Lãi suất - kiểm soát huy động hay cho vay?

Lý Thái Phương
18:07, ngày 26-05-2011

TCCSĐT - Lãi suất ngân hàng hiện nay đang ở mức quá cao. Lãi suất huy động tiền Đồng tại các ngân hàng ghi trên bảng biểu lãi suất là 14%/năm như quy định của Ngân hàng Nhà nước, nhưng thực tế tổng lãi suất mà người gửi tiền được hưởng đang lên tới 17%, 18%, thậm chí 19%, 20%/năm. Và như thế, không có gì lạ khi lãi suất cho vay vốn trong thực tế đã lên đến 22%, 23%/năm cho dù một số ngân hàng đã công bố từ ngày 1-5-2011 bắt đầu giảm bớt lãi suất cho doanh nghiệp vay từ 0,5% đến 1%/năm.

Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, lãi suất trần huy động tiền Đồng là 14% hiện nay là có thể chấp nhận được đối với người gửi tiết kiệm, cho dù mức này có thấp hơn khả năng lạm phát. Tại nước ngoài, lãi suất tiền gửi thường được ấn định thấp hơn lạm phát, thậm chí thấp hơn nhiều. Như tại Mỹ, lạm phát là 3,2%/năm mà lãi suất tiết kiệm chỉ có 0,5%/năm, tại Trung Quốc lạm phát 5,3% và lãi suất tiết kiệm là 3,25%, hoặc Thái Lan, lạm phát 4% còn lãi suất tiết kiệm cao nhất cũng chỉ là 2%.

 

Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại chỉ được huy động tiết kiệm với mức trần cao nhất là 14%. Với quy định này, Ngân hàng Nhà nước hy vọng sẽ điều hành được lãi suất cho vay tăng tỷ lệ thuận ở mức tương ứng và hợp lý với lãi suất huy động. Tuy nhiên, nhu cầu vốn trong xã hội gần đây luôn ở mức cao, trong khi điều kiện vay lại khá khó khăn và nhiều đối tượng vay không thể đáp ứng được. Doanh nghiệp nào vay được thì lại phải chịu lãi suất cao. Vậy là biểu lãi suất niêm yết chính thức ở cả đầu vào và đầu ra của các ngân hàng thương mại hiện nay đều chỉ là hình thức. Và như vậy, các quy định của Ngân hàng Nhà nước và pháp luật quản lý về lĩnh vực này đang bị “qua mặt”.

 

Vậy là Ngân hàng Nhà nước thì cứ ban hành quy định còn các quy định thì cứ bị các ngân hàng thương mại bỏ qua. Những trường hợp như vậy trước nay thường được gọi là lách luật, nhưng sự thật đây là vi phạm pháp luật. Xảy ra trường hợp này là do quy định của ngân hàng thiếu sự giám sát hiệu lực thi hành. Thực tế các ngân hàng vẫn áp dụng lãi suất quy định trên sổ tiết kiệm nhưng lại trả kèm theo cho khách hàng phần lãi suất vượt trần bằng tiền mặt hoặc bằng giấy tờ có giá khác. Để gửi tiền với lãi suất cao vượt trần quy định tại ngân hàng chỉ cần có người quen giới thiệu, thậm chí có nơi không cần giới thiệu, cá nhân đến gửi tiền chỉ cần đặt vấn đề muốn được hưởng thêm một vài phần trăm lãi suất/năm là dễ dàng được ngân hàng chấp nhận. Hoạt động này hầu như diễn ra công khai mà không bị xử lý, xử phạt.

 

Tuy nhiên, cũng không phải tự nhiên mà các ngân hàng và người gửi tiền tìm cách “lách luật” như vậy. Trong thực tế, ngân hàng cần vốn thì đương nhiên phải bằng mọi cách để đáp ứng nhu cầu vốn của mình. Mà để làm được vậy thì phải thu hút nguồn vốn, trong đó dễ nhất, trực quan nhất là nâng lãi suất huy động. Nếu ngân hàng thương mại được cung ứng nguồn vốn thì nhu cầu “khát vốn” sẽ được giải quyết. Mà trách nhiệm này phần nào thuộc về Ngân hàng Nhà nước.

