TCCS - Từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, với tốc độ đô thị hóa nhanh, Đà Nẵng gặp không ít khó khăn về vấn đề an sinh xã hội, nhưng với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lãnh đạo thành phố đã tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp kinh tế - xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng, giữ vững sự ổn định phát triển, giải quyết tốt nhu cầu việc làm cho người lao động, nhất là người lao động trong diện di dời, giải tỏa ở các vùng ngoại vi phục vụ cho quá trình quy hoạch phát triển thành phố.

Thực hiện Nghị quyết số 33 -NQ/Tw của Bộ Chính trị khóa IX về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xuất phát từ công tác quy hoạch, chỉnh trang, từ năm 1997 đến nay, trên địa bàn thành phố đã có trên 72.000 hộ dân phải giải tỏa, di dời để phục vụ cho việc quy hoạch phát triển thành phố. Trong số những hộ giải tỏa, di dời có hàng ngàn lao động xuất thân từ nông dân sống bằng mảnh vườn, miếng ruộng. Từ "làng lên phố", không ít gia đình lâu nay chỉ sống thuần túy bằng nghề nông không còn kế mưu sinh, nhu cầu việc làm đối với họ không những là cần thiết mà còn rất bức xúc.

Đứng trước thực trạng trên, thành phố đã sớm có kế hoạch đào tạo nghề, chuyển nghề cho người dân trong diện giải tỏa, di dời. Đảng bộ thành phố xem đây là chìa khóa mở ra hướng đi đúng nhất cho những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Từ các chương trình kinh tế - xã hội được thông qua, thành phố có kế hoạch hướng dẫn, giao cho các ngành chuyên môn có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân cùng phối hợp hành động. Với trách nhiệm chính trong công tác giải quyết vấn đề lao động việc làm, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội của thành phố thường xuyên phối hợp với các ban, ngành, địa phương có liên quan tổ chức triển khai các hoạt động như tập huấn, hội thảo chuyên đề về lao động việc làm... đồng thời quan tâm cấp thiết đến vấn đề đào tạo nghề, hỗ trợ vốn, giải quyết việc làm... cho người lao động.

Hiện nay, lực lượng lao động toàn thành phố là trên 431.000 người, chiếm gần 50% số dân, với tỷ lệ thất nghiệp khoảng 4,95%, giảm nhiều so với năm 2005. Từ năm 2006 đến nay, thành phố đã giải quyết việc làm cho trên 115.000 lao động, bình quân hằng năm giải quyết việc làm cho trên 32.970 lao động, vượt chỉ tiêu Đề án giải quyết việc làm cho người lao động đã đề ra (chỉ tiêu là 31.000 - 32.000 lao động/ năm). Riêng năm 2009, tuy trong tình trạng suy giảm chung về kinh tế, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn sản xuất đình đốn, không ít người lao động mất việc làm, nhưng các cơ quan chức năng của thành phố vẫn cố gắng giải ngân cho 700 dự án giải quyết việc làm có tổng kinh phí 17 tỉ đồng, giải quyết công ăn việc làm cho hơn 30.000 lao động.

Để đạt được kết quả trên, thành phố đã triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

- Đẩy mạnh các hoạt động cho vay vốn, hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm: Với tổng nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm khoảng 52,258 tỉ đồng (trong đó có 9 tỉ đồng từ ngân sách thành phố ủy thác sang Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố trong 3 năm 2006 - 2008 để cho vay đối với lao động thuộc diện thu hồi đất sản xuất, di dời, giải tỏa), thành phố dành một phần đầu tư để tạo việc làm mới cho 3.976 lao động thuộc diện chính sách, với tổng số 1.795 dự án. Các dự án tập trung chủ yếu trong các ngành, nghề dịch vụ, buôn bán nhỏ (chiếm 55%), chế biến, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản (22%); công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp và ngành nghề khác (23%). Đối với số lao động đã có nghề, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ tiếp cận thị trường lao động như cung cấp thông tin, giới thiệu việc làm, mở hội chợ việc làm... Theo hướng này, năm 2009, thành phố đã thực hiện đề án cơ sở dữ liệu thị trường lao động gồm 2 hợp phần: cơ sở dữ liệu cung lao động từ tổ dân phố và cơ sở dữ liệu cầu lao động từ các doanh nghiệp, tổ chức có sử dụng lao động trên địa bàn, để làm cơ sở cho sàn giao dịch thị trường lao động trên địa bàn thành phố. Nhờ thường xuyên tiếp cận được thông tin hỗ trợ tìm việc nên tỷ lệ đạt yêu cầu của nhà tuyển dụng so với số lao động được giới thiệu có xu hướng tăng dần, bình quân đạt 62,91%, trong đó lao động có trình độ đại học, cao đẳng đạt 54,95%, trình độ trung cấp: 64,43%, công nhân kỹ thuật: 61,97%, lao động chưa qua đào tạo: 72,93%.

- Đầu tư thỏa đáng cho công tác đào tạo, dạy nghề: Ngoài việc hỗ trợ của Trung ương, thành phố quan tâm sắp xếp, củng cố, phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề trên địa bàn theo quy định của Luật Dạy nghề theo hướng xã hội hóa. Đến nay, thành phố có 50 cơ sở dạy nghề, trong đó có 3 trường cao đẳng nghề, 1 phân hiệu của trường cao đẳng nghề, 8 trường trung cấp, 15 trung tâm dạy nghề và 23 cơ sở khác có tham gia dạy nghề. Thành phố có 24 cơ sở dạy nghề công lập, đây là những đơn vị nòng cốt trong dạy nghề, đào tạo nghề cho người lao động. Theo hướng xã hội hóa của Luật Dạy nghề, cơ sở dạy nghề ngoài công lập của thành phố phát triển nhanh, năm 1998 chưa có cơ sở nào, đến nay đã có 25 cơ sở, chiếm 50,02% số cơ sở đào tạo, dạy nghề của thành phố. Trong những năm qua, các cơ sở dạy nghề đã tổ chức dạy nghề cho hơn 79.060 lượt người, trong đó chủ yếu là thanh niên (chiếm 95%) với 99 nghề được đào tạo; trong đó, dạy nghề dài hạn như trung cấp, cao đẳng nghề là 21.933 người, chiếm 27,74%, dạy nghề ngắn hạn: sơ cấp nghề là 57.136 người chiếm 72,26% về số lượng. Tỷ lệ lao động ra trường có việc làm năm 2006 chiếm 80%, năm 2007 là 90% và năm 2008 là 92% về số lượng. Các nghề may công nghiệp, dịch vụ - du lịch, cơ khí ra trường có việc làm đạt tỷ lệ cao từ 95% - 98% về số lượng. Trong số 57.136 người được dạy nghề trình độ sơ cấp, chính sách của Trung ương và thành phố đã hỗ trợ cho 9.120 người có hộ khẩu Đà Nẵng được học nghề miễn phí cho 16 ngành nghề.

- Thực hiện tốt việc chuyển đổi ngành nghề giải quyết việc làm cho đối tượng thuộc diện thu hồi đất, di dời giải tỏa: Thành phố giao cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp các ngành tổ chức quán triệt, triển khai sâu rộng đến cấp xã, phường các quyết định công văn hướng dẫn có liên quan đến việc giải quyết việc làm cho người lao động như: Quyết định số 65/2005/QĐ-UBND ngày 24-5-2005 Đề án hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, ổn định đời sống đối với đối tượng trong diện thu hồi đất sản xuất, di dời, giải tỏa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi tắt là Đề án 65) và Quyết định số 31/2008/QĐ-UBND, ngày 27-5-2008, sửa đổi, bổ sung Quyết định số 65/2005/QĐ-UBND, Quyết định số 55/2006/QĐ-UBND, ngày 30-5-2006, về danh mục, mức chi đào tạo nghề ngắn hạn tại các cơ sở dạy nghề và mức hỗ trợ kèm nghề, giải quyết việc làm tại các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Công văn số 5949/UBND-VX, ngày 19-10-2005, về việc ủy thác vốn ngân sách thực hiện Quyết định số 65/2005/QĐ-UBND...

Thực hiện chủ trương chung, hầu hết các quận, huyện, xã, phường đều tổ chức gặp mặt, đối thoại trực tiếp với từng hộ gia đình tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của người lao động, qua đó có biện pháp hỗ trợ vốn, phương tiện làm ăn để giúp họ ổn định cuộc sống. Đồng thời phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình Đà Nẵng tuyên truyền chủ trương, chính sách của thành phố, kết hợp tổ chức trong các phiên chợ việc làm, qua đó đã tạo điều kiện cho lao động có cơ hội tham gia học nghề và việc làm, hằng năm tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm, đẩy mạnh việc thực hiện lồng ghép nội dung các đề án để bảo đảm hiệu quả. Những đơn vị làm tốt việc này có thể kể đến như Trung tâm Đào tạo nghề Hòa Vang liên kết đào tạo với hàng chục doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, đào tạo, giải quyết việc làm cho trên 650 lao động; cơ sở dạy nghề của quận Ngũ Hành Sơn đã tổ chức được 6 khóa dạy nghề cho trên 300 lao động... Đây là những hoạt động có ý nghĩa thiết thực, vì đào tạo theo mô hình này là gắn với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất với người lao động, làm cho tay nghề của người lao động vững vàng, được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chấp nhận nhận, có việc làm ngay và thu nhập ổn định.

- Đẩy mạnh các hoạt động phát triển kinh tế để tạo việc làm, thành phố tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cả về thủ tục hành chính và cơ sở hạ tầng trong việc thành lập doanh nghiệp. Tính đến nay, thành phố có khoảng 9.380 doanh nghiệp, tăng hơn 36% so với năm 2006, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng trên 73,80%, doanh nghiệp dân doanh tăng 37,42% nên đã thu hút được hơn 222.600 lao động. Đặc biệt, 2.502 doanh nghiệp mới được thành lập từ năm 2006 đến nay và một số doanh nghiệp tăng quy mô sản xuất đã tạo được hơn 91.130 việc làm mới cho người lao động, chiếm hơn 82% tổng số lao động được giải quyết việc làm; trong đó, các doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương đã giải quyết việc làm cho trên 11.170 lao động, các doanh nghiệp dân doanh đã giải quyết việc làm cho trên 49.860 lao động, chiếm hơn 43% tổng số lao động thu hút mới, chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giải quyết hơn 28.630 lao động, các chương trình kinh tế hộ giải quyết việc làm cho hơn 18.540 người, chiếm khoảng 16% lao động được giải quyết việc làm. Đặc biệt, cuối năm 2008 và đầu năm 2009, khu vực kinh tế hộ đã góp phần thu hút nhiều việc làm mới cho người lao động, các cơ quan hành chính, sự nghiệp đã tiếp nhận, tuyển dụng công chức, hợp đồng lao động 2.418 người vào làm việc.

Nhìn chung, công tác giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là người lao động trong diện di dời, giải tỏa đã được Thành ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân thành phố quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt, đó là một trong chương trình “3 có” của thành phố (có việc làm, có nhà ở, có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị). Tuy nhiên thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn một số hạn chế, đó là:

- Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của thành phố tuy đã được chú trọng nhưng nhận thức của một bộ phận người lao động còn chưa rõ, làm nảy sinh tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước trong vấn đề giải quyết việc làm.

- Số lao động được giải quyết việc làm ngày càng tăng nhưng nhiều việc làm chưa bền vững, người lao động bị mất việc làm có xu hướng gia tăng. Lao động qua đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu cả về chất lượng lẫn số lượng; cơ cấu lao động qua đào tạo chưa hợp lý, thiếu quy hoạch, nên vẫn còn thiếu lao động có tay nghề cao ở các ngành cơ khí, điện, điện tử...

- Việc triển khai các chính sách để hỗ trợ giải quyết việc làm cho đối tượng mất đất sản xuất, di dời, giải tỏa vẫn còn gặp khó khăn vì người lao động lớn tuổi, trình độ học vấn thấp...

- Các hoạt động dịch vụ việc làm, cung cấp, dự báo thông tin thị trường lao động mới đạt được những kết quả bước đầu, chưa thể phục vụ kịp thời cho nhu cầu của thị trường, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của người lao động cũng như của doanh nghiệp, người sử dụng lao động.

Với những thành tựu khả quan về kinh tế - xã hội trong năm 2009, dự báo trong thời gian tới thành phố Đà Nẵng vẫn tiếp tục là một địa bàn được quan tâm của giới đầu tư trong và ngoài nước. đây là một cơ hội để phát triển nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho thành phố thực hiện tốt các chủ trương, chính sách về lao động việc làm. Những giải pháp cơ bản để thành phố giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian tới là:

- Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình "3 có” , đa dạng hóa các kênh giao dịch trên thị trường lao động, đặc biệt là tổ chức các sàn giao dịch việc làm, hình thành ngân hàng việc làm kết nối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các gia đình có nhu cầu tuyển các nghề cơ bản ưu tiên giới thiệu cho những lao động lớn tuổi, lao động phổ thông vào làm việc.

- Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động nhằm thu thập, xử lý, phân tích dự báo, quản lý và cung cấp thông tin thị trường lao động theo các cấp về trình độ, ngành nghề, lĩnh vực đáp ứng yêu cầu về đào tạo và phát triển kinh tế của vùng, ngành, khu công nghiệp. Triển khai đề án tuyên truyền giáo dục pháp luật lao động cho người sử dụng lao động và người lao động. Xây dựng cơ chế phối hợp quản lý lao động là người nước ngoài.

- Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nghề gắn với quy hoạch nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, các ngành nghề mũi nhọn, chủ lực của thành phố phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, có kế hoạch đầu tư trọng điểm cho 1 đến 2 trường cao đẳng nghề công lập (hoặc đại học nghề khi có quy định) đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Đầu tư tập trung, đồng bộ (xây dựng chương trình đào tạo, trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, đào tạo đội ngũ giáo viên, cấp học bổng đối với người học) cho 3 đến 5 nghề thuộc các ngành mũi nhọn, công nghệ cao của thành phố, đạt chuẩn chất lượng khu vực và quốc tế. Thu hút đầu tư nước ngoài 1 dự án trường dạy nghề lớn về cảng biển, công nghệ đóng tàu, dịch vụ ven biển, trên biển và dưới biển, để bảo đảm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, phát triển kinh tế biển theo Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, Chương trình hành động của Thành ủy về kinh tế biển cho thành phố và các tỉnh miền Trung.

- Xây dựng đề án dạy nghề theo nhu cầu xã hội, trong đó quy định cơ chế, chính sách liên kết giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp, chính sách khuyến khích doanh nghiệp mở rộng cơ sở dạy nghề; chú trọng dạy nghề cho nông dân, đặc biệt là dạy nghề cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, vùng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động./.