TCCSĐT - Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, ngày 8-6-2013, các đại biểu Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và nghe Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai trình bày Báo cáo thẩm tra Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; thảo luận tại hội trường về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú.

Cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật thi đua, khen thưởng

Theo Tờ trình của Chính phủ, sau 8 năm thực hiện, công tác thi đua, khen thưởng đã có bước chuyển biến tích cực; nhiều phong trào thi đua được các bộ, ngành, địa phương cũng như các đơn vị cơ sở phát động và triển khai sâu rộng, bám sát nhiệm vụ chính trị. Công tác khen thưởng đã ngày càng đi vào nề nếp, chặt chẽ, kịp thời động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước, góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nhiều nội dung khác của Luật Thi đua, khen thưởng đã và đang đi vào cuộc sống, được các tầng lớp nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tuy nhiên, thời gian quan, công tác thi đua, khen thưởng và một số nội dung của Luật Thi đua, khen thưởng chưa đáp ứng và phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra. Khen thưởng còn có biểu hiện tràn lan. Một số quy định của Luật Thi đua, khen thưởng hiện hành có đối tượng điều chỉnh khá rộng, tiêu chuẩn khen thưởng cho từng đối tượng còn mang tính khái quát, chưa cụ thể hóa...

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban các vấn đề xã hội Quốc hội cũng nêu rõ: Luật Thi đua, khen thưởng hiện hành quy định nhiều hình thức khen thưởng cấp nhà nước dẫn đến sự trùng lắp, chồng chéo, tràn lan trong khâu thực hiện. Việc đề nghị các hình thức khen thưởng cấp nhà nước được thực hiện theo quy trình, thủ tục từ cấp cơ sở, phải qua nhiều cơ quan, cấp bậc xem xét nên rườm rà, khó kiểm soát. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung số điều của Luật Thi đua, khen thưởng là rất cần thiết.

Tán thành sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Cư trú

Đa số ý kiến các đại biểu thảo luận tại hội trường đã tán thành với sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú với những lý do đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ. Tuy nhiên, ý kiến của một số đại biểu còn băn khoăn về phạm vi sửa đổi, bổ sung và cho rằng: các nội dung sửa đổi, bổ sung đã nêu trong dự thảo Luật chưa thực sự bao quát toàn diện các vấn đề trong công tác quản lý cư trú, đồng thời chưa tương xứng với yêu cầu. Cụ thể, đại biểu Ngô Thị Minh (Đoàn Quảng Ninh) đề nghị, Chính phủ cần phân tích rõ hơn những khó khăn trong công tác cư trú cũng như mối quan hệ mật thiết của công tác này đối với công tác phòng chống tội phạm và công tác bảo vệ trẻ em, bảo vệ người chưa thành niên thì mới thấy được sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của Luật Cư trú hiện hành; đồng thời như vậy mới đầy đủ và thuyết phục hơn.

Thảo luận về thời hạn của Sổ tạm trú, nhiều đại biểu cho rằng quy định như dự thảo Luật là chưa thực sự phù hợp. Theo đại biểu Triệu Thị Thu Phương (Đoàn Bắc Kạn) hiện nay trên thực tế có rất nhiều trường hợp, thời hạn tạm trú dài hơn 24 tháng nên khi gần đến thời hạn này, công dân phải tiến hành thủ tục gia hạn. Như vậy, đối với công dân có thời hạn tạm trú trên 24 tháng thì việc bổ sung quy định về thời hạn của Sổ tạm trú đã phát sinh thêm thủ tục hành chính. Mặt khác, dự thảo Luật cũng chưa quy định thủ tục gia hạn cụ thể. Đối với trường hợp có nhu cầu tạm trú dưới 24 tháng, nhưng để giảm tránh việc phải đăng ký gia hạn nhiều lần, công dân sẽ đăng ký thời hạn tạm trú với thời hạn tối đa là 24 tháng. Như vậy, trong trường hợp này, yêu cầu quản lý nhân khẩu thông qua Sổ tạm trú là rất khó thực hiện. Vì vậy, đại biểu Thúy đề nghị ban soạn thảo không sửa đổi nội dung này mà giữ như quy định của luật hiện hành để tránh việc tăng thêm thủ tục hành chính đối với người dân trong việc đăng ký tạm trú.

Đại biểu Đỗ Văn Đương (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị ban soạn thảo cần nghiên cứu lại và điều chỉnh như sau: Khi chuyển đến nơi tạm trú khác thì công dân phải nộp lại Sổ tạm trú cho công an nơi đang tạm trú và được cấp một giấy giới thiệu để đến nơi tạm trú mới để được cấp Sổ tạm trú. Đại biểu Nguyễn Minh Kha (Đoàn Cần Thơ) thì lại đề nghị giảm thời gian trước khi hết hạn tạm trú từ 30 ngày xuống 15 còn thì công dân phải đến cơ quan công an làm thủ tục gia hạn.

Cần bỏ quy định chính quyền địa phương quy định về diện tích bình quân

Thảo luận về quy định điều kiện diện tích bình quân đối với trường hợp đăng ký thường trú vào chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (Đoàn thành phố Đà Nẵng) nhất trí cao như trong dự thảo Luật là giao cho Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định về diện tích bình quân để phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương; đồng thời phù hợp với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy đề nghị bỏ quy định việc xác định của chính quyền địa phương về điều kiện diện tích bình quân vi sẽ tăng thêm thủ tục hành chính, gây phiền hà, tốn kém; đồng thời dễ bị lợi dụng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân.

Đại biểu Huỳnh Văn Tính (Tiền Giang) đề nghị cần mở rộng thêm các trường hợp người chưa thành niên còn cha, mẹ mà cha mẹ đã ly hôn và đã kết hôn với người khác hay một số trường hợp khác, nhưng có nguyện vọng về sống với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, bác, cậu ruột để tạo điều kiện cho người thân được chăm sóc nhau, đồng thời phát huy hiệu quả truyền thống, đạo đức của dân tộc ta. Về điều này thì đại biểu Triệu Thị Thu Phương (Bắc Kạn) lại cho rằng, dự thảo quy định như vậy là không phù hợp với quyền tự do cư trú.

Đối với thời hạn làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú, đại biểu Lù Thị Lừu (Đoàn Lào Cai) tán thành như trong dự thảo Luật đã rút ngắn thời hạn đăng ký từ 24 tháng xuống 12 tháng. Đại biểu Bùi Văn Xuyền (Đoàn Thái Bình) cũng đồng tình với báo cáo của Chính phủ. Tuy nhiên, đại biểu Xuyền đề nghị ban soạn thảo cần chỉnh sửa việc quy định chuyển chỗ ở từ nơi khác vào chỗ ở hợp pháp ở nội thành thuộc các thành phố trực thuộc trung ương phải có thời gian tạm trú ít nhất là 2 năm thì mới làm thủ tục đăng ký thường trú, như vậy là chưa phù hợp.

*** Chiều cùng ngày, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Dự án Luật Việc làm.

Bảo đảm tính kịp thời, chính xác trong thi đua, khen thưởng

Thảo luận về Dự án Luật Thi đua khen thưởng, nhiều ý kiến nhất trí với việc cần rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, khen thưởng sau 8 năm thực hiện nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác thi đua, khen thưởng thời gian vừa qua. Ý kiến của đại biểu tại nhiều tổ tán thành với quan điểm sửa đổi Luật cần bảo đảm tính kịp thời, chính xác trong thi đua, khen thưởng để huy động được sức mạnh và sức sáng tạo từ cơ sở, từ quần chúng nhân dân. Luật hóa một số quy định phù hợp với thực tiễn trong các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật hiện hành vào Dự án Luật nhằm cụ thể hóa và nâng cao giá trị pháp lý.

Trong tổng số 103 điều của Luật Thi đua, khen thưởng hiện hành, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung 44 điều (được sửa đổi, bổ sung từ Chương I đến Chương IV), trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung về hệ thống tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng. Ngoài ra, sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến quy định chung, nguyên tắc khen thưởng, thẩm quyền ban hành hình thức thi đua, khen thưởng và thủ tục hồ sơ xét tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng.

Một số ý kiến không tán thành với việc bổ sung Điều 21 quy định thời điểm xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” là 5 năm một lần thay cho xét hằng năm như hiện nay. Theo ban soạn thảo, sửa đổi như vậy là để việc tôn vinh đúng vào dịp Đại hội Thi đua yêu nước các cấp và cũng phù hợp với việc tổng kết, đánh giá kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm của đất nước. Tuy nhiên, các đại biểu Đinh Xuân Thảo, Đào Văn Bình (Hà Nội) và một số ý kiến khác cho rằng, quy định 5 năm mới xét tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc sẽ làm mất tính kịp thời động viên trong thi đua, khen thưởng. Các ý kiến đề nghị vấn đề này cần giữ như luật hiện hành là xét tặng hằng năm.

Qua thảo luận, một số ý kiến tán thành với việc bổ sung quy định các hình thức khen thưởng: Cờ thi đua, bằng khen cấp tổng cục, quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; Cờ thi đua, bằng khen của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, được quy định tại Điều 31 và Điều 73. Đây là những tổ chức, đơn vị có quy mô lớn, có tính đặc thù và là nơi trực tiếp tổ chức phát động các phong trào thi đua, trong khi đó Luật hiện hành quy định những tổ chức này chỉ được tặng hình thức giấy khen. Theo đó việc bổ sung danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng này nhằm thực hiện phân cấp trong khen thưởng, tránh dồn khen thưởng lên cấp trên và để khen thưởng động viên trực tiếp, kịp thời tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện phong trào thi đua…

Hoàn thiện chính sách pháp luật về việc làm

Thảo luận về Dự án Luật Việc làm, nhiều ý kiến tán thành với sự cần thiết ban hành Luật góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật về việc làm, tạo cơ hội việc làm, đảm bảo việc làm bền vững và an toàn cho mọi người lao động trong xã hội; nâng cao trách nhiệm của nhà nước và xã hội đối với vấn đề thúc đẩy việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao chất lượng việc làm cho người lao động…

Luật Việc làm điều chỉnh các quan hệ về việc làm, gồm các quy định về 5 nội dung chính: Hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; dịch vụ việc làm và bảo hiểm thất nghiệp. Các nội dung này áp dụng đối với mọi người lao động, bao gồm cả người lao động có việc làm (có hoặc không có quan hệ lao động) và người lao động không có việc làm (chưa có việc làm hoặc mất việc làm), người lao động phổ thông và người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong đó, chính sách hỗ trợ tạo việc làm áp dụng chủ yếu đối với người lao động chưa có việc làm, chính sách bảo hiểm thất nghiệp áp dụng chủ yếu đối với người lao động bị mất việc làm. Các quy định về dịch vụ việc làm, thông tin thị trường lao động, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được áp dụng chung đối với tất cả người lao động. Luật việc làm áp dụng đối với 2 nhóm đối tượng: Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc; cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có liên quan đến việc làm. Đại biểu Đào Văn Bình (Hà Nội) đề nghị dự án Luật cần giải thích rõ thế nào là thị trường lao động. Đại biểu nêu băn khoăn và đề nghị xác định, làm rõ cơ quan quản lý Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp...

Một số ý kiến tán thành việc quy định bảo hiểm thất nghiệp trong Dự án Luật. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp điều chỉnh mọi đối tượng là người lao động (bao gồm cả người lao động không có quan hệ lao động). Đối với người lao động không có quan hệ lao động sẽ được thực hiện theo cơ chế tự nguyện tham gia bảo hiểm thất nghiệp và giao Chính phủ quy định cụ thể chế độ, mức đóng, mức hỗ trợ, phương thức đóng, thời gian đóng, trình tự thủ tục và lộ trình thực hiện.

Thứ hai, ngày 10-6-2013, Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn./.