Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay
TCCS - Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam là xu thế tất yếu nhằm ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân ở khu vực nông thôn. Trải qua hơn một thập niên, chương trình từng bước chuyển trọng tâm từ việc đầu tư kết cấu hạ tầng sang việc nâng cao chất lượng sống, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện nảy sinh một số bất cập liên quan đến việc tích hợp hai quá trình này, cần giải pháp khả thi nhằm phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới một cách hiệu quả, bền vững.
Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ dân số nông thôn chiếm phần lớn, trong đó sản xuất nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, xét về tổng thể cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, gồm: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp; ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế; chuỗi giá trị chưa phát triển đồng bộ. Áp lực của đô thị hóa, biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường càng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng sinh thái, tuần hoàn và phát triển bền vững.
Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa toàn diện và lâu dài. Trước yêu cầu đổi mới mô hình phát triển nền kinh tế - xã hội đất nước, việc phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới được xem là một hướng đi phù hợp, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, hướng tới mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”(1). Đồng thời, tôn trọng tự nhiên, phát triển hài hòa giữa con người và môi trường tiếp tục là nền tảng tư tưởng xuyên suốt trong định hướng xây dựng nông thôn mới theo hướng nhân văn và bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam thời gian qua
Nông nghiệp sinh thái được hiểu là sự chuyển đổi toàn diện về tổ chức sản xuất, đề cao mối quan hệ hài hòa giữa con người, tài nguyên và môi trường. Các nguyên tắc cốt lõi của mô hình này gồm việc đa dạng sinh học, giảm đầu vào hóa học, bảo vệ sức khỏe đất và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Khi được lồng ghép vào chương trình xây dựng nông thôn mới, nông nghiệp sinh thái góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, kiến tạo không gian sống hài hòa, gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng.
Thực tiễn triển khai nông nghiệp sinh thái tại nhiều địa phương cho thấy kết quả tích cực. Đơn cử như tại Cà Mau, mô hình lúa - tôm sinh thái có diện tích khoảng 40.000ha, trong đó riêng huyện Thới Bình (trước đây) chiếm hơn 19.000ha(2). Việc kết hợp canh tác hai đối tượng này giúp giảm chi phí đầu vào, gia tăng thu nhập cho nông dân, góp phần duy trì hệ sinh thái nước lợ tự nhiên. Cà Mau đặt mục tiêu đến năm 2030, toàn bộ diện tích này sẽ đạt chứng nhận quốc tế về nông nghiệp sinh thái, mở rộng cơ hội xuất khẩu vào các thị trường cao cấp như châu Âu và Nhật Bản. Lâm Đồng (cũ) là địa phương có điều kiện sinh thái đa dạng và nền nông nghiệp công nghệ cao phát triển. Đến năm 2024, toàn tỉnh Lâm Đồng có 9 vùng nông nghiệp công nghệ cao và 14 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận; 36 điểm du lịch canh nông, trong đó có 4 điểm đạt tiêu chí quốc tế. Giá trị sản xuất trồng trọt bình quân đạt 245 triệu đồng/ha/năm, riêng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt bình quân hơn 495 triệu đồng/ha (rau đạt hơn 2 tỷ đồng, hoa đạt từ 3 đến 5 tỷ đồng/ha). Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, thông minh chiếm 45% tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt.
Ở khu vực miền núi phía Bắc, tỉnh Sơn La chú trọng phát triển hệ sinh thái nông nghiệp gắn với du lịch nông nghiệp, quy hoạch vùng sản xuất thuộc Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” OCOP và ứng dụng công nghệ cao. Những mô hình nuôi lươn không bùn, trồng rau muống thủy canh, xen canh chuối - cà phê giúp nâng cao năng suất, tạo cảnh quan thân thiện môi trường, thu hút khách du lịch nông thôn. Lai Châu - với lợi thế khí hậu mát mẻ và đất đai chưa bị ô nhiễm, đang hướng tới phát triển các sản phẩm hữu cơ như chè shan tuyết, cá nước lạnh, cây dược liệu quý; kết hợp giữa bảo tồn tri thức bản địa với khai thác sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc.
Mặc dù đạt được kết quả đáng ghi nhận, song quá trình triển khai nông nghiệp sinh thái đối mặt với nhiều rào cản. Đó là, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, hệ thống tiêu chí đánh giá còn thiếu thống nhất, chưa hình thành mạng lưới tư vấn kỹ thuật sâu rộng cho mô hình sinh thái. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất còn cao trong khi thị trường tiêu thụ chưa phát triển ổn định, đặc biệt là ở khu vực nội địa. Nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã còn e ngại đầu tư do thiếu cơ chế khuyến khích, ưu đãi cụ thể. Một phần nguyên nhân xuất phát từ nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm sinh thái còn hạn chế, ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả đầu ra của sản phẩm. Ngoài ra, năng lực quản trị chuỗi giá trị, tổ chức sản xuất theo vùng và tính liên kết trong sản xuất còn thiếu đồng bộ, gây hạn chế cho sự phát triển.
Việt Nam hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ mô hình nông nghiệp sinh thái, trong đó phải kể đến hệ sinh thái phong phú, truyền thống canh tác gắn bó với thiên nhiên, lực lượng lao động nông thôn dồi dào, tư duy về sản xuất nông nghiệp sinh thái có sự chuyển biến tích cực. Xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng trở nên phổ biến. Thị trường quốc tế ngày càng ưa chuộng các sản phẩm có truy xuất nguồn gốc, chứng nhận sinh thái và thân thiện môi trường. Đây là thời điểm để nông nghiệp Việt Nam chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, từ sản xuất đơn ngành sang mô hình liên ngành tích hợp nông nghiệp - môi trường - văn hóa - dịch vụ, góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Trong tiến trình này, vai trò của cộng đồng dân cư nông thôn cần được đặt ở vị trí trung tâm. Việc lựa chọn mô hình phát triển cần căn cứ vào điều kiện sinh thái, kinh tế và văn hóa của từng vùng, miền, bảo đảm tính thích nghi và bền vững lâu dài. Sự đồng thuận trong cộng đồng, năng lực tự quản và khả năng tiếp cận thông tin là những yếu tố quyết định mức độ thành công và khả năng nhân rộng của mô hình. Kinh nghiệm từ các địa phương cho thấy, khi người dân thực sự được trao quyền và khơi dậy nội lực, quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái không chỉ hiệu quả mà còn mang tính bền vững.
Một số giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới
Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới là định hướng phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Việc kết hợp hai nội dung này không phải là sự lồng ghép hình thức giữa hai chương trình riêng biệt, mà là một tiến trình tích hợp có định hướng, hệ thống và mang tính chiến lược lâu dài. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần bảo đảm tính toàn diện và đồng bộ trong các giải pháp tổ chức thực hiện. Trong đó, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, bền vững.
Trong tiến trình chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách không đơn thuần mang tính định hướng mà còn giữ vai trò động lực quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn. Thể chế đóng vai trò nền tảng, là khâu then chốt trong việc cụ thể hóa các mục tiêu phát triển dài hạn, thúc đẩy sự gắn kết hài hòa giữa sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và không gian sống nông thôn. Do đó, việc hoàn thiện thể chế cần được tiến hành khẩn trương, bài bản và có chiến lược lâu dài.
Trọng tâm của giải pháp này là xây dựng một hệ thống chính sách toàn diện, định hướng rõ ràng, cụ thể và khả thi trong từng khâu của chuỗi giá trị nông nghiệp, từ sản xuất, chế biến cho đến tiêu thụ sản phẩm gắn với yếu tố sinh thái. Trong quá trình này, cần làm rõ các khái niệm cơ bản, xác lập hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, lộ trình triển khai phù hợp và xác định trách nhiệm rõ ràng của các chủ thể liên quan. Đồng thời, chính sách phải đi kèm với các cơ chế ưu đãi thiết thực, như cung cấp tín dụng xanh, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất sinh thái, bảo hiểm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, chuyển giao kỹ thuật mới, mở rộng kênh tiếp cận thị trường nội địa và quốc tế. Đặc biệt, cần bảo đảm tính khả thi và tính tiếp cận cao của chính sách đối với đối tượng trực tiếp sản xuất, như nông dân và các hợp tác xã quy mô nhỏ trước các tác động của rủi ro sinh thái và biến đổi khí hậu.
Quá trình hoàn thiện thể chế đòi hỏi phải có cách tiếp cận thực tiễn, linh hoạt và mang tính chủ động cao. Điều này đồng nghĩa với việc xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cấp, ngành, các địa phương, bảo đảm sự đồng bộ trong chỉ đạo và điều hành, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo, linh hoạt trong cách thức triển khai tại cơ sở. Việc tích hợp các yêu cầu sinh thái vào hệ thống tiêu chí xây dựng nông thôn mới cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc, với bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng, định lượng được và phản ánh đúng thực chất, tránh tình trạng chạy theo thành tích hoặc hình thức.
Hai là, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp sinh thái.
Trong định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm trong việc kiến tạo một hệ thống sản xuất mới, góp phần hình thành nền tảng cấu trúc của mô hình canh tác bền vững. Khác với cách tiếp cận trong nông nghiệp truyền thống, vốn chú trọng vào việc sử dụng máy móc, thiết bị để mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao sản lượng, mô hình nông nghiệp sinh thái đề cao vai trò của công nghệ trong việc duy trì sự cân bằng tự nhiên, hạn chế tối đa việc can thiệp hóa học và tăng cường hiệu quả của quản lý hệ sinh thái nông nghiệp. Công nghệ được vận dụng để nâng cao năng lực thích ứng, phục hồi sinh thái và tạo lập giá trị gia tăng lâu dài, thay vì chỉ chạy theo mục tiêu sản lượng trong ngắn hạn.
Các giải pháp công nghệ áp dụng trong nông nghiệp sinh thái cần phù hợp với điều kiện thực tế của các hộ nông dân, hợp tác xã, như hệ thống tưới nước tiết kiệm, xử lý phụ phẩm bằng chế phẩm sinh học, ứng dụng phần mềm trên điện thoại thông minh để giám sát mùa vụ, hay truy xuất nguồn gốc nông sản đều có hiệu quả thiết thực và khả năng nhân rộng cao. Cùng với đó, các mô hình canh tác tuần hoàn sử dụng phụ phẩm, chất thải để làm đầu vào cho chu trình sản xuất kế tiếp cần được xem là hướng đi ưu tiên để xây dựng nền nông nghiệp thân thiện với môi trường và giảm phát thải khí nhà kính.
Để khoa học và công nghệ thực sự phát huy vai trò tại khu vực nông thôn, cần có sự liên kết đồng bộ và chặt chẽ giữa nhà khoa học, nhà quản lý và cư dân nông thôn thông qua các cơ chế hợp tác hiệu quả. Một trong những giải pháp là xây dựng các mô hình trung gian, như trạm dịch vụ kỹ thuật sinh thái, đội hỗ trợ công nghệ nông thôn - là cầu nối giữa nghiên cứu và thực tiễn sản xuất. Các mô hình này đóng vai trò cung cấp dịch vụ kỹ thuật, tập huấn chuyển giao công nghệ, đồng hành cùng nông dân trong quá trình áp dụng đổi mới kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh đầu tư cho chuyển đổi số trong nông nghiệp cần được chú trọng với các hạng mục trọng điểm, như xây dựng bản đồ số các vùng sinh thái nông nghiệp, hệ thống giám sát và dự báo dịch hại, nền tảng quản lý mùa vụ trực tuyến, thương mại điện tử nông sản.
Ba là, phát huy vai trò của cộng đồng cư dân nông thôn, hợp tác xã và chính quyền cơ sở trong tổ chức thực hiện nông nghiệp sinh thái.
Trong quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng sinh thái, cộng đồng cư dân nông thôn đóng vai trò then chốt với tư cách là lực lượng trực tiếp sản xuất, đồng thời là chủ thể sáng tạo và gìn giữ môi trường sống bền vững. Phát huy hiệu quả vai trò của cộng đồng, hợp tác xã và chính quyền cơ sở là điều kiện tiên quyết nhằm bảo đảm tính ổn định và lâu dài cho mô hình nông nghiệp sinh thái. Đây không đơn thuần là việc thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn là quá trình chuyển hóa từ tư duy sản xuất cũ sang văn hóa sản xuất mới, gắn liền với lối sống hài hòa cùng thiên nhiên, nâng cao ý thức cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên đất, nước, không khí và đa dạng sinh học. Trong đó, hợp tác xã giữ vị trí trung tâm trong việc tập hợp, tổ chức các hộ sản xuất thành khối thống nhất, có sự phân công hợp lý, liên kết chặt chẽ và khả năng áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật sinh thái. Hợp tác xã hỗ trợ về kỹ thuật, giúp nông dân xây dựng chuỗi giá trị nông sản khép kín, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng lợi nhuận thông qua thương hiệu tập thể.
Để làm được điều này, cần quan tâm nâng cao năng lực quản trị cho đội ngũ lãnh đạo hợp tác xã, cung cấp các nguồn lực tài chính linh hoạt, như vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật xây dựng thương hiệu, thúc đẩy ứng dụng nền tảng công nghệ số vào quản lý và điều hành sản xuất. Việc chuyên nghiệp hóa hoạt động của hợp tác xã giúp tăng năng suất và năng lực cạnh tranh, hướng đến thị trường trong và ngoài nước.
Chính quyền cơ sở giữ vai trò định hướng và tổ chức thực thi chính sách phát triển nông nghiệp sinh thái ở địa phương, từ việc xây dựng kế hoạch, hướng dẫn kỹ thuật đến hỗ trợ pháp lý và vận động cộng đồng tham gia. Đội ngũ cán bộ ở cơ sở cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật nông nghiệp sinh thái, có khả năng tiếp cận và tư vấn cho nông dân một cách hiệu quả. Quan trọng hơn, cán bộ cơ sở phải gần gũi với cộng đồng, thấu hiểu thực tiễn và có tinh thần đồng hành trong quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất của người dân. Để tạo sự lan tỏa rộng rãi, các hoạt động tuyên truyền, đào tạo, hội thảo chuyên đề và các lớp học đồng ruộng cần được tổ chức thường xuyên, với nội dung thiết thực, dễ hiểu, gắn với điều kiện cụ thể của từng vùng sản xuất. Qua đó nâng cao nhận thức, xây dựng tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng và trách nhiệm xã hội trong bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp sinh thái một cách bền vững và toàn diện.
Bốn là, phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp sinh thái.
Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị nông sản trong các chuỗi giá trị. Thị trường là nơi đánh giá khách quan, công bằng về nỗ lực của người sản xuất trong việc gìn giữ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông thôn. Vì vậy, phát triển thị trường và thương hiệu cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển nông nghiệp sinh thái.
Giá trị cạnh tranh của nông sản sinh thái không nằm ở mức giá rẻ hay sản lượng lớn, mà ở những đặc trưng riêng biệt, mang tính bản sắc như nguồn gốc địa lý, phương thức sản xuất thân thiện môi trường, hay câu chuyện gắn với cộng đồng sản xuất. Do đó, quá trình xây dựng thương hiệu cần bắt đầu từ việc định vị giá trị khác biệt của sản phẩm so với hàng hóa thông thường, làm nổi bật tính minh bạch, độ tin cậy và sự cam kết về chất lượng. Cần xây dựng đồng bộ hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình chứng nhận sản phẩm sinh thái, có giá trị pháp lý rõ ràng để tăng niềm tin từ người tiêu dùng, tạo thuận lợi trong công tác quản lý nhà nước. Đồng thời, cần khuyến khích phát triển thương hiệu tập thể dựa trên lợi thế đặc thù của từng vùng sản xuất, gắn liền với truyền thống văn hóa địa phương.
Để mở rộng thị trường tiêu thụ, cần phát triển song song cả hai kênh trong nước và quốc tế. Ở thị trường nội địa, cần đẩy mạnh xây dựng và nhân rộng các mô hình phân phối chuyên biệt, như chợ sinh thái, chuỗi cửa hàng tiêu dùng xanh, các gian hàng riêng trong siêu thị, hoặc nền tảng thương mại điện tử dành cho nông sản sinh thái. Những mô hình này tạo ra không gian tiếp cận sản phẩm cho người tiêu dùng, giúp người sản xuất nắm bắt nhu cầu thị trường một cách trực tiếp, giảm sự phụ thuộc vào trung gian. Việc ứng dụng các công cụ tiếp thị số, bán hàng đa kênh, truyền thông trực tuyến cũng cần được đẩy mạnh để gia tăng khả năng tiếp cận khách hàng và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. Với thị trường quốc tế, trọng tâm cần hướng đến các quốc gia, khu vực có yêu cầu cao về tiêu chuẩn xanh, như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc…, tận dụng tối đa cơ hội do các hiệp định thương mại tự do mang lại. Ngoài ra, kết hợp phát triển du lịch nông nghiệp sinh thái với quảng bá và tiêu thụ sản phẩm đặc sản địa phương để mở rộng thị phần, gia tăng giá trị kinh tế và văn hóa cho nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam là lựa chọn chiến lược để hướng tới mô hình tăng trưởng xanh, bền vững, thiết thực, nâng cao chất lượng sống của cư dân nông thôn, đồng thời lan tỏa hình ảnh nông thôn Việt Nam văn minh, hiện đại và giàu bản sắc. Quá trình tổ chức thực hiện cần triển khai đồng bộ các giải pháp, gắn kết và phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng cũng như mỗi cư dân nông thôn quá trình triển khai đạt hiệu quả cao nhất./.
-------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 124
(2) Gia Bách: Nông dân Cà Mau trúng đậm vụ lúa - tôm, Báo Thanh niên, ngày 30-12-2024, https://thanhnien.vn/nong-dan-ca-mau-trung-dam-vu-lua-tom-185241230174407286.htm
Phát triển kết cấu hạ tầng trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Tuyên Quang: Chủ trương và kinh nghiệm  (08/01/2026)
Phát huy lợi thế của nguồn lực tự nhiên cho phát triển nông nghiệp sinh thái ở tỉnh Vĩnh Phúc  (15/03/2025)
Phát huy vai trò của đồng bào Công giáo tham gia xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình: Một số kết quả và bài học kinh nghiệm  (27/11/2024)
Tỉnh Ninh Bình: Hướng đến nền nông nghiệp sinh thái, tích hợp đa giá trị  (19/11/2024)
Quảng Ninh tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn  (08/09/2023)
Biến đổi văn hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay  (30/11/2022)
- Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay
- Pháp luật ASEAN về giảm thiểu rác thải nhựa biển: Thực trạng và hướng hoàn thiện
- Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới
- Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm