Phát huy vai trò kinh tế tư nhân trong phát triển nông nghiệp xanh: Kinh nghiệm từ quốc tế và bài học cho thành phố Hà Nội
TCCS - Kinh tế tư nhân (KTTN) có tiềm năng lớn về vốn, công nghệ và tính linh hoạt trong phát triển nông nghiệp xanh, bền vững. Một số thành phố trên thế giới (như Copenhagen - Đan Mạch, Rotterdam - Hà Lan, Bangkok - Thái Lan, Tokyo - Nhật Bản) đã huy động và phát huy được vai trò của KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh thông qua các mô hình hợp tác công - tư (PPP), cơ chế tài chính khuyến khích và chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Kinh nghiệm phát huy vai trò của KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh của các thành phố trên là tham khảo tốt để đề xuất những giải pháp phù hợp với thành phố Hà Nội trong bối cảnh chuyển dịch sang nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Kinh nghiệm phát huy vai trò KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh tại một số thành phố trên thế giới
KTTN đóng vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển nông nghiệp xanh, không chỉ là động lực tăng trưởng mà còn là nhân tố then chốt thúc đẩy chuyển đổi bền vững. Nếu được phát huy, KTTN sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh, giải quyết các vấn đề xã hội, giảm ô nhiễm môi trường, góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về khí hậu. Một số thành phố trên thế giới đã huy động và phát huy được vai trò của KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh thông qua mô hình hợp tác công - tư, cơ chế khuyến khích và chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo, để lại những bài học quý mà thành phố Hà Nội có thể nghiên cứu, học hỏi.
Copenhagen (Đan Mạch)
Copenhagen là hình mẫu về phát triển nông nghiệp đô thị xanh, tuần hoàn và công nghệ cao, với vai trò dẫn dắt của KTTN. Thành phố tiếp cận nông nghiệp như một phần của hệ sinh thái bền vững, gắn với an ninh lương thực tại chỗ và quản lý tài nguyên tuần hoàn. Các trụ cột chính trong mô hình của Copenhagen, bao gồm:
(i) Thể chế tích hợp đô thị - nông nghiệp: Copenhagen xem nông nghiệp đô thị như một phần của hệ thống sinh thái đô thị, thể hiện qua các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp đô thị, trang trại trên mái nhà và các khu vườn cộng đồng.
(ii) Phát triển nông nghiệp đô thị công nghệ cao: Thành phố hỗ trợ thông qua chính sách tài chính ưu đãi cho các dự án nông nghiệp bền vững và công nghệ cao. Khu vực tư nhân đóng vai trò then chốt với các dự án quy mô lớn, tiêu biểu như Nordic Harvest - doanh nghiệp này đầu tư vào hệ thống trồng trọt trong nhà sử dụng công nghệ LED, robot và kiểm soát khí hậu tự động hoàn toàn, có thể sản xuất tới gần 1.000 tấn rau sạch mỗi năm(1).
(iii) Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (KTTH) và năng lượng sạch: Copenhagen tích cực thúc đẩy tiêu thụ thực phẩm hữu cơ trong các trường học, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất năng lượng sinh khối, khuyến khích nông dân giảm phát thải. Thành phố còn tích hợp hệ thống xử lý chất thải thành năng lượng, hướng tới mô hình đô thị bền vững và trung hòa carbon. Amager Bakke là một trong các nhà máy tiên phong chuyển đổi rác thải đô thị thành điện năng và nhiệt năng sưởi ấm(2).
(iv) Hợp tác công - tư thông minh: Thành phố triển khai hiệu quả cơ chế hợp tác công - tư thông qua chính sách cho thuê đất công với giá ưu đãi dành cho các dự án nông nghiệp đô thị xanh. Copenhagen cũng chủ động hỗ trợ việc khai thác các không gian như mái nhà và khu đất trống để phát triển các trang trại đô thị do tư nhân vận hành.
(v) Khuyến khích các startup nông nghiệp xanh (AgriTech). Các công ty tư nhân tại đây phát triển đa dạng các giải pháp, từ phần mềm quản lý trang trại, nền tảng chia sẻ tài nguyên đến công nghệ IoT để giám sát và tối ưu hóa sản xuất cây trồng.
