Cơ chế, chính sách đột phá để phát triển công nghệ chiến lược ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới
TCCS - Thế giới đang chuyển đổi nhanh chóng trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó trí tuệ nhân tạo và vật liệu bán dẫn đang đóng vai trò dẫn dắt, định hình trật tự thế giới. Các quốc gia chuyển từ sử dụng công nghệ lõi sang công nghệ chiến lược. Do đó, “cuộc cạnh tranh làm chủ công nghệ chiến lược” trở thành chủ đề nóng trong lĩnh vực công nghệ toàn cầu. Thực tế này đòi hỏi Việt Nam có sự đột phá trong đổi mới tư duy, cùng với cách tiếp cận mới, trong đó ưu tiên lựa chọn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược của quốc gia để thúc đẩy kinh tế Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị.
Xu hướng cạnh tranh công nghệ chiến lược toàn cầu
Hiện nay, cạnh tranh công nghệ giữa các nước lớn gia tăng, toàn cầu hóa sản xuất suy yếu, cấu trúc lại chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, khủng hoảng sau đại dịch COVID-19, nhu cầu lao động toàn cầu giảm do ứng dụng tự động hóa, rô-bốt... đang làm tăng nhu cầu kiểm soát, quản lý chuỗi cung ứng và công nghệ. Đồng thời, rào cản bảo hộ công nghệ cũng tăng lên khiến các quốc gia cần xây dựng chiến lược vừa hợp tác, vừa tự chủ. Điều này đòi hỏi các quốc gia cần có chiến lược phát triển công nghệ độc lập để bảo đảm năng lực cạnh tranh cốt lõi. Trong đó, có hai xu hướng cạnh tranh chủ đạo hiện nay, bao gồm:
Một là, cạnh tranh giành vị trí dẫn đầu công nghệ chiến lược giữa các quốc gia.
Các nước lớn thúc đẩy chính sách kiểm soát, quản lý công nghệ nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, chuyển từ toàn cầu hóa sang “cấu trúc lại chuỗi cung ứng”, gia tăng cạnh tranh quyền lực công nghệ chiến lược. Trật tự công nghệ quốc tế đang được cấu trúc lại với trọng tâm là bảo đảm an ninh quốc gia và kiểm soát, quản lý công nghệ.
Mỹ đã công bố Đạo luật CHIPS về Khoa học, đầu tư cho các lĩnh vực, như vật liệu bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), tính toán lượng tử; tăng cường kiểm soát công nghệ dựa trên liên minh, thiết lập hệ thống quy định và quản trị chuyên biệt; tăng cường kiểm soát xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, đồng thời xây dựng tiêu chuẩn công nghệ toàn cầu. Chính phủ Mỹ cũng thúc đẩy chính sách thuế ưu đãi cho tỷ phú công nghệ. Chính sách thuế này được người đứng đầu tập đoàn công nghệ đón nhận và khai thác, qua đó củng cố vị thế của tập đoàn trong nền kinh tế toàn cầu. Ngân sách mà chính phủ Mỹ ưu tiên đầu tư nằm ở lĩnh vực quốc phòng - lĩnh vực đang trở thành điểm đến hấp dẫn cho tỷ phú công nghệ và nhà đầu tư mạo hiểm. Hiện nay, Thung lũng Silicon đang đầu tư mạnh mẽ vào các doanh nghiệp công nghệ quốc phòng, như Anduril và Palantir - các doanh nghiệp sử dụng AI, phân tích dữ liệu và tự động hóa để cung cấp giải pháp quân sự tối tân. Các lĩnh vực mới nổi có tầm quan trọng đặc biệt đối với an ninh quốc gia của Mỹ là AI; công nghệ sinh học; năng lượng sạch và lưu trữ năng lượng; bảo mật dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu và công nghệ an ninh mạng; công nghệ siêu âm; hệ thống tự động hóa cao, không người lái và rô-bốt; vật liệu kỹ thuật tiên tiến; cảm biến và quản lưu dấu vết tiên tiến và kết nối mạng; năng lượng định hướng; bán dẫn và vi mạch điện tử; công nghệ thông tin lượng tử và công nghệ hỗ trợ; không gian và hệ thống vũ trụ; giao diện giữa con người và máy; sản xuất tiên tiến...
Liên minh châu Âu (EU) triển khai chính sách tăng cường tự chủ công nghệ số và sinh học; ban hành Luật AI đầu tiên trên thế giới (tháng 2-2024, có hiệu lực từ năm 2026), phân loại rủi ro, quy định sử dụng AI trong sản xuất và đời sống. Bên cạnh đó, EU cũng củng cố luật về vật liệu thô chiến lược (như đất hiếm), sản phẩm trung hòa các-bon, chuỗi cung ứng bền vững, đẩy mạnh liên kết nội khối thông qua Chương trình nghị sự đổi mới sáng tạo châu Âu mới (New European Innovation Agenda) và ưu tiên phát triển khởi nghiệp (startup) công nghệ chiến lược tại EU.
Trung Quốc đẩy mạnh chính sách “tự lực công nghệ”, tăng tốc nội địa hóa công nghệ lõi và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo trong nước, tập trung đầu tư vào công nghệ chiến lược, như bán dẫn, AI, lượng tử, năng lượng sạch để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tự chủ công nghệ. Sáng kiến “Made in China 2025” đặt mục tiêu tự chủ chuỗi cung ứng và công nghệ chiến lược. Trung Quốc đang đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) vào các lĩnh vực, như vật liệu bán dẫn, AI, pin, vật liệu mới, công nghệ lượng tử; mở rộng chương trình đào tạo nhân lực và viện nghiên cứu nội địa; hỗ trợ doanh nghiệp quốc gia dẫn đầu.
Nhật Bản đang phục hồi năng lực công nghiệp với sự đồng hành của Chính phủ và đầu tư quy mô lớn. Thành lập tổ chức chuyên trách về an ninh kinh tế và bảo đảm công nghệ; kế hoạch tài trợ 5.000 tỷ yên (khoảng 36 tỷ USD) để hỗ trợ phát triển công nghệ lõi; khuyến khích doanh nghiệp thành lập liên minh.
Hàn Quốc coi tăng cường đầu tư vào công nghệ chiến lược là điều kiện sống còn để định vị quốc gia trong trật tự công nghệ tương lai. Hàn Quốc đã xây dựng và ban hành Luật Đặc biệt về công nghệ chiến lược quốc gia vào tháng 3-2023, có hiệu lực từ tháng 9-2023. Luật quy định rõ, Chính phủ phải xây dựng kế hoạch cơ bản về phát triển công nghệ chiến lược quốc gia của Hàn Quốc mỗi 5 năm. Như vậy, đây là cơ sở pháp lý để Chính phủ xây dựng và ban hành Kế hoạch cơ bản lần thứ nhất về phát triển công nghệ chiến lược quốc gia của Hàn Quốc (2024 - 2028). Kế hoạch được công bố ngày 26-8-2024 dưới sự chủ trì xây dựng của Bộ Khoa học, công nghệ Thông tin và Truyền thông Hàn Quốc (MSIT), sự tham gia của 22 bộ, cơ quan, tổ chức liên quan, với khoản đầu tư 30.000 tỷ KRW (khoảng 22,6 tỷ USD) trong vòng 5 năm. Được MSIT gọi là “Bản thiết kế chủ quyền khoa học, công nghệ Hàn Quốc”, đây là kế hoạch chiến lược toàn diện đầu tiên, nhằm xác lập hướng đi dài hạn và cụ thể cho việc phát triển, bảo vệ và làm chủ công nghệ chiến lược quốc gia, công nghệ lõi có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Với kế hoạch này, Hàn Quốc hướng tới mục tiêu đưa số lượng lĩnh vực công nghệ chiến lược quốc gia đạt trình độ dẫn đầu thế giới tăng từ 3 lĩnh vực hiện tại lên 6 lĩnh vực. Kế hoạch nhấn mạnh vào 3 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để hiện thực hóa mục tiêu, phát triển 12 lĩnh vực công nghệ chiến lược quốc gia và 50 công nghệ trọng điểm, trong đó có 3 lĩnh vực công nghệ chiến lược được Hàn Quốc kỳ vọng có khả năng “thay đổi cuộc chơi” là AI, công nghệ sinh học và công nghệ lượng tử.
Có thể nhận thấy, cạnh tranh xoay quanh công nghệ mang tính nền tảng và đột phá. Các quốc gia tiên tiến đang tập trung đầu tư vào công nghệ đột phá, được xem là trụ cột của nền công nghiệp trong tương lai. Xu hướng này thể hiện ở việc tăng ngân sách R&D quốc gia, thiết lập cơ sở thử nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm, và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ chiến lược.
Hai là, xu hướng hình thành khối liên minh công nghệ toàn cầu.
Định hình lại trật tự công nghệ từ “quốc tế hóa” sang “liên minh công nghệ”. Các khối công nghệ đang được hình thành, như liên minh bán dẫn, liên minh về AI và dữ liệu, cho thấy xu hướng tập hợp sức mạnh công nghệ theo khối. Các nước tiên tiến tăng cường mở rộng các liên minh công nghệ, như Khung Kinh tế Ấn Độ - Thái Bình Dương (IPEF), Đối thoại An ninh Bộ tứ (QUAD), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)... chủ động kiểm soát, dẫn dắt hệ sinh thái công nghệ và chuỗi giá trị mới, cụ thể như:
G7/G20: Thảo luận hợp tác công nghệ trong các lĩnh vực, như AI, an ninh năng lượng, chuỗi cung ứng chiến lược.
QUAD/IPEF: Hợp tác thiết lập tiêu chuẩn công nghệ an ninh mạng, chuỗi cung ứng sạch và minh bạch.
Hàn Quốc - Nhật Bản: Mở rộng hợp tác R&D, khắc phục đứt gãy chuỗi cung ứng vật liệu - linh kiện - thiết bị.
Hàn Quốc - Mỹ - Ấn Độ (iCET - Sáng kiến công nghệ Quan trọng và Mới nổi): Hợp tác trong AI, vật liệu bán dẫn, công nghệ không gian, công nghệ sinh học, an ninh dữ liệu.
Hàn Quốc - EU (CET): Tăng cường liên kết công nghệ xanh, dữ liệu, đổi mới mở và tiêu chuẩn quốc tế.
Định hướng cơ chế, chính sách của Việt Nam về phát triển công nghệ chiến lược
Ở Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đưa ra quan điểm về phát triển công nghệ chiến lược, phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược. Đồng thời, đề xuất yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, ban hành Chương trình phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược; Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược (ưu tiên các lĩnh vực quốc phòng, không gian, năng lượng, môi trường, công nghệ sinh học, AI, vật liệu tiên tiến, bán dẫn, công nghệ lượng tử, rô-bốt và tự động hóa...).
Nghị quyết số 03/NQ-CP, ngày 9-1-2025, của Chính phủ, về “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22 tháng 12 năm 2024, của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” nhấn mạnh nhiệm vụ ban hành Chương trình phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược; xây dựng cơ sở pháp lý và đề án để hình thành Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược; xây dựng cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ chiến lược; xây dựng cơ chế, chính sách hợp tác công - tư để nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược...
Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1131/QĐ-TTg, ngày 12-6-2025, về “Ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược”. Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược có 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược(1).
Một số vấn đề đặt ra về cơ chế, chính sách đột phá cho đầu tư, phát triển công nghệ chiến lược ở Việt Nam
Thứ nhất, xây dựng khung Chương trình đầu tư, phát triển quốc gia về công nghệ chiến lược.
Vật liệu bán dẫn và vật liệu tiên tiến: Tập trung nghiên cứu thiết kế vi mạch chuyên dụng, đóng gói tiên tiến, kết hợp nghiên cứu phát triển vật liệu mới có tính năng vượt trội. Nổi bật là công nghệ vật liệu bán dẫn - yếu tố cốt lõi cho sự phát triển của thiết bị điện tử và vi mạch hiện đại. Việt Nam cần sớm thúc đẩy nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực này, tận dụng cơ hội thu hút đầu tư quốc tế, xây dựng năng lực tự chủ công nghệ trong tương lai.
Trí tuệ nhân tạo quốc gia: Hình thành trung tâm đầu não về nghiên cứu, đào tạo và thử nghiệm AI, có cơ chế đặc thù, liên kết quốc tế, tự chủ tài chính; phát triển mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) dành riêng cho Tiếng Việt và bối cảnh văn hóa Việt Nam, phục vụ và đáp ứng nhu cầu ứng dụng AI vào giáo dục, pháp lý, y tế, hành chính công; thiết lập cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình, giải pháp AI, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo; tích hợp chương trình AI trong các cấp học, mở rộng đào tạo đại trà kỹ năng AI cơ bản cho học sinh - sinh viên; tạo quỹ AI quốc gia, mời gọi tập đoàn công nghệ đầu tư cùng Chính phủ phát triển nền tảng AI hạ tầng, AI điện toán đám mây, siêu máy tính AI; phát triển nguồn nhân lực thiết kế, sản xuất chip AI chuyên dụng, làm chủ công nghệ đóng gói tiên tiến phục vụ ngành công nghiệp mũi nhọn.
Công nghệ gen chữa bệnh: Hợp tác quốc tế nghiên cứu, phát triển công nghệ AI trong thiết kế thuốc và phác đồ điều trị một số bệnh phổ biến, bảo đảm tiếp cận thành tựu y học hiện đại.
Công nghệ năng lượng nguyên tử: Làm chủ công nghệ lưu trữ, vận chuyển chất phóng xạ và nghiên cứu, phát triển lò phản ứng nguyên tử cỡ nhỏ, bảo đảm an toàn và phục vụ dân sinh.
Công nghệ đường sắt cao tốc Bắc Nam: Nghiên cứu, phát triển công nghệ đường sắt cao tốc phù hợp với điều kiện địa hình, môi trường Việt Nam, gắn với phát triển các siêu đô thị thông minh.
Công nghệ chế tạo thiết bị bay không người lái (UAV) và rô-bốt phục vụ an ninh - quốc phòng: Làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo UAV và rô-bốt hiện đại, đa dụng, phục vụ an ninh - quốc phòng và ứng dụng dân sự.
Công nghệ dữ liệu lớn (big data) và IoT: Phát triển kết cấu hạ tầng mạng mạnh mẽ và đáng tin cậy, bảo đảm ổn định trong tiếp cận với internet nhằm bảo đảm sự kết nối giữa các thiết bị IoT; phát triển ứng dụng IoT và big data cho các ngành, đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển ứng dụng IoT trong các ngành, như nông nghiệp, y tế, giao thông, sản xuất và năng lượng,... cũng như AI nói trên; khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và tham gia vào sáng kiến quốc tế.
Công nghệ bảo mật và an ninh mạng: Xây dựng hệ thống pháp lý bảo đảm an toàn an ninh mạng theo từng cấp từ quốc gia, tổ chức tới cá nhân đơn lẻ; phát triển hệ thống kỹ thuật bảo mật và an ninh mạng, bảo đảm điều kiện để quốc gia tham gia vào chuyển đổi số mà không đối mặt với vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hay gây nguy hại đến các vấn đề lớn hơn như an ninh quốc gia.
Công nghệ hạ tầng số: Xây dựng hạ tầng số cấp quốc gia, địa phương và doanh nghiệp, bảo đảm dữ liệu đầy đủ phục vụ cho mục tiêu chuyển đổi số, đánh giá các quyết sách hay đưa ra hướng đi có tính định lượng và cụ thể; chia sẻ hạ tầng số với tất cả ngành, nghề khác, hỗ trợ phát triển và sử dụng hạ tầng này trong quá trình phát triển và đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tập trung vào:
- Xây dựng chương trình đào tạo kỹ sư tài năng công nghệ chiến lược quốc gia ở trường đại học hàng đầu: biên soạn chương trình đào tạo tiên tiến; lựa chọn giảng viên, mời chuyên gia hàng đầu đến từ quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến về giảng dạy; đổi mới phương thức lựa chọn sinh viên, kỹ sư tài năng để đào tạo; tạo thêm nhiều chương trình thực tập, cơ hội về học liệu, học bổng, cơ hội làm việc tại doanh nghiệp và phòng thí nghiệm trọng điểm....
- Xây dựng chương trình nghiên cứu công nghệ chiến lược của Việt Nam, trên cơ sở đó ban hành danh mục công nghệ và chương trình quốc gia phát triển công nghệ công nghiệp chiến lược.
- Xây dựng và phát triển chương trình nghiên cứu, khảo sát thăm dò, phân loại, chế biến, quản lý đất hiếm của Việt Nam, đồng thời đáp ứng nhu cầu về khai thác khoáng sản bền vững của quốc gia.
- Xây dựng phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược, như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vật liệu bán dẫn.
- Lập quỹ đầu tư cho phát triển công nghệ chiến lược.
Thứ ba, xây dựng kết cấu hạ tầng cho nghiên cứu công nghệ chiến lược.
Nhà nước bố trí kinh phí đầu tư xây dựng hạ tầng cho nghiên cứu công nghệ chiến lược, bao gồm cơ sở nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ chiến lược; phòng thí nghiệm trọng điểm dùng chung quốc gia về công nghệ chiến lược; cơ sở đo kiểm, thử nghiệm, đánh giá sản phẩm, dịch vụ công nghệ chiến lược; trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo, trung tâm tính toán hiệu năng cao trí tuệ nhân tạo; hạ tầng khu công nghệ số tập trung; hạ tầng công nghiệp chiến lược dùng chung khác, như giao thông, bến cảng, điện, nước.
Phát triển hạ tầng số hiện đại cho phát triển công nghiệp chiến lược nhằm tăng cường kết nối và xử lý dữ liệu hỗ trợ cho nghiên cứu phát triển, sản xuất công nghiệp, trong đó tập trung vào phủ sóng mạng 5G, 6G, cáp quang tốc độ cao, trung tâm dữ liệu...
Đầu tư vào năng lượng và logistics. Mở rộng thị trường năng lượng tái tạo; bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định (đặc biệt là năng lượng tái tạo) và hệ thống giao thông thuận tiện để hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chiến lược.
Thứ tư, cơ chế, chính sách vượt trội, đặc biệt về nhân tài, tinh hoa về công nghệ chiến lược đủ sức cạnh tranh, hấp dẫn trong khu vực và quốc tế.
Cần có hành động mạnh mẽ, thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám vượt qua mọi rào cản, từ đó tạo động lực và niềm tin cho mọi người. Việt Nam cần hướng đến xây dựng mạng lưới chuyên gia trong một số ngành và lựa chọn tổng công trình sư, bao gồm chuyên gia hàng đầu trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế uy tín cho phát triển công nghệ chiến lược. Đồng thời, cần ban hành chính sách đãi ngộ đặc biệt để thu hút chuyên gia hàng đầu về nước làm việc.
Xây dựng cơ chế chức nghiệp, thực tài: Nhân sự được tuyển dụng trên cơ sở năng lực chuyên môn giỏi và được thăng tiến dựa trên năng lực và tiềm năng phát triển. Việc tìm kiếm, phát hiện người tài để bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo cần sự chuẩn bị công tâm, khách quan, để lựa chọn người giỏi, dám chịu trách nhiệm.
Áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính đột phá để xây dựng tổ chức khoa học - công nghệ đạt trình độ thế giới, làm hạt nhân cho việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ ở lĩnh vực được ưu tiên. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo.
Cần ban hành cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ quốc gia, làm chủ công nghệ chiến lược, dự án công nghệ trọng điểm quốc gia cho doanh nghiệp công nghệ lớn, doanh nghiệp dân tộc.
Thứ năm, cơ chế tài chính đột phá, đầu tư đủ lớn cho nghiên cứu phát triển công nghệ chiến lược.
Thành lập quỹ đầu tư công nghệ chiến lược quốc gia với nguồn vốn đầu tư đủ lớn để thúc đẩy hoạt động R&D, khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, trợ cấp trực tiếp từ 20% đến 50% chi phí cho dự án công nghệ chiến lược quốc gia.
Nghiên cứu và quy định tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chiến lược được bảo lãnh vay vốn với lãi suất ưu đãi thấp hơn thị trường 2 - 4% và kéo dài thời gian hoàn trả khoản vay từ 10 - 15 năm.
Cho phép tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ lớn của Nhà nước và doanh nghiệp khu vực tư nhân được đầu tư vào doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là doanh nghiệp sản phẩm, dịch vụ công nghệ chiến lược, để giành quyền tiếp cận, làm chủ công nghệ tiên tiến. Nhà nước hỗ trợ thông qua tài trợ, cho vay lãi suất thấp, giảm thuế và khoản trợ cấp khác.
Nhân rộng mô hình thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); tập trung vào dự án đầu tư đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, dẫn dắt doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; bổ sung quy định về thủ tục đầu tư đặc biệt, tạo “luồng xanh” cho việc triển khai dự án công nghệ chiến lược, giúp giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp; sử dụng hiệu quả quỹ hỗ trợ đầu tư để duy trì sự hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam./.
---------------
(1) 1- Nhóm công nghệ về trí tuệ nhân tạo, bản sao số, thực tế ảo/thực tế tăng cường bao gồm 6 nhóm sản phẩm: Mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt; trợ lý ảo; trí tuệ nhân tạo chuyân ngành; trí tuệ nhân tạo phân tích; bản sao số (Digital Twin); vũ trụ ảo (Metaverse). 2- Nhóm công nghệ điện toán đám mây, lượng tử, dữ liệu lớn bao gồm 3 nhóm sản phẩm: Dịch vụ điện toán đám mây; dịch vụ điện toán lượng tử, truyền thông lượng tử; trung tâm dữ liệu quy mô lớn. 3- Nhóm công nghệ chuỗi khối (blockchain) bao gồm 3 nhóm sản phẩm: Tài sản số, tiền số, tiền mã hóa; hạ tầng mạng blockchain; hệ thống truy xuất nguồn gốc. 4- Nhóm công nghệ mạng di động thế hệ sau (5G/6G) bao gồm 3 nhóm sản phẩm: Thiết bị, giải pháp mạng truy cập vĩ tuyến 5G/6G theo chuẩn ORAN; thiết bị, giải pháp mạng 5G/6G; thiết bị, giải pháp truyền dẫn IP tốc độ cao. 5- Nhóm công nghệ rô-bốt và tự động hóa bao gồm 4 nhóm sản phẩm: Rô-bốt di động tự hành; Rô-bốt công nghiệp; hệ thống, dây chuyền chế biến thực phẩm tiên tiến cho sản phẩm nông - lâm - thủy sản; hệ thống bảo quản và giám sát chất lượng sau thu hoạch. 6- Nhóm công nghệ chip bán dẫn bao gồm 1 nhóm sản phẩm về chip chuyên dụng, chip AI, chip internet vạn vật (IoT). 7- Nhóm công nghệ y - sinh học tiên tiến bao gồm 3 nhóm sản phẩm: Vắc xin thế hệ mới; liệu pháp gen (chỉnh sửa gen) trong y tế và nông nghiệp; liệu pháp tế bào (tế bào gốc, tế bào miễn dịch). 8- Nhóm công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến bao gồm 3 nhóm sản phẩm: Lò phản ứng hạt nhân nhỏ, an toàn; Pin lithium-ion, thể rắn, nhiên liệu, điện phân; vật liệu tiên tiến. 9- Nhóm công nghệ đất hiếm, đại dương, lòng đất bao gồm có 4 nhóm sản phẩm: Hệ thống, thiết bị và giải pháp công nghệ đánh giá trữ lượng, khai thác, tuyển khoáng, tách chiết, tinh chế đất hiếm; hệ thống, giải pháp công nghệ thăm dò địa chất thông minh; thiết bị, giải pháp công nghệ thăm dò và và khai thác biển sâu; hệ thống, thiết bị, giải pháp công nghệ khai thác năng lượng ngoài khơi. 10- Nhóm công nghệ về an ninh mạng bao gồm 2 nhóm sản phẩm: Giải pháp tường lửa, phát hiện và ngăn chặn xâm nhập; giải pháp bảo đảm an ninh cho hạ tầng quan trọng và cơ sở dữ liệu quốc gia. 11- Nhóm công nghệ hàng không, vũ trụ bao gồm 3 nhóm sản phẩm: Vệ tinh viễn thám và viễn thông tầm thấp; trạm mặt đất và điều khiển vệ tinh; thiết bị bay không người lái.
Khai mạc Hội nghị Bộ trưởng số ASEAN (ADGMIN) lần thứ sáu  (15/01/2026)
Cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội thu hút đầu tư và nhà đầu tư chiến lược vào Thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình mới  (28/11/2025)
Tổng Bí thư Tô Lâm: Trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ tiếp tục là lực lượng tiên phong mở đường cho dân tộc tiến lên mạnh mẽ  (07/08/2025)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xây dựng chính quyền số - Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu và gợi mở cho Việt Nam
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm