TCCSĐT - Trong một thời gian dài thị trường vàng Việt Nam có nhiều biến động. Tình trạng “vàng hóa”, “đô la hóa” nảy sinh, tỷ giá hối đoái giữa VNĐ với USD biến động, vàng cùng với USD không chỉ là kênh trú ẩn của các nguồn vốn mà còn là nơi “làm ăn” của giới đầu cơ. Nhà nước đã phải dùng bàn tay “hữu hình” để siết chặt kỷ cương và sự thành công là đã rõ. Tuy nhiên, đâu là bài học quý về sự quản lý của Nhà nước đang được các chuyên gia và các nhà quản lý đặc biệt quan tâm.
Từ những con số biết nói

Tính từ 28-3-2013 đến 31-12-2013, sau 76 phiên đấu thầu bán vàng miếng, Ngân hàng Nhà nước đã thu được khoản lãi gần 8.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước năm 2013 có nguy cơ bị thâm hụt thì gần 8.000 tỷ đồng thu được từ đấu thầu vàng tuy không lớn nhưng cũng là con số có ý nghĩa. Cho đến nay Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức 76 phiên đấu thầu bán vàng miếng (SJC) với tổng khối lượng trúng thầu là 1.819.900 lượng trên tổng số 1.932.000 lượng chào thầu. Phiên đầu tiên giá trúng thầu là 43,40 triệu đồng/lượng, phiên thứ 76 giá trúng thầu cao nhất là 34,96 triệu đồng/lượng, giá trúng thầu thấp nhất là 34,66 triệu đồng/lượng. Hiện nay, giá vàng đã giảm hơn 10 triệu đồng/lượng so với thời điểm khi Ngân hàng Nhà nước bắt đầu siết chặt cơ chế quản lý.

Theo thống kê, cho đến nay đã có khoảng 70% số phiên đấu thầu vàng bị “ế”, nhất là trong những phiên giao dịch gần đây. Phiên thứ 19, ngày 07-05-2013, có mức “ế” cao nhất là 18.000 lượng, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng thị trường chưa thể tự điều tiết với các lý do: (1) Các phiên đấu thầu bị “ế” tuy chiếm tỷ trọng cao trong các phiên đấu thầu (70%) nhưng chỉ giao động trong con số hàng trăm lượng, còn con số hàng nghìn lượng (như ngày 25-10 khoảng 3.700 lượng) cũng có nhưng không nhiều. Mặt khác, còn phải kể đến là việc xác định giá tham chiếu có thể quá cao so giá thị trường cùng thời điểm. (2) Giá trúng thầu của các phiên giao động vẫn còn lớn, phiên thứ 67 dao động từ 37,3 - 37,32 triệu đồng/lượng; phiên 76 dao động từ 34,96 - 34,66 triệu đồng/lượng, cao hơn giá vàng SJC mà các doanh nghiệp niêm yết thu mua trên thị trường vào thời điểm diễn ra đấu thầu khoảng 100.000 - 200.000 đồng/lượng. (3) Tần suất và số lượng các phiên đấu thầu mới đang giảm dần, từ 2 phiên/tuần xuống còn 1 phiên/tuần và có thể sẽ còn thấp hơn; theo đó số lượng tổ chức tham gia các phiên thầu cũng giảm từ 15 đơn vị tham gia nay chỉ còn 10 đơn vị, riêng phiên cuối cùng của năm 2013 có 16 đơn vị tham gia.

Tình trạng “ế” vàng đã xảy ra. Tại cuộc họp báo Chính phủ ngày 26-10-2013, trả lời câu hỏi của báo giới về việc đấu thầu vàng bị “ế” trong những phiên trước đó, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho rằng, việc bão hoà cung - cầu có thể là một trong những nguyên nhân. Để đánh giá một cách chính xác hơn thì phải thêm một số phiên nữa. Mặt khác, còn phải dựa vào giá của thế giới. Về quan điểm điều hành thị trường vàng của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới, Phó Thống đốc cho hay, cơ chế quản lý vàng đang áp dụng hiện nay đã được Chính phủ giao cho các cơ quan nghiên cứu trong nhiều năm.

Giới phân tích cho rằng, Nghị định 24/CP ra đời, thực sự đã đi vào cuộc sống. Việc quản lý thị trường vàng đã có những bước tiến đáng kể và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, để tiếp tục bình ổn thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước không nên tiếp tục cơ chế quản lý “một mình, một chợ”, điều tiết chủ yếu bằng biện pháp hành chính như đã làm. Cách quản lý này Trung Quốc đã áp dụng cách đây 10 năm và đã thất bại. Vì thế, Ngân hàng Nhà nước nên trở về với các chức năng, nhiệm vụ của một ngân hàng trung ương trong việc điều tiết chính sách tiền tệ và cải thiện môi trường vĩ mô, cũng như không tham gia sản xuất kinh doanh vàng như hiện nay mà nên trả lại việc kinh doanh vàng miếng cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nào đáp ứng đủ điều kiện sản xuất - kinh doanh, thì phải để họ tự hoạt động theo cơ chế thị trường. Nhà nước chỉ quản lý chất lượng vàng, trọng lượng, nhãn hiệu như các doanh nghiệp đã đăng ký, cho phép nhiều thương hiệu cùng tồn tại thay vì độc quyền SJC như hiện nay.

Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú khẳng định: hiện chúng ta mới chỉ mới bước đầu áp dụng cơ chế này để quản lý thị trường vàng, mà lại đặt vấn đề trả lại như ngày xưa thì rõ ràng chưa phải thời điểm. Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước là phải tiếp tục cơ chế quản lý vàng làm sao cho hiệu quả nhất. Quan điểm nêu trên của Phó Thống đốc cũng được nhiều chuyên gia trong giới nghiên cứu chia sẻ.

Về độ chênh lệch giữa giá vàng trong nước và trên thế giới tuy giảm nhiều nhưng vẫn còn lớn hơn 4 triệu đồng/lượng. Mặt khác, tỷ giá hối đoái giữa đồng USD và các đồng tiền có khả năng thanh toán quốc tế khác vẫn tiềm ẩn sự giao động bởi gói QE3 của Mỹ đã bắt đầu thu hẹp chỉ còn chảy ra thị trường 75 tỷ USD/ tháng và có thể kết thúc vào giữa năm 2014, khiến giá vàng thế giới cũng có thể tiếp tục biến động. Vì thế, theo ý kiến của một số chuyên gia, Ngân hàng Nhà nước vẫn nên tiếp tục điều hành thị trường vàng như vừa qua.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2014 do Ngân hàng Nhà nước nước tổ chức ngày 18-12-2013, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh “việc tiếp tục quản lý tốt thị trường vàng. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước phải độc quyền xuất nhập khẩu vàng; các ngân hàng thương mại dứt khoát không được huy động vàng, cho vay vàng; không để thị trường vàng làm mất ổn định kinh tế vĩ mô”.

Theo đánh giá của giới phân tích, trong giai đoạn hiện nay, ngoài Ngân hàng Nhà nước thì không có tổ chức kinh tế nào có thể thay thế, vì với lượng vàng nhiều như trong thời gian vừa qua thì khó có ngân hàng thương mại nào có khả năng đáp ứng. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước sớm chuyển giao cho thị trường tự điều tiết giá cả thì có thể lại gây ra những biến động lớn hơn, cung - cầu “ảo” trên thị trường tái xuất hiện, do nhóm lũng loạn có thể hoạt động trở lại.

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian vừa qua, khiến thị trường vàng mới được thiết lập, đang đi vào sự ổn định, chứ chưa phải có sự ổn định vững chắc. Nếu Ngân hàng Nhà nước sớm rút khỏi vai trò kinh doanh có thể sẽ đi đến sự triệt tiêu kết quả quản lý thị trường vàng mà Nhà nước đã đạt được trong thời gian vừa qua.

Có ý kiến cho rằng, Ngân hàng Nhà nước trong thời gian vừa qua đã phải sử dụng một lượng ngoại tệ từ dự trữ ngoại hối để mua vàng, vậy ảnh hưởng đến tỷ gia hối đoái trên thị trường liên ngân hàng là khó tránh. Các giới chức của Ngân hàng Nhà nước cho rằng, hiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang ở mức ổn định và được bổ sung qua việc cơ quan này đang tiếp tục mua ngoại tệ từ các tổ chức tín dụng, nên nếu có biến động cũng không lớn và vẫn nằm trong tầm kiểm soát.

Về mức chênh lệch giữa giá vàng trong và ngoài nước, nhiều chuyên gia cho rằng, mức chênh tối ưu do giá nhập nguyên vật liệu cộng thêm các chi phí hợp lý là phù hợp. Tuy nhiên, “khoảng cách” lý tưởng như vậy cần phải có thời gian. Giai đoạn đầu dưới góc độ điều hành của Nhà nước cần sự ổn định và lập lại trật tự thị trường vàng đã đạt được; giai đoạn hai bằng những cơ chế, đấu thầu kết hợp với giao dịch vàng thông thoáng, để dần ổn định cung cầu thị trường; và giai đoạn ba đi vào ổn định giá và mức chênh lệch hợp lý là cần thiết. Tuy nhiên, hiệu quả thực sự sự điều hành của Nhà nước kết hợp với cơ chế thị trường còn phụ thuộc vào sự phục hồi và tăng trưởng chung của nền kinh tế thế giới, nhất là nền kinh tế Mỹ với vai trò toàn cầu của đồng USD.

Đến những điều cần quan tâm

Bài học đầu tiên rút ra từ thực tiễn là, cần sớm phát hiện và triệt phá các nhóm lũng đoạn thị trường vàng, mà Đảng và Nhà nước ta gọi là “nhóm lợi ích”. Nhóm lợi ích này liên minh với nhau để thao túng thị trường, tạo ra cung - cầu “ảo” và những “cơn sốt” vàng nhằm thu lợi nhuận bất chính, làm rối loạn sự điều hành của Nhà nước. Đây có thể nói là bài học đắt giá mà ngành tài chính và hệ thống ngân hàng nước ta đã rút ra từ thực tế.

Tiếp đến là giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt. Mục tiêu lâu dài của nước ta như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra là “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường”, trong đó có thị trường vàng. Đây là vấn đề vừa có tính nguyên tắc vừa là quy luật. Tuy nhiên, việc điều hành thị trường vàng lại là một vấn đề thuộc nghệ thuật vận dụng quy luật. Trong bối cảnh do sự yếu kém của quá trình quản lý đã làm xuất hiện “nhóm lũng đoạn” hay còn gọi là “nhóm lợi ích” làm nảy sinh mâu thuẫn giữa thị trường và sự điều hành của Nhà nước. Vì thế, việc Nhà nước siết chặt kỷ cương thị trường vàng như thời gian vừa qua chỉ là giải pháp tình thế để đưa thị trường này trở lại quỹ đạo của quy luật mà thôi. Mới nhìn có vẻ như “trái quy luật” và “triệt tiêu thị trường” nhưng thực chất lại phản ánh đúng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.

Bên cạnh đó, việc kiên định mục tiêu “ổn định kinh tế vĩ mô” trong lĩnh vực quản lý thị trường vàng như vừa qua cũng là một bài học quý rút ra từ thực tiễn. Dư luận còn nhớ, chỉ sau hai tháng thực hiện Nghị định 24/2012/NĐ-CP, về việc Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo quy định (tháng 5-2013), một số chuyên gia có “tầm cỡ” của Việt Nam đã cho rằng, Ngân hàng Nhà nước trong động thái quản lý thị trường vàng đã không đạt được mục tiêu bình ổn thị trường, vì giá vàng trong nước vẫn bị chi phối bởi giá vàng thế giới, và trong khi giá vàng thế giới giảm, giá vàng trong nước vẫn cao, khiến độ chênh lại có xu hướng doãng ra. Tình trạng ôm đồm bao gồm cả kinh doanh và quản lý đã khiến dư luận nghi ngờ về “khả năng” định giá và dự báo giá vàng của Ngân hàng Nhà nước trong tương lai, nhất là sau phiên đấu giá thứ 13, hôm 03-5-2013.

Theo các chuyên gia nói trên, thế giới chưa có ngân hàng nào vừa độc quyền nhập khẩu nguyên liệu, sản xuất, vừa đấu giá để cấp nguồn cung vàng cho thị trường. Trong khi tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước lại kiêm tất cả vai trò này. Vì khi đã kinh doanh thì khó có thể đứng ra bình ổn thị trường, mà bình ổn thì cần kéo giá xuống cho gần hơn với giá thế giới, nhưng lợi ích kinh doanh lại triệt tiêu xu hướng này. Với vai trò độc quyền, giá của Ngân hàng Nhà nước đưa ra, mặc nhiên được các chủ thể tham gia thị trường coi đó là giá tham chiếu. Giá này luôn ở mức cao hơn so với giá thế giới. Vì vậy, mục tiêu bình ổn giá là khó thực hiện được và có thể coi là thất bại.

Tuy nhiên, một xu hướng khác khá mạnh lại đồng tình với nhận định của Ngân hàng Nhà nước và cho rằng, cần có sự kiên định và linh hoạt, mặc dù giá vàng lúc lên, lúc xuống, có lúc xuống nhiều có lúc xuống ít, nhưng về cơ bản sẽ giảm dần, điều quan trọng là Ngân hàng Nhà nước có đủ khả năng cung ứng vàng mà không sợ thiếu và điều này đã được chứng minh. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước đã tỏ rõ quyết tâm thực hiện chủ trương bình ổn thị trường vàng, không nhượng bộ, không có ngoại lệ. Và thực tế cơ chế đấu thầu vàng đã loại trừ các “cơn sốt”, do các “nhóm lũng đoạn” thao túng thị trường và cũng không bị mang tiếng là “bù giá” cho các “đại gia” vàng.

Thực tế cho thấy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trong chương trình Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời hồi tháng 5 và 12-2013 đã đúng khi cho rằng: mục tiêu trước mắt và trực tiếp là bình ổn thị trường vàng nói chung trong đó có bình ổn giá trong nước để tránh việc đầu cơ trục lợi do giá lên xuống thất thường. Nếu chúng ta làm tốt công tác này cộng với việc tiếp tục ổn định được kinh tế vĩ mô thì chắc chắn rằng giá trong nước và thế giới sẽ sát lại gần nhau hơn là có cơ sở. Vì thế, sự đồng thuận xã hội cũng có thể coi là bài học quý trong cách điều hành thị trường vàng thời gian vừa qua.

Và tiếp tục khai thác thị trường

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã kiên quyết xóa bỏ hiện tượng “vàng hóa” qua việc yêu cầu các ngân hàng thương mại chấm dứt việc huy động và cho vay vàng là cần thiết. Thời gian tới, nếu Ngân hàng Nhà nước tiếp huy động vàng trong dân để phục vụ cho các chương trình dự án làm lợi cho nền kinh tế đồng thời trả cho nhân dân mức lãi suất hợp lý thì đây sẽ là phương án, sử dụng số vàng dự trữ trong dân một cách hiệu quả nhất.

Theo giới chuyên gia, khi thị trường vàng đã tương đối ổn định thì ngoài kênh đấu thầu như hiện nay cần chuẩn bị thành lập “sàn vàng quốc gia”, vì trong tương lai nguồn vàng trong dân còn rất lớn và cần được huy động cho việc phát triển kinh tế. Kênh đầu tư này trước mắt cũng vẫn cần Ngân hàng Nhà nước đứng ra huy động khi nào ổn định mới giao cho ngân hàng thương mại điều hành. Việc thành lập sàn vàng quốc gia là rất quan trọng. Đó là “sân chơi” cho tất cả thành phần kinh tế. Khi đó, giá vàng biến động từng giây, từng phút, những người giao dịch đều thể hiện trên sàn vàng. Tất cả các thành phần kinh tế nhìn vào hoạt động của sàn vàng có thể nắm bắt tình hình thực tế của thị trường này và có thể đưa ra những dự đoán chính xác trong tương lai.

Các chuyên gia cũng cho rằng, nên thành lập sàn giao dịch vàng càng sớm càng tốt, không cần phải đợi đến khi Ngân hàng Nhà nước rút khỏi thị trường vàng. Tuy nhiên, cần phải có những bước chuẩn bị kỹ lưỡng về cơ chế, hạ tầng cơ sở, công nghệ thông tin… tạo điều kiện cho sàn vàng giao dịch tốt nhất ngay từ khi khai trương. Những phiên đấu thầu vàng vừa qua giúp Ngân hàng Nhà nước rút ra những kinh nghiệm quý báu thực tế từ vấn đề giao dịch vàng; những quy định thị trường, giao dịch vàng, dù chưa hoàn thiện nhưng cũng có thể áp dụng cho hoạt động của sàn giao dịch vàng, vì Ngân hàng Nhà nước là người nắm được yêu cầu của thị trường khá rõ, đồng thời cũng là cơ quan quản lý, nên Ngân hàng Nhà nước phải là người cầm chịch trong việc xây dựng sàn vàng quốc gia ngay từ khi thành lập là cần thiết.

Hiện nay, giá vàng trong nước và thế giới vẫn còn có sự chênh lệch lớn, còn nhiều rủi ro nên nhu cầu mua vàng giảm dần. Số người mua vẫn có nhưng không nhiều như trước. Như vậy, rõ ràng là Việt Nam đang thực hiện tốt vai trò chống “vàng hóa” có hiệu quả. Người dân có nhu cầu mua vàng là chuyện bình thường. Đó là tập quán lâu đời nhưng lượng mua giảm dần so với trước đây. Lý do là người dân cảm nhận giá vàng trước đây biến động thất thường, có những đêm lên tới 50-60 USD (tương đương gần 1,5 triệu đồng) thì nay đã khác. Việc huy động vàng trong dân sẽ có một bài toán trong tương lai. Để làm được việc này thì những người làm điều phối phải bảo đảm được tính an toàn cho người huy động. Do đó, phải có thị trường phái sinh để thực hiện các công cụ bảo hiểm giá vàng, giống như công cụ bình chọn, thị trường giao sau..., tức là khi Nhà nước huy động xong lượng vàng có thể bán ra nhưng nếu giá vàng lên thì đã có bảo hiểm để bù đắp, khi đó cơ chế huy động vàng mới thành công. Mặt khác, khi đưa thị trường vàng đi vào trật tự, ổn định cũng sẽ tác động làm cho thị trường ngoại tệ tự do không hỗn loạn và không bị ai đó thao túng như trước. Đây có thể sẽ là thành công lớn nhằm chống được sự “vàng hóa”, đồng thời cũng chống được cả hiện tượng “đô la hóa”.

Có chuyên gia cho rằng, thị trường vàng rất “lạnh”, cho nên việc xử lý vàng không nên nóng vội, phải bình tĩnh, kiên định và linh hoạt. Kinh tế thế giới dần phục hồi và phát triển ổn định, khi đó mới tạo ra được một sàn giao dịch vàng giống như các nước, tạo được nguồn cung cầu vàng, thay vì phải nhập khẩu vàng như hiện nay thì mới có thể khắc phục được những hạn chế của đấu thầu vàng như vừa qua.

Như vậy, việc Nhà nước đột phá vào khâu quản lý thị trường vàng - một trong những lĩnh vực “nhạy cảm” của nền tài chính - tiền tệ quốc gia là cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế đang có những khó khăn do tác động tiêu cực của cả kinh tế trong nước và sự trì trệ của kinh tế toàn cầu, nhất là kinh tế Mỹ và châu Âu. Những bài học thành công trong điều hành vĩ mô nhằm ổn định thị trường vàng có thể được nhân rộng ra các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn như hiện nay./.