 

Trong thực tế, nhu cầu vốn của một số ngân hàng thương mại cũng không quá căng thẳng như bề ngoài hiện nay. Một số ngân hàng thương mại nâng lãi suất còn vì những lý do khác. Việc tăng lãi suất quá trần chủ yếu là ở các ngân hàng ngoài quốc doanh và là các ngân hàng quy mô nhỏ. Và mục tiêu tăng lãi suất ngoài hút vốn còn là giữ khách hàng và thể hiện tiềm lực. Có Ngân hàng áp dụng lãi suất 16,5% cho kỳ hạn gửi 1 tháng, có ngân hàng áp dụng 17% cho mức gửi từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng cho tất cả các kỳ hạn, còn nếu gửi 1 tỉ đồng lãi suất là 18% và có thể lên tới 20%. Trước thực trạng này, nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà quản lý trong lĩnh vực này cũng đã lên tiếng nhắc nhở người gửi tiền về những rủi ro có thể xảy ra và trong trường hợp đó bảo hiểm tiền gửi không phải là bảo hiểm toàn bộ số tiền gửi mà chỉ bảo hiểm ở mức nhất định theo quy định.

 

Về hệ quả của việc huy động vốn với lãi suất quá cao. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện tại có tới 1/3 số doanh nghiệp trong cả nước không tiếp cận được vốn ngân hàng. Thế nhưng giả sử có vay được thì lại nảy sinh vấn đề khác, sự thật là nếu nhìn vào các mức lãi suất cho vay quá cao của ngân hàng hiện nay, có thể đặt câu hỏi, liệu doanh nghiệp có thể sản xuất kinh doanh mặt hàng nào, theo phương thức nào để có thể vừa hoàn vốn vừa có lãi, hay ít nhất cũng chỉ là để vừa hoàn vốn, nộp ngân sách, vừa đủ việc làm và lương cho công nhân để duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Thực tế là hiện nay có nhiều doanh nghiệp đang cố cầm cự hòa vốn để có việc làm cho công nhân, chờ thời cơ phục hồi hoạt động sản xuất. Nhưng chiều hướng này kéo dài sẽ là nguyên nhân đưa các doanh nghiệp đến nguy cơ thua lỗ và phá sản.

 

Có một nghịch lý liên quan đến mặt bằng lãi suất ngân hàng hiện nay là chính một số nhà doanh nghiệp lại khuyên các ngân hàng không nên cho doanh nghiệp vay vào lúc này. Bởi vì, theo phân tích, cho vay với lãi suất quá cao như vậy, doanh nghiệp sẽ cầm cự hoạt động và theo chiều hướng suy yếu dần, và ảnh hưởng đến chính doanh nghiệp và tác động xấu đến cộng đồng doanh nghiệp, đến nền kinh tế.

 

Một nhà quản lý kinh tế phân tích, hiện nay có thể chia hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thành 3 nhóm tương ứng với mức lãi suất của ngân hàng. Nhóm thứ nhất là nếu có thể hoạt động mang lại tỷ suất lợi nhuận ở mức 17-18% (tương đương với lãi suất cho vay trung bình hiện nay) thì sẽ tồn tại theo kiểu cầm cự mà không mở rộng sản xuất. Nhóm thứ hai nếu mang về tỷ suất lợi nhuận 20% - cao hơn 2% so với lãi suất cho vay thì có khả năng mở rộng sản xuất và đóng góp cho nền kinh tế. Nhưng nhóm thứ ba có tỷ suất lợi nhuận dưới 14% (chỉ tương đương trần lãi suất tiền gửi) thì thật sự đáng lo ngại. Nhóm này đang đứng trước nguy cơ phá sản, cần phải được tái cấu trúc để mang lại hiệu quả thì mới tiếp tục hoạt động được.

 

Mới đây, Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng cơ cấu lại tỷ lệ cho vay, giảm cho vay lĩnh vực phi sản xuất, tập trung vào cho vay sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Các ngân hàng thương mại nhà nước cũng đã tuyên bố hạ lãi suất cho doanh nghiệp vay thêm từ 0,5 đến 1%. Đây là tín hiệu tốt, song chỉ là bước đầu mà chưa đủ.

 

Nhìn vào 3 nhóm doanh nghiệp với khả năng thích ứng với thị trường lãi suất vốn cho sản xuất kinh doanh hiện nay, thấy rằng nếu việc các quy định về lãi suất không được giám sát công khai chặt chẽ để thực thi công bằng thì thị trường lãi suất ngầm đã hình thành rõ nét như hiện nay sẽ dẫn đến tình trạng tiêu cực, rủi ro. Lãi suất ở mức quá cao, bất hợp lý như hiện nay kể cả lãi suất đầu vào và đầu ra của ngân hàng sẽ tác động xấu đến sự sống còn của từng doanh nghiệp, của cả cộng đồng doanh nghiệp và tác động xấu đến hiệu quả vận hành của nền kinh tế./.