Phía trước Áp-ga-ni-xtan còn nhiều chông gai

Linh Vũ
20:55, ngày 09-12-2013
TCCSĐT - Áp-ga-ni-xtan chuẩn bị bầu tổng thống mới mà không có sự tham gia Tổng thống đương nhiệm dày dạn kinh nghiệm Ha-mít Ca-dai, trong khi Ta-li-ban liên tục gây ra những vụ khủng bố, bất hợp tác với chính quyền; quân đội NATO lại rục rịch rút hết khỏi nước này vào cuối năm 2014, còn Hiệp ước An ninh song phương giữa Mỹ và Áp-ga-ni-xtan (BSA) vẫn chưa được ký. Tất cả điều đó đang tạo ra sức ép và nguy hiểm trên con đường phía trước của xứ sở này.
Mỹ không cam chịu “trắng tay”

Mỹ và các đồng minh NATO đã cam kết sẽ rút hết binh sĩ khỏi Áp-ga-ni-xtan trước ngày 31-12-2014. Tuy nhiên, họ không muốn “trắng tay”, không chịu mang tiếng “tiền mất, tật mang”, khi rút khỏi xứ sở mà họ đã “đầu tư” tốn kém hàng nghìn sinh mệnh với hơn 6 nghìn tỷ USD. Chính vì vậy trong suốt năm qua, Oa-sinh-tơn đã đôn đáo đàm phán với Ca-bun để có thể ký được Hiệp ước An ninh Mỹ - Áp-ga-ni-xtan (BSA), nhằm tiếp tục duy trì khoảng 5.000-10.000 quân ở xứ sở Tây - Nam Á này sau năm 2014.

Cho đến nay, mặc dù còn một loạt những vấn đề nhạy cảm gây bế tắc, nhưng Mỹ vẫn bày tỏ hy vọng sẽ sớm dàn xếp để có thể ký được Hiệp ước BSA. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chắc Hây-gơ (Chuck Hagel) khi tham dự Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng NATO tại Brúc-xen (Bỉ), ngày 24-10 đã thừa nhận rằng, tuy còn có những khó khăn nhưng “nếu mọi việc diễn ra theo đúng kịch bản của Mỹ, chúng tôi vẫn có thể ký Hiệp ước An ninh với Áp-ga-ni-xtan trong thời gian sớm nhất”.

Trước đó, vào hai ngày 11 và 12-10, Ngoại trưởng Mỹ Giôn Ke-ry (John Kerry) đã có chuyến thăm không báo trước tới Ca-bun để hội đàm với Tổng thống nước chủ nhà Ha-mít Ca-dai (Hamid Karzai), người từng nhiều lần khẳng định sẽ có những nguyên tắc cứng rắn đối với quy chế dành cho binh sĩ nước ngoài đồn trú tại Áp-ga-ni-xtan sau năm 2014. Phát biểu sau chuyến thăm, ông G. Ke-ry cho rằng, hai bên chỉ còn duy nhất một vấn đề chưa nhất trí được với nhau liên quan đến yêu sách của Oa-sinh-tơn đòi trao quyền miễn trừ cho lính Mỹ.

Tổng Thư ký NATO An-đơ Phốc Ra-xmút-sen (Anders Fogh Rasmussen) cũng bày tỏ hy vọng Hiệp ước BSA sẽ sớm được thông qua để tạo đà cho một hiệp định tương tự giữa Áp-ga-ni-xtan với NATO. Theo lời ông A.F. Ra-xmút-sen, Hiệp ước BSA sẽ tạo cơ sở cho một thỏa thuận riêng rẽ về quy chế đối với số lính Mỹ và NATO sẽ ở lại Áp-ga-ni-xtan sau khi phần lớn trong 87.000 binh sỹ hiện nay rút vào cuối năm 2014.

Mỹ muốn duy trì binh sĩ của họ ở lại xứ sở này để tiếp tục cuộc chiến chống các thế lực khủng bố quốc tế An Kê-đa (Al Qaeda), cũng như các tàn dư Ta-li-ban cấu kết với các thế lực khủng bố; đồng thời làm nhiệm vụ huấn luyện cho quân đội Áp-ga-ni-xtan. Tuy nhiên, bất cứ nhà phân tích hay chuyên gia quân sự nào cũng thấy rõ, việc Oa-sinh-tơn muốn duy trì sự có mặt quân sự của họ tại Áp-ga-ni-xtan không đơn thuần chỉ dừng lại ở những mục tiêu đơn giản như vậy. Oa-sinh-tơn xác định lợi ích an ninh quốc gia chủ yếu tại Nam Á là duy trì sự hiện diện quân sự và ảnh hưởng của họ tại khu vực địa - chính trị chiến lược quan trọng này. Ngoài ra, việc duy trì quân đội NATO tại Áp-ga-ni-xtan còn mang ý nghĩa chiến lược trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế mà họ đã theo đuổi hàng chục năm nay.

Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma đang rơi vào tình thế khó xử do Áp-ga-ni-xtan lo ngại về chủ quyền của mình khi Oa-sinh-tơn đề nghị binh lính Mỹ ở lại nước này sau năm 2014 phải được quyền miễn trừ pháp lý. Phía Mỹ lập luận rằng, theo Hiến pháp nước họ, Chính phủ không thể cho phép binh sỹ Mỹ đóng quân ở nước ngoài, nếu không được bảo đảm quyền miễn trừ pháp lý. Hiện Tổng thống B. Ô-ba-ma đang đe dọa Mỹ sẽ rút hết quân khỏi Áp-ga-ni-xtan sau năm 2014, nếu binh sỹ Mỹ không được quyền này. Và nếu điều đó xảy ra, quân đội chính phủ Áp-ga-ni-xtan sẽ rất khó bảo vệ an ninh cho người dân, cũng như cho chính bộ máy của nhà nước. Đó là chưa nói tới mục tiêu lâu dài của Ta-li-ban là giành lại quyền “làm chủ” ở mảnh đất rất giàu tài nguyên còn đang nằm sâu trong lòng đất, chưa được khai thác này.

Tổng thống Ha-mít Ca-dai chưa sẵn sàng ký Hiệp ước BSA vì ông có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, không muốn mình là người dành quyền miễn trừ pháp lý cho lính Mỹ, hay bất cứ binh lính nước ngoài nào trên lãnh thổ Áp-ga-ni-xtan, bởi làm như vậy nghĩa là ông đã từ bỏ một phần chủ quyền dân tộc rất thiêng liêng của đất nước mình. Tổng thống Ha-mít Ca-dai cho biết, ông sẽ triệu tập một Hội đồng các nhân vật có uy tín có tên Loya Jerga để tư vấn quyết định việc Áp-ga-ni-xtan có nên ký Hiệp ước BSA hay không. Thành phần của Hội đồng này phần lớn do chính quyền kiểm soát nên ông H. Ca-dai không dễ thuyết phục được họ thông qua điều khoản liên quan đến quyền miễn trừ pháp lý cho lính Mỹ bởi các thành viên này đã từng từ chối việc công nhận điều khoản trên vào năm ngoái.

Thủ lĩnh Ta-li-ban, Giáo chủ Mu-la Ma-ha-mát Ô-ma (Mullah Mahammad Omar) cũng đã cảnh báo rằng, việc ký một thỏa thuận gây ra hậu họa nghiêm trọng cho Áp-ga-ni-xtan sẽ không tạo thuận lợi cho Oa-sinh-tơn, hiện đang muốn thương lượng với cả Ta-li-ban lẫn Ca-bun trong việc tìm kiếm một nền hòa bình khó khăn với Ta-li-ban. Giáo chủ M. Ô-ma nhấn mạnh rằng: “Ta-li-ban sẽ không bao giờ chấp nhận việc Mỹ duy trì các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Áp-ga-ni-xtan. Chúng tôi sẽ tiến hành cuộc thánh chiến chống Mỹ với động lực còn mạnh mẽ hơn nữa”.

Trong khi đó, các thế lực đối lập chính trị lại chỉ trích thái độ do dự của Tổng thống Ha-mít Ca-dai và sự chậm trễ của ông trong việc ký Hiệp ước BSA. Lực lượng này, nhất là các đảng phái có ảnh hưởng mạnh với các sắc tộc Tát-dích (Tadjike), Ha-da-ra (Hazara) và U-dơ-bếch (Ouzbeke) rất lo ngại quân Ta-li-ban trở lại cầm quyền, khi binh lính nước ngoài không còn hiện diện ở Áp-ga-ni-xtan. Mặt khác, cũng phải thừa nhận một thực tế là, suốt 12 năm qua, khi có hàng trăm nghìn binh sĩ các nước NATO đóng quân ở khắp các miền trên đất nước này và cam kết giúp chính quyền Ca-bun giữ gìn an ninh, thì ở đó vẫn chưa có một ngày nào thực sự bình yên. Bởi thế dư luận hoàn toàn có cơ sở để nghi ngờ rằng, cho dù Mỹ và các nước NATO có ký được với Áp-ga-ni-xtan các hiệp ước hợp tác an ninh, nghĩa là sẽ có 10 nghìn hay vài chục nghìn quân NATO tiếp tục ở lại nước này, thì sau năm 2014 liệu họ có thể bảo đảm cho người dân nước này một cuộc sống yên ổn, hòa bình?!

Những vướng mắc gây trở ngại cho việc ký Hiệp ước BSA, rõ ràng không xuất phát từ phía Áp-ga-ni-xtan. Trước Mỹ, nhiều nước chẳng hạn như Anh, Pháp, Đức, I-ta-li-a và các nước láng giềng như I-ran, Ấn Độ… đã thương lượng và ký với Áp-ga-ni-xtan những hiệp định tương tự, mà hoàn toàn không gặp khó khăn gì, trừ trường hợp với nước láng giềng Pa-ki-xtan, lâu nay có mối quan hệ căng thẳng với Áp-ga-ni-xtan. Còn lại, hầu hết các nước láng giềng của Áp-ga-ni-xtan, đặc biệt I-ran, đều kiên quyết phản đối việc quân đội Mỹ thiết lập các căn cứ quân sự lâu dài ở Áp-ga-ni-xtan, bởi điều đó sẽ ảnh hưởng nặng nề tới nền chính trị độc lập của các nước trong khu vực, cũng như các mối quan hệ kinh tế của khu vực này với các nước trên thế giới.

Những nguy cơ tiềm ẩn trong năm 2014

Giới phân tích cho rằng, năm 2014 sẽ là “bước ngoặt” trong lịch sử Áp-ga-ni-xtan. Đầu tháng 4-2014, quốc gia này sẽ tiến hành cuộc bầu cử tổng thống mới mà thiếu vắng Tổng thống Ha-mít Ca-dai, người đã chèo lái đất nước này suốt 10 năm, vượt qua biết bao gian nan, thách thức, giữ cho một Áp-ga-ni-xtan không bị sụp đổ, thậm chí trong mấy năm gần đây chỉ số tăng trưởng kinh tế còn ở mức khá cao, GDP tăng từ 6 đến 8,5%/năm.

Trong cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 05-4-2014 sẽ không có ứng cử viên Ha-mít Ca-dai, vì Hiến pháp nước này quy định một người không được phép làm tống thống quá 2 nhiệm kỳ liên tục. Ông Ha-mít Ca-dai bắt đầu giữ cương vị này từ đầu tháng 12-2004 và sẽ kết thúc nhiệm kỳ II vào năm 2014. Hiện dư luận trong cũng như ngoài nước Áp-ga-ni-xtan lo ngại nhất là kịch bản liệu có một “lãnh chúa chiến tranh” thắng cử trong cuộc bầu cử sắp tới. Bởi như vậy, đất nước này có thể sẽ bị nhấn chìm trong tình trạng vô chính phủ. Hầu như tất cả các “lãnh chúa hiếu chiến” ở xứ sở này đều có đội quân riêng, mà quân đội chính phủ không dễ khuất phục. Hơn nữa, các “lãnh chúa chiến tranh” đều phản đối mọi sự hòa giải với Ta-li-ban. Điều đó, đương nhiên, sẽ tiềm ẩn vô vàn bất trắc cho tương lai của xứ sở Tây - Nam Á này.

Trên thực tế, cả Ca-bun và Oa-sinh-tơn đều ngầm hiểu rằng, một khi quân đội nước ngoài rút hết, Ta-li-ban và nhiều thế lực Hồi giáo cực đoan khác sẽ nổi lên, đương nhiên họ đều mong muốn giành lấy chính quyền, hoặc thông qua lá phiếu bầu cử, hoặc bằng vũ lực. Cuối năm 2001, khi liên quân NATO rầm rộ oanh tạc, rồi kéo quân như vũ bão vào Áp-ga-ni-xtan với lý do truy tìm, tiêu diệt các thế lực khủng bố quốc tế An Kê-đa, bởi chúng vừa tiến hành cuộc khủng bố kinh hoàng 11-9-2001 tại Mỹ, Oa-sinh-tơn còn dễ bề giải thích trước dư luận thế giới và cũng được nhiều người thông cảm, đồng tình và ủng hộ. Thế nhưng thực tế hơn 10 năm qua cho thấy, diễn biến tình hình của liên quân NATO ở Áp-ga-ni-xtan, cả trên các phương diện quân sự, chính trị và kinh tế, đã không hoàn toàn như người Mỹ tuyên bố. Đằng sau những gì đang diễn ra ở Áp-ga-ni-xtan là cả một kế hoạch dài lâu, một chiến lược địa chính trị không chỉ giới hạn trong khuôn khổ khu vực Tây-Nam Á, mà còn liên quan đến cả khu vực Trung Đông và Trung Á.

Ba kịch bản chính có thể xảy ra, sau năm 2014

Thứ nhất, nếu Hiệp ước BSA trở thành hiện thực, nghĩa là còn có sự hiện diện ở một mức nào đó của quân đội Mỹ (thậm chí cả các nước NATO khác) ở Áp-ga-ni-xtan và tân Tổng thống đủ tài giỏi và uy tín giữ vững được chính quyền như hiện nay, thì tình hình an ninh, xã hội và sự phát triển kinh tế ở nước này vẫn sẽ “nhùng nhằng” như hiện nay. Khi đó cuộc chiến giữa quân chính phủ với các lực lượng đối lập sẽ kéo dài và đến một lúc nào đó nếu quân chính phủ không đủ vững mạnh đè bẹp đối phương, có thể sẽ dẫn đến một cuộc nội chiến.

Thứ hai, trường hợp dù ký được Hiệp ước BSA, nhưng cương vị người thuyền trưởng lèo lái đất nước lại rơi vào tay một “lãnh chúa chiến tranh”, thì tình hình ở đất nước này sẽ xấu đi. Tuy nhiên, một khi còn có quân đội nước ngoài, thì quân Ta-li-ban, hay của bất cứ “lãnh chúa chiến tranh” nào ngồi được vào chiếc ghế tổng thống, cũng không dễ gì có thể nhanh chóng đánh bại các đội quân khác, bởi chắc chắn quân nước ngoài sẽ bảo vệ quân chính phủ. Trong tình hình đó cuộc chiến giữa các phe phái ở đất nước này cũng sẽ kéo dài và không loại trừ khả năng dẫn đến nội chiến.

Thứ ba, nếu không ký được Hiệp ước BSA, nghĩa là không còn quân đội nước ngoài, khi đó, chính quyền rơi vào tay một “lãnh chúa hiếu chiến”, chắc chắn đất nước Áp-ga-ni-xtan sẽ nhanh chóng bị nhấn chìm vào tình trạng lộn xộn, phe nọ, phái kia câu kết chống lại nhau. Cuối cùng Ta-li-ban sẽ hưởng lợi, họ sẽ nhanh chóng trở lại chính quyền, nghĩa là xứ sở Tây Nam Á này sau hơn một thập kỷ bị nước ngoài chiến đóng và hậu thuẫn cho chính quyền Ca-bun, sẽ lại quay trở về vạch xuất phát.

Với những khả năng rõ ràng bày ra trước mắt đó, cả chính quyền Ca-bun và Oa-sinh-tơn đều không muốn. Chỉ còn một thời gian ngắn đến cuộc bầu cử và hơn một năm nữa quân đội nước ngoài về nguyên tắc phải rút hết. Trong bối cảnh đó rõ ràng Mỹ và các nước NATO khác đều ra sức tính toán cách bảo vệ lợi ích, chí ít cũng là “bảo vệ danh dự rút lui trên thảm đỏ”. Mặt khác, ngày càng thấy rõ, ông Ha-mít Ca-dai cũng đã có những tính toán riêng cho một tương lai của Áp-ga-ni-xtan “Hậu NATO”.

Những cạnh tranh và toan tính


Có thể thấy, Áp-ga-ni-xtan là một trong những quốc gia nghèo và kém phát triển nhất, hiện kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tiểu thủ công và du lịch. Theo nhận định của giới phân tích, một phần ba GDP của nước này thu được từ cây thuốc phiện và buôn bán trái phép các loại chất có nguồn gốc từ cây này như moóc-phin hay hê-rô-in. Trong thời gian hơn chục năm quân NATO chiếm đóng, khối lượng sản xuất ma túy tại xứ sở Tây - Nam Á này đã tăng 40 lần. Các khu vực trồng cây thuốc phiện luôn gắn liền với những cuộc nổi dậy của phiến quân Ta-li-ban. Chúng dùng chính lợi nhuận thu được từ ma túy để tổ chức các hoạt động chống phá chính quyền Áp-ga-ni-xtan, cũng như lực lượng liên quân NATO. Và cũng thật trớ trêu, chính một số sĩ quan Mỹ và NATO đóng quân tại xứ sở này đã tiếp tay cho các đường dây vận chuyển lậu thứ hàng độc hại này. Phần lớn các sản phẩm ma túy từ đây được tuồn lậu ra khắp thế giới, nhất là đưa đến Mỹ và châu Âu.

Thật ra, người Áp-ga-ni-xtan đang sống trên “đống vàng” mà họ chưa có điều kiện khai thác. Theo các số liệu của các chuyên gia địa chất Mỹ, khoáng sản trong lòng đất quốc gia này có giá trị không dưới 3.000 tỷ USD. Ngoài sắt, vàng, đồng, Áp-ga-ni-xtan rất giàu li-thi-um - một nguồn “năng lượng đặc biệt”, chủ yếu dùng để sản xuất các loại pin của máy tính xách tay và bút ghi điện não đồ. Trong xu thế toàn cầu đang gấp rút triển khai phát triển nguồn “năng lượng xanh”, chắc chắn nhu cầu về li-thi-um trong thế kỷ XXI sẽ tăng lên rất nhiều. Với một đất nước giàu khoáng sản như thế, hoàn toàn dễ hiểu vì sao nhiều người muốn nhòm ngó tới Áp-ga-ni-xtan.

Bên cạnh đó, “người hàng xóm” Pa-ki-xtan rất quan tâm tới Áp-ga-ni-xtan, bởi vì đây là hai nước láng giềng chung đường biên giới. Hơn nữa lâu nay Pa-ki-xtan vẫn được coi là một đồng minh chiến lược của Mỹ ở khu vực Tây - Nam Á, có vai trò đặc biệt trong cuộc chiến chống khủng bố. Không phải ngẫu nhiên mà I-xla-ma-bát đã không hoàn toàn làm theo “chiếc gậy chỉ huy” của Mỹ, không phối hợp chặt chẽ với Mỹ và NATO trong cuộc chiến với quân Ta-li-ban. Rõ ràng, người Pa-ki-xtan đã tính tới tương lai lâu dài của Áp-ga-ni-xtan. Một khi Ta-li-ban quay trở lại chính quyền, thì I-xla-ma-bát sẽ là người được hưởng lợi nhiều nhất. Cho dù có ký được Hiệp ước BSA thì Mỹ và NATO cũng không thể “ăn đời, ở kiếp” tại xứ sở này. Hơn thế, thực tế đã cho thấy, ngay cả thời gian hơn chục năm, với hàng trăm nghìn binh sĩ, tiêu tốn hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thì họ cũng đã phải căng sức, gồng mình vô cùng gian khổ, đổ biết bao xương máu mới có thể bảo đảm an ninh ở mức độ tối thiểu cho Áp-ga-ni-xtan.

Chắc chắn Oa-sinh-tơn biết rõ những toan tính của I-xla-ma-bát, nhưng đành phải “làm ngơ” vì những ý đồ chiến lược quan trọng hơn. Dù sao Pa-ki-xtan vẫn là một cường quốc hạt nhân mà Mỹ cần tranh thủ, lôi kéo, để có thể kiềm chế I-ran, một quốc gia Hồi giáo “cứng đầu, cứng cổ” suốt mấy thập kỷ qua dám đương đầu chống Mỹ. Vả lại, nếu Oa-sinh-tơn làm căng với I-xla-ma-bát, thì không những Mỹ khó buộc chặt nước này trong cùng chiến hào chống chủ nghĩa khủng bố, mà còn có thể làm các nhà lãnh đạo Pa-ki-xtan tức giận, dẫn đến một sự tan vỡ liên minh.

Hơn thế, trong thời gian gần đây, thấy rõ việc không dễ đè bẹp và loại hẳn Ta-li-ban khỏi “cuộc chơi”, Oa-sinh-tơn đã chuẩn bị các phương án lui quân, trong khi vẫn giữ được ảnh hưởng và bảo vệ được lợi ích ở khu vực. Một trong những phương án đó là hối thúc và tạo điều kiện để Niu Đê-li tham gia tích cực hơn vào vấn đề an ninh của Áp-ga-ni-xtan. Bởi Oa-sinh-tơn hiểu rằng, Ấn Độ, một quốc gia trong nhóm các nước có nền kinh tế mới nổi BRICS, cũng rất cần các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ Áp-ga-ni-xtan.

Với những sự kiện trên cho thấy, bằng những cách tiếp cận khác nhau nhưng rõ ràng các cường quốc láng giềng khu vực đều rất quan tâm tới tương lai của Áp-ga-ni-xtan. Trong năm 2014 và những năm kế tiếp, cuộc cạnh tranh giữa các nước đầu tư vào Áp-ga-ni-xtan nhằm chia sẻ một phần nguồn tài nguyên giàu có của xứ sở này chắc chắn sẽ càng trở nên quyết liệt và phức tạp hơn./.