TCCSĐT - Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định: “phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”. Đây là một trong những chủ trương có vai trò định hướng rất quan trọng trong thời kỳ mới đến năm 2020. Ngay từ Đại hội lần thứ IX (năm 2001), lần đầu tiên Đảng ta xác định: "Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất" và đề ra định hướng "từng bước phát triển kinh tế tri thức". Đến Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng ta lại nhấn mạnh "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức". Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng có sự phát triển mới về nhận thức lý luận và thực tiễn, đề ra định hướng: “phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.

Sự đánh giá đúng đắn vị trí vai trò của kinh tế tri thức còn thể hiện trong việc coi phát triển kinh tế tri thức là phương hướng số một trong 8 phương hướng cơ bản xây dựng nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); là một trong những định hướng lớn về khoa học công nghệ; là một nội dung, nhiệm vụ chủ yếu trong sự nghiệp đổi mới trong nhiệm kỳ 5 năm tới của Đảng. Có thể coi đây là một trong những chủ trương có tính đột phá trong các giải pháp để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta so với các nước đi trước, và là nhân tố bảo đảm sự phát triển nhanh, cân bằng và bền vững của nền kinh tế nước nhà trong tương lai.

Đây là một chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo có cơ sở lý luận và thực tiễn cao, chắc chắn sẽ sớm phát huy vai trò tích cực, là động lực trong phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc. Để sớm đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng vào đời sống thực tiễn, cần tập trung vào một số giải pháp quan trọng dưới đây:

Một là, sớm xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế tri thức, coi đây là khâu đột phá để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, coi việc tập trung nguồn lực cho phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là ở bậc đại học và dạy nghề, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, những nhà khoa học, công nghệ đầu đàn, những doanh nhân tầm cỡ và lao động lành nghề. Đồng thời, phải trí thức hóa giai cấp công nhân, nông dân lao động, nâng cao dân trí trong toàn xã hội. Cơ sở vật chất và các trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học phải được triển khai cùng với những chủ trương, chính sách khác để tập trung vào một số lĩnh vực có chọn lọc mà chúng ta thường nói là “đi tắt đón đầu”.

Cần đổi mới chính sách để tạo nguồn lực và khai thác có hiệu quả nguồn lực mới (giáo dục - thông tin - tri thức) đang tiềm ẩn ở nước ta. Đặc biệt coi trọng nguồn vốn trí tuệ đã và đang có trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội , quốc phòng, an ninh ở trong nước và của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt khác, cần có chiến lược đúng đắn về nhân tài trong tổng thể chiến lược con người trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Theo khuyến cáo của Viện Ngân hàng thế giới (WBI): “Một quốc gia muốn chuyển sang nền kinh tế tri thức cần hình thành 4 trụ cột: (1) Lực lượng lao động có giáo dục và có kỹ năng; (2) hệ thống sáng tạo hiệu quả; (3) cơ sở hạ tầng thông tin (ICT) hiện đại; (4) hệ thống thể chế về kinh tế được cập nhật”.

Kết hợp công nghiệp hóa với hiện đại hóa, kết hợp quá trình phát triển tuần tự với “đi tắt đón đầu”, từng bước phát triển kinh tế tri thức nhằm mục tiêu vừa phát triển cân bằng, nhanh và bền vững, vừa rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và thế giới.

Mặc dù các chỉ tiêu về giáo dục, đào tạo, công nhân tri thức, ngành công nghệ cao... vẫn còn thấp hơn so với các nước trong khu vực và thế giới nhưng tiềm năng thì rất lớn, nhất là tiềm năng trí tuệ - tri thức của con người Việt Nam. Theo thống kê cho thấy hiện nay đã có khoảng hơn 200.000 người Việt Nam mang quốc tịch Mỹ đang làm việc tại thung lũng chất xám (Silicon Valley). Trong đó, có hơn 10.000 người từ 40 tuổi trở lên đã là những chuyên gia đầu ngành có thể điều hành ở cơ sở kinh doanh và nghiên cứu khoa học giỏi. Trong nước, cho đến nay cũng đã có hàng triệu nhà khoa học, cán bộ kỹ sư, công nhân viên có trình độ cao có thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế tri thức của các ngành, các lĩnh vực kinh tế có thể tiếp cận trình độ khoa học thế giới.

 Hai là, cần đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức toàn dân về thời cơ và thách thức đối với dân tộc ta khi nhân loại đang có một bước chuyển quan trọng, quyết định từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh trí tuệ - tương ứng với thời kỳ quá độ lên CNXH, để bắt nhịp với nền kinh tế tri thức đang hình thành trên thế giới, đây cũng là cơ hội để thực hiện đường lối mà Đảng ta đã vạch ra là "đi tắt, đón đầu" trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Nhân loại càng ngày càng nhận thức rõ hơn rằng kinh tế tri thức sẽ là nền kinh tế của thế kỷ XXI, nhất là sau cuộc đại khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ năm 2008, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên đang cận kề, môi trường sinh thái bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, sự “trả đũa” của tự nhiên đối với những hành vi phá hoại môi trường sinh thái của con người ngày càng rõ nét… thì con đường duy nhất mà loài người phải vươn tới là CNXH đích thực và kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất tiêu biểu cho nền văn mimh trí tuệ - văn minh xã hội XHCN.

Chúng ta cần nhận rõ những thách thức để có quyết tâm và giải pháp vươn lên trình độ tiên tiến thế giới, vì nước ta hiện còn có khoảng cách khá xa so với các nước đang đi vào nền kinh tế tri thức trong khu vực. Theo thống kê so sánh 3 ngành kinh tế của Việt Nam và Nhật Bản là: Nông, lâm nghiệp, thuỷ- hải sản; Công nghiệp (chế biến, khai khoáng); Thương mại, dịch vụ… (tài chính, tín dụng) thì GDP của mỗi nước có độ chênh lệch là:

 

                                                            Bảng thống kê

Ngành kinh tế

Việt Nam, đóng góp vào GDP

Nhật Bản, đóng góp vào GDP

(1) Nông, lâm nghiệp, thuỷ hải sản

20,34%

0,9%

(2) Công nghiệp

      (chế biến, khai khoáng)

41,48%

31,03%

28,9%

21% (chế tạo)

(3) Thương mại, dịch vụ…

      (tài chính, tín dụng)

38,18%

1,8%

70,8%

30,9% (dịch vụ)

Ở ngành (1) của Việt Nam đóng góp vào GDP 20,34%, trong khi ngành này ở Nhật Bản chưa đến 1%; ở ngành (2) của Việt Nam đóng góp vào GDP 41,48% (riêng khai khoáng và công nghiệp chế biến đóng góp 31,03% tương đương 1/3 của GDP), trong khi ngành này của Nhật Bản chỉ là 28,9% (phần công nghiệp chế tạo là 21%); ở ngành (3) của Việt Nam đóng góp vào GDP 38,18%, trong khi ngành này ở Nhật Bản đóng góp tới 70,8% tương đương 2/3 GDP. Điều đáng quan tâm là ngành tài chính tín dụng của Việt Nam chỉ đóng góp vào GDP với con số 1,8%, trong khi ở Nhật Bản ngành này đóng góp 30,9% tương đương 1/3 GDP.

Qua bảng thống kê, so sánh cho thấy GDP của nước ta phần lớn vẫn do những ngành sản xuất giản đơn, hàm lượng tri thức cao chiếm tỷ trọng thấp, còn ở Nhật Bản phần lớn GDP có được lại do các hoạt động kinh tế không liên quan trực tiếp đến việc làm ra hàng hóa(công nghiệp tri thức), đây thực sự là một thách thức lớn mà Việt Nam cần phải vượt qua.

Tuy nhiên, những năm vừa qua cho thấy, nước ta cũng đã xuất hiện các yếu tố để vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Đó là sự phát triển của công nghệ thông tin - viễn thông, công nghệ phần mềm, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ na-nô, năng lực sáng tạo trong toán học, vật lý học… với nhận thức đúng đắn và quyết tâm cao thì trong triển khai thực hiện các chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra chắc chắn chúng ta sẽ có những thành công, vì nước ta không chỉ có năng lực nội sinh, mà còn thừa hưởng được những kinh nghiệm của các nước đã đi trước trong khu vực như: Xin-ga-po, Trung Quốc, Hàn quốc, Nhật Bản…  

Ba là, cần coi trọng phát triển khoa học - công nghệ trên cơ sở dẫn dắt và hỗ trợ của doanh nghiệp, được khuyến khích bởi động lực cạnh tranh thị trường bình đẳng và lành mạnh. Chú trọng phát triển thị trường công nghệ coi đây là môi trường kích thích quang trọng của nền khoa học công nghệ quốc gia. Điều quan trọng để tạo lợi thế cạnh tranh trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức là phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, cùng với việc tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới hệ thống hành chính. Cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức thực sự là cuộc cạnh tranh gay gắt về giáo dục - đào tạo và khoa học – công nghệ. Vì thế, nhà nước cần tạo môi trường pháp lý để các pháp nhân hoạt động trên thị trường khoa học – công nghệ được cạnh tranh bình đẳng.

Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng rộng hơn, sâu hơn với khu vực và thế giới nên Nhà nước cần thực sự đóng vai trò bà đỡ thông qua việc tạo môi trường pháp lý và hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho phát triển khoa học - công nghệ, trước hết là các hoạt động nghiên cứu, thực nghiện và triển khai; phát huy những năng lực nội sinh và tranh thủ tiếp thu những thành tựu của thế giới.

Nhà nước còn cần phải có chính sách thông thoáng để thu hút các tập đoàn công nghệ xuyên quốc gia, siêu quốc gia có tiềm lực khoa học - công nghệ mạnh đầu tư vào Việt Nam xây dựng các trung tâm nghiên cứu - phát triển… nhằm tạo môi trường lan toả tri thức, công nghệ cao ra toàn bộ nền kinh tế.

Bốn là, cần đầu tư cao vào những ngành mũi nhọn của quốc gia như: công nghệ thông tin, nhất là công nghệ phần mềm; công nghệ số hoá, công nghệ năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học...

Tập trung ưu tiên đầu tư phát triển mạnh một số khu công nghệ cao đã và đang hình thành ở nước ta như: Hoà Lạc (Hà Nội), Quang Trung (Thành phố Hồ Chí Minh)… coi đây là những hình mẫu, đầu tàu của khoa học - công nghệ - công nghiệp quốc gia...

Phát triển các các khu công nghiệp - công nghệ cao, các vườn ươm, các công viên phần mềm, công viên công nghệ hoặc doanh nghiệp cấp vùng thay thế mô hình khu công nghiệp thuần tuý làm hàng xuất khẩu như hiện nay.

Đối với nước ta, nền kinh tế đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa để trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, nhưng một số ngành, vùng, lĩnh vực của nền kinh tế cũng đã manh nha những yếu tố của nền kinh tế tri thức như ngành viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, công nghệ gien, công nghệ vật liệu mới; một số khu công nghệ cao đã và đang hình thành tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế tri thức vươn lên trình độ tiến tiến của thế giới.

Có thể nói: "chúng ta không có sự lựa chọn nào khác là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước hình thành nền kinh tế tri thức, có năng lực cạnh tranh với giá trị ngày càng gia tăng cao". Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chúng ta không chỉ có những khó khăn thách thức, mà còn có cả thuận lợi, thời cơ để vươn lên thực hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân là phát triển kinh tế tri thức vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra ./.