Rotterdam (Hà Lan)
Rotterdam là hình mẫu toàn cầu về việc phát huy vai trò của KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh, thông qua mô hình “Thành phố cảng - Nông nghiệp xanh” kết hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và viện nghiên cứu. Các cách mà KTTN được phát huy tại Rotterdam, bao gồm:
(i) Nông nghiệp đô thị và công nghệ cao: Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) đầu tư vào các trang trại thẳng đứng, nhà kính thông minh trên mái nhà, sử dụng công nghệ LED, hydroponics và AI để sản xuất rau xanh, thảo mộc với ít nước và không thuốc trừ sâu. Công ty Urban Farmers phát triển các trang trại đô thị thương mại bằng công nghệ thủy canh, sử dụng container, cung cấp rau sạch tại chỗ cho siêu thị, nhà hàng và cộng đồng(3).
(ii) Kết hợp chuỗi logistics xanh: DNTN tận dụng cảng biển để phát triển hệ thống phân phối thực phẩm xanh ít phát thải, sử dụng điện khí hóa và tối ưu hóa tuyến đường. Trung tâm Food Hub Rotterdam do tư nhân thúc đẩy, kết nối sản xuất nông nghiệp xanh với thị trường tiêu thụ thông qua chuỗi cung ứng bền vững(4).
(iii) Nông nghiệp tuần hoàn: Nhiều công ty khởi nghiệp tư nhân tại Rotterdam biến chất thải thực phẩm từ cảng và thành phố thành phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu sinh học. Ví dụ, trang trại bò sữa nổi trên biển (có hệ thống xử lý nước mưa, chất thải, phân, nước tiểu…)(5).
(iv) Hợp tác công - tư: Rotterdam tạo cơ chế khuyến khích DNTN tham gia vào các dự án nông nghiệp đô thị (ưu đãi thuế, không gian sáng tạo…).
Bangkok (Thái Lan)
Bangkok xây dựng mô hình đô thị hóa nông nghiệp xanh lấy cộng đồng và DNTN nhỏ làm trung tâm, với sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Bangkok chọn hướng tiếp cận “Nông nghiệp đô thị xanh” như một phần của chiến lược xây dựng thành phố. KTTN tham gia chủ yếu dưới dạng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (SMEs), hợp tác xã, trang trại đô thị tư nhân và các công ty khởi nghiệp xã hội. Các mô hình thành công từ Bangkok gồm:
(i) Tích hợp nông nghiệp đô thị vào các chiến lược, chương trình: Chiến lược “Bangkok 2032” tích hợp nông nghiệp đô thị vào như một giải pháp xanh, tạo không gian công cộng và cải thiện an ninh lương thực. Chương trình “Bangkok Eatable City” khuyến khích và hỗ trợ kỹ thuật cho người dân và DNTN trồng rau trên sân thượng, ban công, khu đất trống.
(ii) Hợp tác công - tư linh hoạt: Chính quyền cho DNTN hoặc nhóm cộng đồng thuê các mảnh đất công nhỏ, bỏ trống với giá rẻ để phát triển thành vườn rau hoặc trang trại đô thị giáo dục. Phát triển mô hình hợp tác giữa khách sạn, tòa nhà văn phòng tư nhân với các công ty nông nghiệp đô thị để lắp đặt vườn rau trên mái hoặc vườn thẳng đứng.
(iii) Thúc đẩy DNTN đi đầu trong các mô hình kinh doanh sáng tạo: Các công ty khởi nghiệp Agritech, như Eatology với giải pháp trồng rau thủy canh tại nhà và văn phòng; đại học Thammasat sở hữu nông trại trên mái nhà lớn nhất châu Á(6). Các mô hình “Farm-to-Table” và “Farm-to-School” tại đây rất phát triển.
(iv) Hỗ trợ từ các hiệp hội ngành và tổ chức phi chính phủ (NGO): Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Lan và các tổ chức như Thai City Farm Network đóng vai trò kết nối, đào tạo và xúc tiến thương mại cho các sản phẩm xanh của DNTN.
Singapore
Với cách tiếp cận tập trung vào giá trị gia tăng cao, tính bền vững và an ninh lương thực, Singapore xem nông nghiệp là một ngành công nghiệp tri thức, kết hợp chặt chẽ giữa nhà nước (kiến tạo, hỗ trợ) và tư nhân (đầu tư, vận hành, sáng tạo). Các cơ chế và mô hình phát huy vai trò KTTN tại Singapore, baogồm:
(i) Chính sách và khung pháp lý rõ ràng, định hướng phát triển xanh: Chiến lược “Sản xuất 30x30” đặt mục tiêu tự cung cấp 30% nhu cầu dinh dưỡng vào năm 2030(7). Các mô hình được khuyến khích phát triển như “Nông nghiệp trong nhà” (Citiponics); “Trang trại thẳng đứng” (vertical farm) và hệ thống sản xuất trong nhà kính(8).
(ii) Hỗ trợ tài chính và công nghệ trực tiếp cho DNTN: Singapore quy hoạch không gian tập trung, thành lập các khu nông nghiệp công nghệ cao, như ở Lim Chu Kang, Sungei Tengah(9). Nhà nước đầu tư hạ tầng cơ bản, cho các DNTN thuê đất dài hạn. Hệ thống tiêu chuẩn xanh và chứng nhận rõ ràng (an toàn thực phẩm, tiết kiệm tài nguyên…). Ưu đãi thuế và vay vốn cho các dự án nông nghiệp xanh, sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng. Khuyến khích hợp tác công - tư.
(iii) Hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp: Các vườn ươm, quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân được khuyến khích. Các công ty tiêu biểu như Sky Greens (trang trại thẳng đứng thủy lực đầu tiên trên thế giới)(10); Tập đoàn Apollo (trang trại 8 tầng để nuôi cá, hải sản)(11); Sustenir Agriculture (sử dụng đèn LED và các công nghệ thủy canh tiên tiến để trồng rau)(12).
(iv) Kết nối thị trường và xây dựng thương hiệu: Chính phủ Singapore giúp kết nối sản phẩm, tạo kênh phân phối đến siêu thị, nhà hàng, khách sạn. Xây dựng thương hiệu “Sản xuất tại Singapore” chất lượng cao, an toàn và xanh.
Tokyo (Nhật Bản)
Tokyo xem nông nghiệp đô thị xanh như một giải pháp đa mục tiêu, nhằm tăng cường an ninh lương thực tại chỗ; tái tạo cảnh quan, giảm hiệu ứng đảo nhiệt; tạo không gian cộng đồng và trị liệu; giáo dục về môi trường và thực phẩm. KTTN được khuyến khích tham gia không chỉ vì lợi nhuận, mà còn vì giá trị thương hiệu, trách nhiệm xã hội (CSR). Các cơ chế và mô hình phát huy vai trò KTTN tại Tokyo gồm:
(i) Chính sách nông nghiệp đô thị chặt chẽ và hỗ trợ cụ thể của chính quyền, như Luật Nông nghiệp Đô thị (một phần của Luật Quy hoạch đô thị); chương trình khuyến khích nông nghiệp đô thị; hệ thống chứng nhận “Sản xuất tại Tokyo”.
(ii) Mô hình hợp tác công - tư (PPP), tập trung vào việc huy động vốn tư nhân, nhằm thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao, bền vững (xanh, giảm phát thải) và an toàn thực phẩm.
(iii) DNTN đi đầu trong mô hình kinh doanh “Nông nghiệp tích hợp” (tích hợp vào bất động sản thương mại và nhà ở). Ví dụ, Công ty như Spread xây dựng các nhà máy rau thẳng đứng sản xuất ra 11 triệu khóm rau diếp cũng như 8 vụ rau diếp mỗi năm(13). Các doanh nghiệp, nhà hàng, khách sạn lớn hợp tác với các trang trại đô thị để tái chế phụ phẩm thực phẩm thành phân compost, tạo thành vòng khép kín.
(iv) Hệ sinh thái hỗ trợ đa dạng và hiệu quả (hợp tác chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu tư nhân và đại học với doanh nghiệp; giữa người sản xuất tư nhân với người tiêu dùng).
Bài học và đề xuất giải pháp cho thành phố Hà Nội
Dựa trên thực tiễn của các thành phố kể trên, có thể khái quát những bài học kinh nghiệm chung về phát huy vai trò của KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh.
Bài học về thể chế và chính sách
Khung chính sách rõ ràng và hỗ trợ tài chính từ chính phủ tạo điều kiện cho KTTN đầu tư vào nông nghiệp xanh. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, xây dựng khung pháp lý, chiến lược dài hạn (như “Copenhagen Carbon Neutral by 2025”; “Bangkok 2032”; “Sản xuất 30x30” của Singapore. Thành phố Hà Nội cần có tầm nhìn chiến lược và các chính sách cụ thể (ưu đãi thuế, quy hoạch không gian, tiêu chuẩn môi trường) để tạo “sân chơi” và định hướng cho khu vực tư nhân đầu tư.
Bài học về tài chính và đầu tư
Phát triển công cụ tài chính xanh (tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư mạo hiểm). Hỗ trợ DNTN tiếp cận vốn cho đổi mới công nghệ xanh. Hợp tác công - tư (PPP) linh hoạt và hiệu quả. Các dự án như làm mát đô thị bằng nước biển (Rotterdam), trang trại thẳng đứng Sky Greens (Singapore), đều dựa trên sự hợp tác chặt chẽ này. Thành phố Hà Nội có thể học hỏi vận dụng trong xây dựng cơ chế PPP minh bạch, chia sẻ rủi ro và lợi ích công bằng, tập trung vào các dự án cụ thể như nông nghiệp đô thị, xử lý chất thải nông nghiệp, logistics xanh.
Bài học về công nghệ và đổi mới sáng tạo
Ưu tiên ứng dụng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Tạo điều kiện để DNTN dẫn dắt đổi mới công nghệ (IoT, AI, sinh học). Singapore và Tokyo là ví dụ điển hình về ứng dụng công nghệ cao để tối ưu hóa sản xuất trong không gian hạn chế. Từ đó khuyến khích tư nhân đầu tư R&D và chuyển giao công nghệ, tạo quỹ hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ nông nghiệp (AgriTech), xây dựng các trung tâm ươm tạo và thử nghiệm công nghệ xanh. Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp nông nghiệp xanh.
Bài học về thị trường và chuỗi giá trị
Chính quyền hỗ trợ DNTN xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường cho sản phẩm nông nghiệp xanh, hữu cơ thông qua các chứng nhận, hội chợ và hệ thống phân phối đặc thù. Thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị khép kín và KTTH, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào các mô hình (Copenhagen và Rotterdam nhấn mạnh việc biến chất thải thực phẩm và nông nghiệp thành tài nguyên). Bài học này có thể ứng dụng trong phát triển tiêu chuẩn, nhãn sinh thái địa phương; hỗ trợ tiếp cận thị trường quốc tế; khuyến khích DNTN đầu tư vào các mô hình sản xuất - chế biến - phân phối - tái chế, biến phụ phẩm nông nghiệp thành sản phẩm giá trị gia tăng.
Bài học về đào tạo, nâng cao nhận thức
Các thành phố thành công đều gắn đào tạo với nhu cầu thực tế của đô thị (thích ứng BĐKH, an ninh lương thực); hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - chính quyền để xây dựng chương trình đào tạo; vừa đào tạo kỹ sư công nghệ vừa đào tạo nông dân đô thị. Sử dụng linh hoạt hình thức đào tạo (ngắn hạn, đào tạo nghề, đại học và sau đại học), kết hợp đào tạo kỹ năng mềm. Coi trọng việc nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận của người dân, qua đó mở rộng thị trường và thu hút tư nhân tham gia.
Từ phân tích các bài học trên, có thể đề xuất một số giải pháp phù hợp với thành phố Hà Nội trong bối cảnh chuyển dịch sang nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp và thích ứng với BĐKH, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Thứ nhất, giải pháp về thể chế, chính sách
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát huy vai trò của KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh. Thể chế hóa nông nghiệp đô thị trong quy hoạch tổng thể, đặt nông nghiệp trong mối quan hệ hữu cơ với không gian đô thị, môi trường và chất lượng sống của người dân (như mục tiêu “rừng trong phố, phố trong rừng” hiện nay)(14). Quy hoạch và bảo vệ “vành đai xanh” một cách bài bản. Dành quỹ đất cho nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao. Xây dựng và thực thi khung chính sách đồng bộ, từ quy hoạch đất đai, ưu đãi tài chính, tiêu chuẩn chứng nhận sản phẩm xanh, đến chính sách mua sắm công ưu tiên sản phẩm xanh của DNTN.
Ban hành các cơ chế đặc thù để khuyến khích DNTN đầu tư vào nông nghiệp xanh tại địa bàn (như cơ chế đất đai cho nông nghiệp công nghệ cao tại các xã ngoại thành). Đơn giản hóa thủ tục hành chính cho các dự án nông nghiệp xanh. Có chính sách hỗ trợ vốn ưu đãi, giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao. Ưu tiên cho thuê đất công cho các dự án nông nghiệp xanh. Hỗ trợ DNTN chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực cho nông nghiệp xanh. Kết nối DNTN với thị trường trong và ngoài nước.
Tiếp tục triển khai các chính sách thích ứng BĐKH gắn với nông nghiệp đô thị. Khuyến khích các dự án nông nghiệp trong nhà, canh tác không dùng đất (thủy canh, khí canh). Khuyến khích các trang trại đô thị kết hợp với trải nghiệm du lịch, giáo dục môi trường. Phát triển mô hình “nông nghiệp đô thị kết hợp du lịch sinh thái”. Tăng cường quản lý tài nguyên nước, xử lý chất thải và nâng cao nhận thức cộng đồng, nhằm giảm thiểu rủi ro, đảm bảo sinh kế và phát triển nông nghiệp sạch, chống chịu tốt hơn với BĐKH.
Thứ hai, giải pháp về tài chính, đầu tư
Áp dụng mức thuế suất ưu đãi, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định cho các DNTN đầu tư vào nông nghiệp xanh. Miễn giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, công nghệ cao phục vụ sản xuất nông nghiệp xanh. Thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển xanh để cung cấp khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn thị trường cho các dự án xanh trọng điểm. Kết nối DNTN với các nguồn tín dụng xanh từ ngân hàng nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế. Cung cấp, hỗ trợ một phần vốn đối ứng cho các dự án R&D, đổi mới sáng tạo, giảm gánh nặng tài chính ban đầu cho doanh nghiệp.
Phát triển thị trường vốn nông nghiệp xanh, khuyến khích và tạo điều kiện cho DNTN phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội trên thị trường chứng khoán. Hà Nội có thể xây dựng danh mục dự án nông nghiệp xanh ưu tiên để thu hút nhà đầu tư trái phiếu. Đẩy mạnh hợp tác công-tư trong các dự án xử lý rác thải nông nghiệp với cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi nhuận minh bạch. Thành lập hoặc thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên về nông nghiệp xanh, hỗ trợ các startup và DNTN nhỏ có ý tưởng đột phá.
Nghiên cứu thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng xanh riêng cho nông nghiệp, bảo lãnh một phần khoản vay cho DNTN thực hiện dự án nông nghiệp xanh. Hợp tác với các công ty bảo hiểm để phát triển các sản phẩm bảo hiểm rủi ro đặc thù cho dự án công nghệ mới trong nông nghiệp xanh, giúp DNTN yên tâm đầu tư. Xây dựng Bộ tiêu chí và Hệ thống chứng nhận tài chính xanh. Tổ chức các chương trình đào tạo, tư vấn về quản trị tài chính, tiếp cận các nguồn vốn xanh cho cộng đồng doanh nghiệp. Tạo lập mạng lưới kết nối giữa DNTN, ngân hàng, quỹ đầu tư, nhà khoa học và cơ quan quản lý để chia sẻ thông tin và giảm thiểu chi phí giao dịch.
Thứ ba, giải pháp về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Khuyến khích DNTN nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ xanh phù hợp với quy mô sản xuất và đặc thù của Thành phố, đặc biệt cho các khu vực có diện tích nhỏ hoặc cần kiểm soát chặt chẽ môi trường (Đan Phượng, Thanh Trì, Gia Lâm, Hà Đông…). Khuyến khích DNTN đầu tư nhà màng, nhà lưới thông minh, hệ thống tưới tiết kiệm, công nghệ cảm biến IoT, canh tác theo hướng hữu cơ, vi sinh. Ứng dụng công nghệ bảo quản, đóng gói thông minh. Phát triển và nhân rộng công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp, công nghệ khí sinh học (biogas), xử lý nước thải tập trung tại các làng nghề, trang trại chăn nuôi.
Tiếp tục phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ nông nghiệp, kết nối DNTN với các viện nghiên cứu, startups công nghệ. Khuyến khích hợp tác công-tư trong nghiên cứu. Thành lập các quỹ đồng tài trợ cho DNTN phối hợp với nhà khoa học để giải quyết các bài toán cụ thể của nông nghiệp xanh (xử lý ô nhiễm nước hồ, chăn nuôi không mùi...). Xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu mở về nông nghiệp xanh (số hóa dữ liệu đất đai, thời tiết, dịch bệnh, thị trường). Tổ chức diễn đàn, hội chợ công nghệ nông nghiệp xanh.
Hỗ trợ kinh phí một phần cho các dự án nghiên cứu, thử nghiệm mô hình nông nghiệp xanh của DNTN; hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng xanh (VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ). Rà soát, sửa đổi các quy định để tạo thuận lợi cho thử nghiệm công nghệ mới trong nông nghiệp; quy định rõ về tiêu chuẩn, nhãn mác sản phẩm nông nghiệp xanh. Thành phố có thể đặt hàng DNTN nghiên cứu hoặc cung cấp giải pháp công nghệ để giải quyết các vấn đề chung (xử lý rơm rạ sau thu hoạch, giảm ô nhiễm ao hồ...).
Thứ tư, giải pháp về tổ chức sản xuất và thị trường
Khuyến khích và hỗ trợ DNTN chuyển đổi mô hình sản xuất sang các mô hình như nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp công nghệ cao. Thúc đẩy DNTN đóng vai trò hạt nhân trong việc xây dựng và quản lý các chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ nhằm kiểm soát chất lượng, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị và truy xuất nguồn gốc sản phẩm xanh. Xây dựng mô hình doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân để tạo chuỗi giá trị nông sản bền vững.
Tạo lập, mở rộng và ổn định thị trường tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp xanh, xây dựng và quảng bá thương hiệu nông sản xanh Hà Nội, trong đó DNTN là lực lượng sử dụng và phát triển thương hiệu, đảm bảo chất lượng và uy tín. Phát triển hệ thống phân phối và kênh tiêu thụ đa dạng (các kênh hiện đại như siêu thị, bán hàng trực tuyến, song song với các kênh truyền thống được cải thiện như chợ đầu mối). Hình thành các trung tâm logistics xanh để giảm phát thải trong vận chuyển.
Hỗ trợ DNTN tham gia các hội chợ trong nước và quốc tế để tìm kiếm thị trường xuất khẩu cho nông sản xanh. Xây dựng bộ tiêu chí cụ thể, minh bạch cho nông nghiệp tại Hà Nội, phù hợp với chuẩn quốc tế. Hỗ trợ DNTN và các mô hình liên kết trong việc đánh giá, chứng nhận. Ứng dụng công nghệ blockchain, mã QR để truy xuất nguồn gốc minh bạch, tăng niềm tin cho người tiêu dùng.
Thứ năm, giải pháp về nâng cao năng lực và truyền thông
Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu cho các đối tượng doanh nhân, chủ DNTN, hợp tác xã kiểu mới về nông nghiệp xanh. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên, cán bộ quản lý cho DNTN, chương trình thực tập sinh tại các mô hình nông nghiệp xanh tiên tiến. Thu hút chuyên gia quốc tế tham gia đào tạo, tư vấn. Tăng cường các chiến dịch truyền thông đa kênh về lợi ích của nông nghiệp xanh. Tuyên truyền các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho khu vực tư nhân. Xây dựng phóng sự, case study về DNTN tiêu biểu, khen thưởng doanh nghiệp tiên phong trong phát triển kinh tế xanh. Chính quyền Thành phố bố trí ngân sách cho các chương trình đào tạo, truyền thông. Tổ chức KHCN cung cấp chuyên gia, chương trình đào tạo. Hiệp hội doanh nghiệp Thành phố kết nối, phản ánh nhu cầu, tổ chức đào tạo nội bộ. Truyền thông địa phương phối hợp thực hiện chiến lược truyền thông về phát triển kinh tế xanh và phát huy vai trò của KTTN trong phát triển kinh tế xanh.
Như vậy, bài học quốc tế nhấn mạnh đến việc lấy DNTN làm động lực chính, áp dụng công nghệ và mô hình tuần hoàn, phát triển thị trường dựa trên thương hiệu, kênh phân phối hiện đại cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ, sáng tạo từ chính quyền. Để phát huy vai trò của KTTN trong phát triển nông nghiệp xanh, Hà Nội cần chủ động học hỏi và áp dụng linh hoạt các mô hình tổ chức tiên tiến trên thế giới, đặc biệt chú trọng đến hợp tác công - tư, xây dựng hệ sinh thái liên kết theo cụm/chuỗi giá trị và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số. Trọng tâm là tạo dựng một môi trường thể chế thuận lợi và khung hợp tác rõ ràng, nơi khu vực tư nhân nhận thấy rõ cơ hội kinh doanh bền vững và trách nhiệm xã hội trong hành trình xây dựng một nền nông nghiệp xanh, bền vững của Thủ đô./.
------------------
(1) VTV Online (2023), Trang trại thẳng đứng lớn nhất châu Âu, https://vtv.vn, ngày 18-3-2023
(2) Việt Hồng (2022), Độc đáo dự án xử lý rác thải kết hợp khu thể thao giải trí tại Copenhagen Đan Mạch, https://moitruongxaydungvn.vn, ngày 18-6-2022
(3) NSSC (2025), Urban Farmers Pro phát triển mô hình trang trại container, https://vn.nssc.gov.vn, truy cập ngày 20-1-2026
(4) Port of Rotterdam, Food Hub Rotterdam, https://www.portofrotterdam.com, truy cập ngày 20-01-2026
(5) Hồng Vân (2019), Nuôi bò trên biển ở Rotterdam, https://tuoitre.vn, ngày 09-7-2019
(6) Đan Lê (Lược dịch từ Devdiscourse - 2017), Thái Lan: Bangkok xây dựng trang trại trên mái nhà lớn nhất châu Á, https://vienktxh.hanoi.gov.vn, ngày 10-6-2017
(7) Vũ Anh (2025), Công ty sắp biến Singapore thành “trùm nông nghiệp”, https://markettimes.vn, ngày 03-02-2025
(8), (9), (13) Kim Long (2021), Chiến lược nông nghiệp đô thị của Singapore, https://nongthonviet.com.vn, ngày 19-7-2021
(10) Thanh Lan (2017), Đô thị xanh những ...vườn rau, HTTPS://NHANDAN.VN, NGÀY 27-02-2017
(11) Quang Anh (2022), Đột nhập nhà tầng sang chảnh cho cá ở, dự kiến thu cả nghìn tấn, https://dantri.com.vn, ngày 23-4-2021
(12) Phượng Lê (2025), Nông nghiệp xanh tại Singapore: Bước tiến bền vững cho ngành nông nghiệp, https://24hmoney.vn, ngày 28-02-2025
(14) Nguyên Mai (2026), “Rừng trong phố, phố trong rừng” - tầm nhìn mới cho nông nghiệp Thủ đô, https://hanoimoi.vn, ngày 19-01-2026
Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn các tỉnh, thành phố phía Nam  (19/12/2025)
Đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc về đường lối phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam  (20/09/2025)
Vai trò lực lượng công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân góp phần “xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh”  (19/09/2025)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xây dựng chính quyền số - Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu và gợi mở cho Việt Nam
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm