Quá trình đô thị hóa và vấn đề bảo đảm lợi ích kinh tế của nông dân ở Vĩnh Phúc hiện nay

Lê Viết Tùng Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng
21:30, ngày 27-02-2014

TCCSĐT - Đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, trong đó có tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: việc làm cho nông dân bị mất đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường…

Đô thị hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc 

Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, với diện tích tự nhiên khoảng 1.231,8 km2, dân số hơn 1 triệu người. Tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, thuộc vùng lan tỏa của tam giác kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Với vị trí thuận lợi, Vĩnh Phúc có điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh và cả nước, thu hút đầu tư, tiếp nhận các thông tin và công nghệ tiên tiến để hình thành các khu công nghiệp và đô thị lớn, có tiềm năng lớn và nhiều lợi thế để tham gia vào quá trình liên kết, hợp tác và phát triển với các địa phương trong nước và quốc tế. Với những lợi thế sẵn có, Vĩnh Phúc đã thu hút được rất nhiều các dự án đầu tư lớn cả về quy mô lẫn giá trị. 

Với phương châm lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng phát triển kinh tế - xã hội, đến nay, Vĩnh Phúc đã hình thành hệ thống 20 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào danh mục các khu công nghiệp của cả nước ưu tiên phát triển đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, với quy mô gần 6.000 ha, trong đó có 7 khu đã được thành lập và cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng diện tích quy hoạch là 1.852,1 ha. Các khu công nghiệp phát triển nhiều đồng nghĩa với quá trình đô thị hóa của tỉnh diễn ra với tốc độ cao. 

Quá trình đô thị hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc chẳng những làm cho bộ mặt và cuộc sống đô thị thay đổi khá hơn trước mà còn tác động tích cực đến sự đổi mới bộ mặt và cuộc sống nông thôn. Theo Báo cáo 15 năm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc (giai đoạn 1997 - 2012): GDP bình quân đầu người (theo giá thực tế) liên tục tăng, nếu năm 1997 mới chỉ đạt 2,13 triệu đồng/người (tương đương khoảng 180 USD/người), đến năm 2011 đạt 42,9 triệu đồng/người (tương đương khoảng 2.045 USD/người). Từ năm 2011 đến nay, do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, song nhìn chung, tốc độ tăng trưởng luôn đạt mức cao trong số các tỉnh đồng bằng sông Hồng và Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tăng gấp 2 lần so với trung bình của cả nước. Thu ngân sách tăng nhanh, đến năm 2004 tỉnh đã tự cân đối được ngân sách và là một trong 13 tỉnh có số thu cao nhất cả nước, năm 2011 tổng thu ngân sách tỉnh đạt 16.714,7 tỷ đồng. Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân giai đoạn 1998 - 2011 đạt 47,2%/năm, trong đó thu nội địa đạt 11.366,5 tỷ đồng, gấp hơn 100 lần so với năm 1997. Chi ngân sách hằng năm bảo đảm kịp thời nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tổng chi ngân sách địa phương năm 2011 đạt 11.871,7 tỷ đồng, tăng trên 24,5 lần so với năm 1997, trong đó tỷ trọng chi đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi, năm 2011 đạt trên 45%. Nhìn chung đời sống của người nông dân trong tỉnh đang từng bước được cải thiện. Năm 2011, số lao động được giải quyết việc làm mới đạt trên 21.000 người; năm 2012, phấn đấu giải quyết việc làm cho gần 24.000 lao động, trong đó xuất khẩu lao động là 2.000 người; sáu tháng đầu năm 2013, tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 10.000 lao động, đạt 48,5% so với kế hoạch.

Do tác động của quá trình đô thị hóa, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng dần lao động ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm dần lao động nông nghiệp, đã làm cho dân số đô thị của Vĩnh Phúc tăng mạnh. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, trong vòng 10 năm qua, tỉnh đã thu hồi trên 4.000 ha đất nông nghiệp để bàn giao cho 650 dự án xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị và kết cấu hạ tầng, như khu công nghiệp Khai Quang (Vĩnh Yên), khu đô thị thị xã Phúc Yên, khu công nghiệp Bá Hiến, Bá Thiện (huyện Bình Xuyên) và các khu đô thị thuộc các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo… Từ một tỉnh thuần nông, Vĩnh Phúc đã vươn lên là một tỉnh công nghiệp gia nhập “Câu lạc bộ nghìn tỷ”. Song song với phát triển kinh tế - xã hội, Tỉnh ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh đã có nhiều chủ trương nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của nông dân do bị thu hồi đất bởi quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, như:

- Có chính sách đền bù thỏa đáng đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất phục vụ cho các dự án xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị. Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu đất dịch vụ, bảo đảm cho nông dân yên tâm định cư nơi ở mới.

- Cho vay vốn để sản xuất, kinh doanh từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội, giải quyết việc làm. Đồng thời cho vay ưu đãi theo hướng cấp bù lãi suất để bảo đảm nguồn cho vay chuyển đổi ngành nghề, tạo việc làm cho đối tượng chịu tác động của quá trình đô thị hóa.

- Miễn thuế, giảm thuế sản xuất, kinh doanh đối với những hộ nông dân bị thu hồi đất cho xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp phải chuyển qua sản xuất, kinh doanh ở những ngành nghề khác. 

- Tăng đầu tư ngân sách và mở rộng hoạt động dạy nghề, đặc biệt tăng chỉ tiêu dạy nghề dài hạn bằng ngân sách để từng bước tăng nhanh đội ngũ công nhân lành nghề. Tổ chức các lớp học nghề miễn phí, chú trọng đến những đối tượng bị buộc phải chuyển đổi ngành nghề. 

- Đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, tăng cường chuyển giao kỹ thuật, mở các lớp huấn luyện kỹ thuật, bồi dưỡng và bổ túc nghề cho nông dân nơi giáp ranh đô thị. Khuyến khích lao động đi tìm việc làm ở các địa phương Bắc - Trung - Nam và ở nước ngoài.

- Quy định các doanh nghiệp được giao đất tại các khu công nghiệp trên địa bàn, phải có trách nhiệm tiếp nhận người lao động trong diện chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa vào làm việc tại doanh nghiệp...

Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc cũng phát sinh những khó khăn, bất cập như: Quy định giá cả đền bù đất đai để thực hiện các dự án chưa hợp lý, gây nên tình trạng khiếu kiện của người dân kéo dài; nguy cơ ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước ở các khu công nghiệp, các khu đô thị và vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm ở khu vực nông thôn đang bị đe dọa; số lao động nông nghiệp bị mất việc làm và thiếu việc làm tăng mạnh, một bộ phận lớn lao động phải chuyển sang nghề khác đòi hỏi phải được đào tạo. Đời sống nông dân tuy được cải thiện nhưng còn nhiều khó khăn. Khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa nông dân và các nhóm dân cư khác có chiều hướng gia tăng. Quá trình đô thị hóa còn diễn ra tự phát ở một số khu vực giáp ranh, nên thiếu tính quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu, môi trường ô nhiễm... 

Bảo đảm lợi ích kinh tế của người nông dân - yếu tố quan trọng giải quyết những bất cập 

Để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực do quá trình đô thị hóa đem lại, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn. Vì trên thực tế thu nhập của phần lớn nông dân trong tỉnh vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp và ngành công nghiệp liên quan đến nông nghiệp và đây cũng là giải pháp nhất quán với quan điểm phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp của tỉnh. Bởi vậy, tăng cường đầu tư ngân sách cho nông nghiệp là việc cần được thực hiện ngay.

Hai là, các cấp chính quyền cần có chính sách hỗ trợ người nông dân. Trước mắt, cần hỗ trợ tạm thời để bảo đảm ổn định đời sống tối thiểu của người nông dân ở những vùng có diện tích đất đai thu hồi lớn phục vụ cho quá trình đô thị hóa. Tích cực hỗ trợ đào tạo nghề mới, tìm kiếm việc làm ổn định và lâu dài cho người nông dân, đặc biệt là ở những vùng có quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh. Phát triển đa dạng các loại hình nghề nghiệp trên địa bàn các khu vực nông thôn thông qua các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn, có kế hoạch giúp đỡ những người đã được đào tạo nghề có thể tự mình phát triển nghề nghiệp, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống. Tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các tổ chức hội, đoàn thể và chính quyền các cấp với các cơ sở đào tạo nghề trong và ngoài tỉnh, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu lao động để giảm tải áp lực thiếu việc làm ở khu vực nông thôn.

Ba là, hỗ trợ và tạo điều kiện cho người nông dân tiếp cận và cập nhật đầy đủ thông tin về thị trường trong nước và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của những hàng hóa nông sản mà địa phương có lợi thế. Tích cực ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất để nâng cao năng suất và hiệu quả lao động sản xuất. Mặt khác, vốn là một yêu cầu cấp bách, một điều kiện để người nông dân đầu tư phát triển sản xuất và kinh doanh, tạo việc làm mới. Vì vậy, hỗ trợ nông dân vay tín dụng để có đủ vốn là vấn đề cần sớm được thực hiện. Trong đó, cần đa dạng hóa các hình thức cho vay và đơn giản hóa các thủ tục cho người nông dân vay vốn. Đối với người nông dân, ngoài những ưu đãi về chính sách cho vay vốn, việc hướng dẫn họ làm sao để sử dụng được nguồn vốn hiệu quả cũng là vấn đề rất quan trọng. Thực tế ở nhiều nơi cho thấy, nhiều nông dân khi nhận tiền đền bù đất nông nghiệp bị thu hồi đã không biết sử dụng hiệu quả nguồn tiền đó. Ngoài ra, các khoản đóng góp của người nông dân hiện nay cần được giảm bớt, tạo điều kiện cho họ đầu tư từ khoản thuế sử dụng đất nông nghiệp được giảm trừ. 

Bốn là, phát huy tính chủ động và sáng tạo của người nông dân. Vai trò chủ thể sáng tạo của người nông dân thể hiện ở chỗ, họ phải được tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định các cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn; vào quá trình quy hoạch đô thị và khu công nghiệp cũng như trong chương trình đền bù, giải tỏa đất nông nghiệp cũng như trong hoạt động của chính quyền, các đoàn thể, tổ chức xã hội liên quan đến lợi ích của người nông dân.

Năm là, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng phải tiếp tục được đẩy mạnh, khuyến khích thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; sử dụng các đòn bẩy kinh tế đối với người nông dân; tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nhất là xây dựng nông thôn mới. Các chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; chính sách tái định cư; chính sách quy hoạch, quản lý bảo đảm quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp... phải hướng vào bảo đảm lợi ích kinh tế của người nông dân, tương xứng với sự đóng góp của họ, không để nông dân thua thiệt.

Thực hiện một cách đồng bộ, kịp thời những giải pháp cơ bản này sẽ tạo cơ sở vững chắc để bảo đảm lợi ích kinh tế của người nông dân, giải quyết tốt các vấn đề xã hội ở nông thôn. Quá trình đẩy mạnh đô thị hóa không thể bền vững và thành công nếu không giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề này./.