Mô hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa: Giải pháp tối ưu cho phát triển kinh tế di sản địa phương
Giới thiệu
Di sản được nhìn nhận dưới nhiều lĩnh vực khác nhau như du lịch di sản, các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo, lĩnh vực xây dựng, phát triển bất động sản và tái thiết đô thị. Các nghiên cứu về di sản cho thấy rằng di sản đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực này và các lĩnh vực này có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp quan trọng đến phát triển kinh tế xã hội. Trong đó, di sản văn hóa là động lực thiết yếu cho phát triển kinh tế. Khả năng tạo ra thu nhập từ các tài sản di sản văn hóa, khả năng tạo ra việc làm, giảm nghèo, kích thích phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư tư nhân và tạo ra nguồn lực cho bảo tồn môi trường và văn hóa. Các tác động kinh tế chính có thể đo lường được của di sản bao gồm: du lịch di sản; các ngành công nghiệp văn hóa; việc làm và thu nhập hộ gia đình; ươm tạo doanh nghiệp nhỏ; phục hồi trung tâm thành phố và các giá trị tài sản khác. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, do thiếu dữ liệu nên tác động kinh tế của lĩnh vực di sản đã bị đánh giá thấp.
Di sản, với sự tồn tại đa dạng của nó, là minh chứng cho di sản trường tồn của các nền văn hóa, nền văn minh và cộng đồng. Đó là hiện thân của ký ức tập thể của con người, câu chuyện về quá khứ chung và là nền tảng để con người xây dựng tương lai. Giá trị của di sản vượt ra ngoài tính thẩm mỹ đơn thuần hay sự tò mò về lịch sử; đó là kho dự trữ tiềm năng kinh tế, chất xúc tác cho sự phát triển cộng đồng và là nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Khi con người đi sâu vào mối quan hệ phức tạp giữa di sản và kinh tế, chúng ta khám phá ra một động lực cộng sinh trong đó bảo tồn thúc đẩy sự thịnh vượng và các động lực kinh tế thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn. Từ năm 1993, sách trắng của Châu Âu về Tăng trưởng, Năng lực cạnh tranh và Việc làm đã trích dẫn tất cả các khía cạnh của di sản và nhiều báo cáo sau đó của Liên minh Châu Âu đã nhấn mạnh những đóng góp tích cực của di sản.
Kinh tế di sản là một chuyên ngành khoa học, dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế để làm rõ tầm quan trọng của di sản trong nền kinh tế; các cơ chế và nguyên tắc để bảo vệ và phát huy tối đa lợi ích của di sản (Dũng và cộng sự). Kinh tế di sản có thể xem là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt. Nó không chỉ dựa vào các giá trị của di sản văn hóa và lịch sử mà còn dựa trên các tiêu chí vô hình khác như cảm xúc, nhận thức hay lòng tự hào của du khách cũng như của người dân bản địa để hướng tới một nền kinh tế bền vững. Kinh tế di sản cũng có thể hiểu như một hình thái phát triển dựa trên nền tảng các giá trị sẵn có như các nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người.
1. Phát triển kinh tế di sản
Những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong những năm gần đây trong việc hiểu kinh tế học về di sản văn hóa. Thật vậy, kinh tế học di sản đã nổi lên như một lĩnh vực chuyên môn có thể nhận dạng được trong lĩnh vực rộng hơn của kinh tế học văn hóa.
Theo cách tiếp cận truyền thống, di sản được coi là tài sản không thể tái tạo và tài sản sẽ bị phá hủy nếu không có một số biện pháp ngăn ngừa. Theo đó, nền kinh tế trong bối cảnh này là nền kinh tế cho thuê được thúc đẩy bởi các hành vi tìm kiếm tiền thuê. Chủ sở hữu các nguồn tài nguyên di sản, khu vực công hoặc tư nhân, được hưởng lợi từ một số tiền thuê do du khách trả nhưng khoản thu nhập này xuất hiện như là hậu quả của một thế lực độc quyền chứ không phải là đối ứng của một dịch vụ sản xuất, rằng con người đang ở trong một nền kinh tế tìm kiếm tiền thuê không được tổ chức để tạo ra các dịch vụ mới và thu nhập sản xuất mới.
Tuy nhiên, những thập niên gần đây những quan điểm đó đã được thay đổi. Di sản được coi là kho tài sản lớn có thể tạo ra các loại dịch vụ mới cho cư dân của lãnh thổ địa phương cũng như cho những người từ bên ngoài. Di sản bao gồm nhiều hình thức vốn văn hóa khác nhau “thể hiện giá trị của cộng đồng về mặt xã hội, lịch sử hoặc văn hóa”. Nền kinh tế di sản không còn là nền kinh tế cho thuê mà là nền kinh tế sản xuất. Theo quan điểm này, những vấn đề chính cần giải quyết sẽ là xác định, đánh giá, sản xuất và cung cấp các dịch vụ kinh tế mới. Điều này cũng gây ra các xung đột trong kinh tế học di sản với một số khía cạnh xã hội khác và con người sẽ thấy rằng có sự đối lập giữa “tính hợp lý kinh tế” và “tính hợp lý văn hóa”. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản phải dựa trên mối tương quan giữa chi phí và lợi ích hợp lý mà di sản có thể mang lại cho nền kinh tế trong dài hạn. Đây chính là bản chất của kinh tế di sản.
Theo quan điểm kinh tế, tài sản di sản văn hóa - lịch sử có nhiều mặt. Chúng có thể là (1) Nam châm du lịch: các địa điểm như Đấu trường La Mã hoặc Kim tự tháp Giza thu hút hàng triệu du khách mỗi năm, tạo ra doanh thu và cơ hội việc làm đáng kể. (2) Chất xúc tác cho sự tái sinh: Việc phục hồi Bến tàu Liverpool ở Vương quốc Anh cho thấy di sản có thể thúc đẩy đổi mới đô thị, thu hút đầu tư và nâng cao giá trị bất động sản như thế nào. (3) Tài nguyên giáo dục: Các di sản cung cấp những liên kết hữu hình với quá khứ, mang đến những trải nghiệm học tập độc đáo mà không sách giáo khoa nào có thể sánh kịp. (4) Nguồn gốc của nghề thủ công và kỹ năng truyền thống: Việc phục hồi các tòa nhà lịch sử hay bảo tồn các ngành nghề truyền thống thường đòi hỏi các kỹ năng chuyên môn và nỗ lực quản trị. Hãy xem xét trường hợp của Alhambra ở Tây Ban Nha, một pháo đài nguy nga không chỉ là minh chứng cho kiến trúc Moorish mà còn đóng góp vào nền kinh tế địa phương thông qua các nỗ lực du lịch và bảo tồn. Tương tự như vậy, trung tâm lịch sử của Florence, Ý, thể hiện ảnh hưởng của thời kỳ Phục hưng đối với nghệ thuật và kiến trúc trong khi vẫn tiếp tục truyền cảm hứng và giáo dục các nghệ sĩ, nhà sử học và du khách.
Phát triển kinh tế di sản chính là sự kết hợp của tất cả các hoạt động (1) Du lịch bền vững: Phát triển các chiến lược du lịch nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường và thúc đẩy văn hóa địa phương. Ví dụ, thành phố Bath, Anh, đã quản lý thành công vị thế là Di sản Thế giới của UNESCO trong khi vẫn phát triển mạnh mẽ như một thành phố hiện đại. (2) Sự tham gia của cộng đồng: Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào việc bảo tồn di sản, có thể dẫn đến trao quyền kinh tế và niềm tự hào về văn hóa. Việc phục hồi Suối Cheonggyecheon ở Seoul là một ví dụ điển hình về cách đổi mới đô thị có thể bắt nguồn từ di sản trong khi vẫn phục vụ nhu cầu đương đại. (3) Tài chính sáng tạo: Khám phá các mô hình tài trợ thay thế như quỹ tín thác di sản hoặc gây quỹ cộng đồng để hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn. Chương trình Adopt a Monument ở Phần Lan cho phép các cá nhân và tổ chức chịu trách nhiệm chăm sóc các địa điểm và tòa nhà khảo cổ. (4) Phát triển chính sách: Chính phủ phải tạo ra các chính sách khuyến khích bảo tồn các địa điểm di sản. Miễn thuế, trợ cấp và các ưu đãi tài chính khác có thể giúp chủ sở hữu tư nhân duy trì các tài sản văn hóa - lịch sử khả thi hơn. (5) Giáo dục và nâng cao nhận thức: Nâng cao nhận thức của công chúng về giá trị của di sản có thể dẫn đến sự hỗ trợ lớn hơn cho các nỗ lực bảo tồn. Các chương trình giáo dục nêu bật lợi ích kinh tế của việc bảo tồn di sản có thể thay đổi nhận thức và chính sách của công chúng. (6) Tích hợp công nghệ: sử dụng công nghệ để nâng cao trải nghiệm của du khách và quản lý các di sản hiệu quả hơn. Ví dụ, các chuyến tham quan thực tế ảo có thể giúp di sản tiếp cận được với nhiều đối tượng hơn mà không gây áp lực vật lý lên các di sản.
2. Mô hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa
Di sản văn hóa là một khái niệm phức tạp và khó nắm bắt, không ngừng phát triển theo thời gian và kết hợp các giá trị văn hóa, thẩm mỹ, biểu tượng, tinh thần, lịch sử và kinh tế (Rizzo & Mignosa, 2015). Di sản văn hóa của một xã hội cũng là nguồn của cải cho sự phát triển kinh tế. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), di sản văn hóa là thứ do con người hoặc thiên nhiên tạo ra và có giá trị đặc biệt đối với nhân loại. Di sản văn hóa có thể hữu hình, ví dụ như dưới dạng các tác phẩm nghệ thuật, hiện vật, tòa nhà, địa điểm hoặc địa điểm có ý nghĩa văn hóa, hoặc vô hình, tồn tại dưới các hình thức phi vật chất như truyền thống, nghi lễ hoặc phong tục được thừa hưởng. Dù theo cách nào, di sản cũng có thể được coi là một dạng tài sản thuộc về một cá nhân, một cộng đồng, một khu vực, một quốc gia hoặc toàn thể nhân loại.
Di sản văn hóa (DSVH) mô tả một tập hợp các tài sản cực kỳ năng động và liên tục mở rộng được đặc trưng bởi tính thẩm mỹ mạnh mẽ và biểu cảm. Nó thể hiện các giá trị không thể lặp lại và không thể tái tạo (tức là độc nhất) của xã hội mà nó xuất phát; vì lý do này, di sản văn hóa sở hữu giá trị kinh tế quan trọng, bên cạnh giá trị lịch sử, nghệ thuật và văn hóa, cho phép nó tạo thành nguồn thu nhập quan trọng của địa phương và quốc gia. Di sản được tạo ra thông qua các hoạt động siêu văn hóa mở rộng các giá trị và phương pháp bảo tàng học (thu thập, ghi chép, bảo tồn, trình bày, đánh giá và diễn giải) cho những người đang sống, kiến thức, thực hành, hiện vật, thế giới xã hội và không gian sống của họ. Di sản nói chung là những vật có giá trị cần được duy trì và truyền lại cho các thế hệ sau.
Du lịch di sản văn hóa (DLDSVH) là một trong những mô hình kinh tế du lịch bền vững. Đã có rất nhiều các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của các học giả đã chứng minh du lịch di sản văn hóa là kiểu hình kinh tế cho các giải pháp tối ưu phát triển kinh tế các địa phương cũng như các vùng miền, quốc gia. Du lịch di sản văn hóa là một kiểu hình du lịch cho những trải nghiệm và kiến thức thực tế về tất cả những gì thuộc về quá khứ có liên quan đến sự sống của con người hay các hoạt động vật chất và tinh thần của con người. Nó là sự kết nối những ý niệm ở thực tại với những gì đã diễn ra trong quá khứ tạo nên những cảm xúc trân trọng, tự hào và biết ơn về các giá trị của quá khứ đã đi qua.
Mô hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa đề xuất gồm chín thành phần sau đây: (1) Đề xuất giá trị, (2) Hoạt động chính, (3) Nguồn lực chính, (4) Đối tác mục tiêu, (5) Các kênh phân phối, (6) Phân khúc khách hàng, (7) Mối quan hệ khách hàng, (8) Cấu trúc chi phí và (9) dòng doanh thu. Trong đó:
(1) Đề xuất giá trị thể hiện gói sản phẩm và dịch vụ DLDSVH tạo ra giá trị cho Phân khúc khách hàng cụ thể là khách du lịch đi đến các điểm di sản văn hóa (DSVH). Đây là sản phẩm hoặc dịch vụ DLDSVH, các tính năng và lợi ích hoặc tính độc đáo của nó so với cạnh tranh, quy mô của cơ hội thị trường; Đề xuất giá trị có thể là định lượng (như giá cả, chất lượng dịch vụ DLDSVH) hoặc định tính (thiết kế nhu cầu hoặc trải nghiệm của khách du lịch đi đến các điểm DSVH).
(2) Các hoạt động chính là những hành động mà doanh nghiệp kinh doanh du lịch thực hiện để đạt được đề xuất giá trị cho khách hàng và rõ ràng, các hoạt động này có thể được xác định là những nhiệm vụ mà công ty phải thực hiện để thành công.
(3) Nguồn lực chính là yếu tố thiết yếu của doanh nghiệp. Nó có thể là hệ thống nhân sự trong doanh nghiệp, đội ngũ các hướng dẫn viên du lịch, hay hệ thống các phương tiện chuyên chở khách du lịch… Nguồn lực chính có thể là hữu hình, có thể vô hình như thương hiệu, danh tiếng…
(4) Đối tác mục tiêu là danh sách các công ty, nhà cung cấp, các tổ chức bên ngoài khác mà doanh nghiệp có thể cần để đạt được các hoạt động chính của mình và mang lại giá trị cho khách hàng.
(5) Kênh phân phối có thể thực hiện ba chức năng khác nhau là chức năng giao tiếp, chức năng phân phối và cả chức năng bán hàng. Ví dụ về các kênh mà doanh nghiệp kinh doanh du lịch có thể sử dụng là: truyền thông xã hội, nói trước công chúng, tiếp thị qua email, SEM (tiếp thị công cụ tìm kiếm), SEO (tối ưu hóa công cụ tìm kiếm), viết blog, nền tảng công nghệ, PR, quảng cáo xã hội, tiếp thị nội dung.
(6) Phân khúc khách hàng xác định các nhóm người hoặc tổ chức khác nhau mà một doanh nghiệp kinh doanh du lịch hướng tới và phục vụ. Phân khúc khách hàng của du lịch di sản văn hóa là những khách du lịch có sự tương tác đặc biệt tới văn hóa, lối sống/ di sản văn hóa của một quốc gia/ khu vực.
(7) Mối quan hệ khách hàng là về cách mà doanh nghiệp kinh doanh du lịch di sản văn hóa sẽ tạo ra nhu cầu hoặc hơn thế nữa là về mối quan hệ mà doanh nghiệp có với khách hàng của mình. Cũng có thể nói, mối quan hệ khách hàng là cách một doanh nghiệp tương tác với khách hàng của mình.
(8) Cấu trúc chi phí chính là chi phí tiền tệ của hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp kinh doanh du lịch trước khi kinh doanh, cần xác định được chi phí cho các nguồn lực chính, chi phí để đạt được đề xuất giá trị cho khách hàng.
(9) Dòng doanh thu được định nghĩa là cách doanh nghiệp kinh doanh du lịch di sản văn hóa chuyển đổi “Đề xuất giá trị” hoặc giải pháp cho vấn đề của khách du lịch thành lợi ích tài chính. Doanh thu có thể hiểu là các lợi ích hữu hình và vô hình mà một tổ chức/ doanh nghiệp có thể thu vào như doanh thu bán hàng, thị phần của sản phẩm, sự phổ biến của sản phẩm trên thị trường hay các lợi ích vô hình khác như sự hội nhập văn hóa của doanh nghiệp, vai trò của sản phẩm/ doanh nghiệp trên các kênh truyền thông, mạng xã hội,…
Hình 1: Mô hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa
Nguồn: Huyền (2023)
Mô hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa là mô hình phát triển kinh tế bền vững, có sự kết hợp của 6 hoạt động chính cơ bản của kinh tế di sản là du lịch bền vững, sự tham gia của cộng đồng, tài chính sáng tạo, phát triển chính sách, giáo dục và nâng cao nhận thức và tích hợp công nghệ. Theo đó, mô hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa hoàn toàn là một mô hình tối ưu để đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế di sản địa phương.
3. Giải pháp tối ưu cho phát triển kinh tế di sản địa phương
Trong một giai đoạn dài, kiến thức kinh tế đã bỏ qua khái niệm “di sản” và những kết quả kinh tế của nó. Các nhà kinh tế luôn trích dẫn các hoạt động văn hóa như một nguyên mẫu của hàng hóa phi kinh tế rằng nó không thể tái tạo và không thể thay thế. Văn hóa nằm ngoài lĩnh vực kinh tế và điều này có thể được coi là một lợi thế. Cách tiếp cận này là sai vì con người sẽ thường xuyên tìm ra những tình huống mà việc phá hủy di sản sẽ được coi là tối ưu hơn là việc bảo tồn di sản. Do đó, chúng ta phải tích hợp các hoạt động như bảo vệ di sản vào cuộc tranh luận kinh tế. Rõ ràng, con đường phía trước cho nền kinh tế di sản là một cách tiếp cận đa diện đòi hỏi sự hợp tác giữa các nhà kinh tế, nhà bảo tồn, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng. Đó là việc tạo ra một mô hình bền vững tôn trọng quá khứ trong khi vẫn hướng tới tương lai. Bằng cách đó, chúng ta có thể đảm bảo rằng di sản của mình vẫn là một phần sống động của thế giới, góp phần vào sự thịnh vượng và làm phong phú thêm cuộc sống của chúng ta cho các thế hệ mai sau.
Các nhà bảo tồn nhấn mạnh giá trị nội tại của di sản, ủng hộ việc bảo tồn di sản như một mệnh lệnh đạo đức. Họ đã chỉ ra những ví dụ như việc phục hồi Lâu đài Neuschwanstein ở Đức, không chỉ bảo tồn một di tích lịch sử mà còn thúc đẩy nền kinh tế địa phương thông qua việc tăng cường du lịch. Trong khi đó, các nhà quy hoạch đô thị coi di sản là nền tảng trong quá trình phát triển thành phố, nơi các khu vực lịch sử trở thành trung tâm hoạt động, thúc đẩy ý thức về bản sắc và tính liên tục. Họ nhấn mạnh vai trò của di sản trong việc tạo dựng địa điểm, tạo ra những không gian cộng hưởng với mọi người và thu hút hoạt động kinh tế thông qua sự tham gia của địa phương và quốc tế.
Hiện nay, kinh doanh du lịch di sản văn hóa là loại hình kinh tế di sản góp phần vào việc thúc đẩy các chiến lược xuất khẩu của địa phương, vùng hay quốc gia. Nó là cơ sở cho việc quảng bá, truyền thông các tài nguyên di sản văn hóa quốc gia cũng như hình ảnh hay thương hiệu của quốc gia ra thế giới bên ngoài. Bên cạnh đó, kinh doanh du lịch di sản văn hóa góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác như ngành kinh doanh giao thông vận tải, quảng cáo, truyền thông, đồ lưu niệm… Qua đó, góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP địa phương, vùng hay quốc gia và toàn cầu. Ngoài ra, kinh doanh du lịch di sản văn hóa góp phần vào việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế vùng hay địa phương, qua đó, góp phần ổn định trật tự, an toàn, an ninh và an sinh xã hội./.
-----------------------
(1) Ilde Rizzo, Anna Mignosa (ed). (2015). Handbook on the Economics of Cultural Heritage. Rotterdam, the Netherlands: Edward Elgar.
(2) Bui Dai Dung, Nguyen Thi Vinh Ha, Nguyen Thi Hoa Hanh. (2020). Heritage economics and heritage benefit optimazation . International Journal of Economics, Business and Management Research, Vol. 4, No. 04, 180-198.
(3) Greffe, X. (2024, 9 20). The economic value of Heritage. Retrieved from http://www.planningstudies.org/: http://www.planningstudies.org/pdf/Raphael%20Greffe-%20E%20%28formatted%29.pdf
(4) Hutter, M. and Throsby, D. (2007). Beyond Price: Value in Culture, Economics and the Arts. New York : Cambridge University Press:
(5) Huyền, L. T. (2020). Assessment of Cultural Heritage Tourism Potential in Vietnam. Business and Management Horizons , Vol.8, No.1, 44-69
(6) Huyền, L. T. (2023). Kinh doanh du lịch di sản văn hóa: Cơ sở khoa học và chiến lược phát triển cho Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh Niên.
(7) Kirshenblatt-Gimblett, B. (2006). World Heritage and Cultural Economics. In C. A.-F. Ivan Karp, Museum Frictions: Public Cultures/Global Transformations (pp. 161-202. https://doi.org/10.1515/9780822388296-011). New York, USA: Duke University Press.
(8) Peacock, A. & Rizzo, I. (1994). Cultural Economics and Cultural Policies. Dordrecht: Kluwer Academic Publishers.
(9) Peacock, A. (1995). A future for the past: the political economy of heritage. Proceedings of the British Academy, 87, 187-243.
(10) Rizzo, I. and Throsby, D. (2006). Cultural heritage: economic analysis and public policy of Art and Culture. In a. D. V. Ginsburgh, Handbook of the Economics (p. Ch. 28). Amsterdam: Elsevier.
(11) Throsby, D. (2007). Regional aspects of heritage economics: analytical and policy issues. Australasian Journal of Regional Studies, Vol. 13, No. 1, 21-30.
(12) Tüzin Baycan, Luigi Fusco Girard. (2011). Heritage in socio-economic development: direct and indirect impacts. Heritage, driver of development (pp. 857-860). Paris: ICOMOS.
(13) Vincenzo Pacelli & Edgardo Sica. (2021). The Economics and Finance of Cultural Heritage. New York: Routledge.
Nhận thức về kinh tế di sản và thực trạng ở Việt Nam  (05/12/2024)
Cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa phục dựng, bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội  (05/12/2024)
- Chính sách ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan và một số gợi mở đối với Việt Nam
- Hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới
- Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Trung Quốc thời kỳ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình
- Nghiên cứu cơ bản và sứ mệnh phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chất lượng cao
- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực báo chí, góp phần phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên số
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm