nước sử dụng những biện pháp có hiệu quả để cải tạo và xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân”[33]; “Nhà nước cho phép những nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành, nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thiết trong cả nước”[34]. Như vậy, tại thời điểm này, khi bắt đầu thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta mới chỉ đưa ra những quan điểm mang tính thử nghiệm cho sự hình thành và phát triển lực lượng doanh nhân trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ (rất hạn chế trong lĩnh vực thương nghiệp) và cũng chỉ ở một giới hạn “cần thiết” nhất định.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, phương hướng phát triển đội ngũ doanh nhân được Đảng xác định thông qua mục tiêu của chính sách giáo dục đào tạo, đó là mục tiêu: “hướng vào bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao dân trí; đào tạo nhân tài; xây dựng đội ngũ trí thức, nhà kinh doanh, người quản lý, chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề”[35]. Mặc dù chưa nêu phương hướng phát triển cho riêng đội ngũ doanh nhân, nhưng Đảng cũng đã bước đầu đưa việc phát triển lực lượng này gắn với chính sách phát triển giáo dục, đào tạo của quốc gia nhằm chuẩn bị lực lượng khi đất nước bước vào thế kỷ XXI.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã ghi nhận một sự chuyển biến đáng kể trong quan điểm của Đảng khi xác định phương hướng phát triển đội ngũ doanh nhân. Tại Đại hội này, một mặt, Đảng quan tâm hơn nữa tới việc phát triển lực lượng doanh nhân, mặt khác, Đảng còn nhấn mạnh tới việc phải phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng những doanh nhân tài năng của đất nước. Khi bàn về việc phát triển lực lượng doanh nhân, Đảng nêu rõ: “Đối với các nhà doanh nghiệp tư nhân, thực thi chính sách bảo hộ sở hữu tài sản và vốn, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh”[36]. Đây thực sự là những chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của đội ngũ doanh nhân trong tương lai. Hơn thế nữa, Đảng còn nhấn mạnh tới việc: “Phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, chú trọng các lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội và quản trị kinh doanh”[37]. Với quan điểm này, Đảng ta muốn định hướng để xây dựng và phát triển một lực lượng ưu tú (bao gồm nhân tài khoa học, nhân tài chính trị và nhân tài kinh doanh), dẫn đường cho công cuộc phát triển đất nước trong tương lai.
Đại hội Đảng lần thứ IX không ghi nhận nhiều những bước chuyển trong quan điểm của Đảng nói chung, cũng như quan điểm về phương hướng phát triển đội ngũ doanh nhân nói riêng. Đại hội này chỉ là sự kế thừa những chuyển biến đã đạt được từ Đại hội VII và Đại hội VIII, thậm chí sự kế thừa đó cũng không được trọn vẹn. Quan điểm phát triển đội ngũ doanh nhân vẫn nằm trong quan điểm chung về phát triển giáo dục, đào tạo. Đồng thời, Đảng tiếp tục khẳng định việc khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ doanh nhân có nhiều cơ hội phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục ghi nhận những chuyển biến mang tính đột phá trong quan điểm của Đảng về phương hướng phát triển đội ngũ doanh nhân. Thứ nhất, Đảng khẳng định, các doanh nhân được phép phát triển kinh doanh “không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”[38]. Thứ hai, Đảng không chỉ khuyến khích phát triển đội ngũ doanh nhân hoạt động đầu tư trong nước mà còn khuyến khích phát triển lực lượng này “mở rộng đầu tư… ở nước ngoài”[39]. Thứ ba, khi lần đầu tiên đưa ra “Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp”[40], Đảng ta tiếp tục nêu bật tầm quan trọng của việc “bồi dưỡng, đào tạo, tôn vinh các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt” nhằm lựa chọn và chuẩn bị lực lượng ưu tú cho quá trình thực hiện chiến lược phát triển doanh nghiệp đã đề ra.
Như vậy, việc phát triển đội ngũ doanh nhân do Đảng đề ra đã hướng tới sự tinh lọc và gắn với những nhiệm vụ chiến lược cụ thể của quốc gia. Đồng thời Đảng đã thực sự có quan điểm cởi mở để hướng việc phát triển đội ngũ doanh nhân không hạn chế về không gian (khuyến khích phát triển cả ở trong nước và nước ngoài), ít giới hạn về quy mô và lĩnh vực đầu tư. Điều này giúp “cởi trói” cho những vướng mắc mà đội ngũ doanh nhân thường gặp phải trong thực tiễn hoạt động và phát triển của họ.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta đã xác định phương hướng “xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh”[41] cùng với việc “xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh”[42]. Việc coi phát triển doanh nhân với tư cách là một đội ngũ, một lực lượng xã hội quan trọng (như tầm quan trọng của đội ngũ trí thức) thể hiện tư duy không định kiến của Đảng. Đây là một cách nhìn hoàn toàn cởi mở và hướng tới việc phát triển đội ngũ doanh nhân một cách toàn diện - phát triển cả về số lượng và chất lượng. Điều này thể hiện rõ khi Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển doanh nhân về số lượng và năng lực quản lý, đề cao đạo đức và trách nhiệm xã hội”[43]; “Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cao”[44].
Như vậy, tính đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng trong quan điểm về phát triển đội ngũ doanh nhân. Những chuyển biến này bắt nguồn từ những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong thời đại ngày nay, nhiều nền kinh tế ở các mức độ khác nhau, có điểm xuất phát khác nhau cũng đã và đang áp dụng mô hình kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường đang được coi là công cụ phổ biến, cách thức để phát triển kinh tế. Trong mô hình kinh tế thị trường hiện đại, doanh nghiệp được coi là nền tảng, là sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trường và tự nó lớn lên trong cơ chế thị trường. Bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừa nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp này. Điều này cũng có nghĩa là, trong bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừa nhận và khuyến khích phát triển đội ngũ doanh nhân. Bởi đội ngũ doanh nhân có vai trò quyết định đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Doanh nhân là người lãnh đạo, trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đội ngũ doanh nhân là sản phẩm tất yếu, song hành với doanh nghiệp trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Vì vậy, cùng với quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc Đảng ta có những chuyển biến quan trọng trong phát triển đội ngũ doanh nhân là tất yếu, phù hợp với yêu cầu khách quan của thực tiễn. Những chuyển biến này định hướng cho việc phát triển toàn diện đội ngũ doanh nhân cả về số lượng và chất lượng, cả về không gian hoạt động và lĩnh vực đầu tư. Đồng thời, những chuyển biến này giúp giải quyết nhiều vấn đề được xem là rào cản cho sự vươn lên của đội ngũ doanh nhân để đội ngũ này hình thành được những đặc điểm riêng có, thích ứng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội của nghĩa ở Việt Nam./.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.67
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.61
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.61
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.61
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.71
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.236
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.370
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.507
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.573
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.670
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.732
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.84
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.119
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.49.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.111
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.217.
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.242
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.242.
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.101
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.62.
[21] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.71
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.61.
[23] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.370
[24] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.337.
[25] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.507
[26] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.573
[27] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.670
[28] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd,tr.732.
[29] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.119
[30] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.84
[31] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.133
[32] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.49, 242
[33] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.71
[34] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.61,62
[35] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.370
[36] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.507
[37] Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Sđd, tr.573
[38] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.87
[39] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.119
[40] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.84
[41] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 242
[42] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.241
[43] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.111
[44] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.242
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Nhân rộng đội ngũ bí thư chi bộ tích cực, tiêu biểu  (11/04/2012)
Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI  (11/04/2012)
Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI  (11/04/2012)
Triển khai công tác phối hợp giai đoạn 2012-2014 giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  (11/04/2012)
Tổng Bí thư thăm, nói chuyện với Trường Đảng Cuba  (10/04/2012)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm