Một nguyên tắc làm việc của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
TCCSĐT - Dù ở bất cứ cương vị nào, ở lĩnh vực công tác nào trong lãnh đạo và chỉ đạo, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đều luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn, coi trọng công tác tổng kết, rút kinh nghiệm và vận dụng những kinh nghiệm ấy vào thực tiễn công tác, chiến đấu.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn yêu cầu cán bộ, không chỉ “nói cách mạng” mà phải “làm cách mạng”, phải nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối, chính sách, nguyên tắc, phương châm của Đảng; đồng thời phải hiểu rõ tình hình thực tế để vận dụng lý luận, đường lối đó một cách sáng tạo và đạt được kết quả tốt nhất. Đại tướng luôn phê phán hiện tượng chỉ “sính nói chữ và nói lý luận suông”, “cãi nhau về lý luận viển vông” mà không xuất phát từ thực tiễn, tuy nhiên, theo Đại tướng, coi trọng thực tiễn không phải là quan điểm thực tế thiển cận hẹp hòi, sự vụ chủ nghĩa. Quan điểm và tác phong công tác này luôn nhất quán và xuyên suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đại tướng.
Đầu năm 1947, thực dân Pháp huy động lực lượng đánh từ Đà Nẵng ra Huế bằng cả đường bộ và đường không. Trên dải đất hẹp miền Trung lúc này, so sánh lực lượng giữa ta và địch là hết sức chênh lệch, Pháp có ưu thế về binh lực và hỏa lực, có sức cơ động cao, trong khi các lực lượng vũ trang của ta còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm chiến đấu lại luôn bị quân địch tiến công, làm cho lực lượng cách mạng của ta ở đây bị tổn thất, nhiều cơ sở ở đồng bằng lần lượt bị địch chiếm; lương thực, vũ khí thiếu thốn, bộ đội thương vong nhiều; một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân bắt đầu xuất hiện tư tưởng lo lắng, hoài nghi, dao động… Trước tình hình đó, với cương vị là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã quyết định triệu tập gấp hội nghị cán bộ. Nhận thức sâu sắc về vai trò của quần chúng nhân dân trong chiến tranh, ông đã nêu ra luận điểm: “mất đất chưa phải là mất nước” và đề ra nhiệm vụ là “phải tranh thủ từng người dân, từng thôn, không để mất dân và chết cũng không rời cơ sở”. Ông đề ra phương hướng tác chiến của lực lượng vũ trang ta là phải tìm chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch mà tiêu diệt chúng, lấy súng địch mà đánh địch, phát động toàn dân tham gia đánh giặc, bảo vệ cơ sở.
Kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc và kinh nghiệm đánh giặc của ông cha, Đại tướng đã nhận thức sâu sắc vai trò của chiến tranh du kích, xây dựng hậu phương, căn cứ địa ngay trong vùng địch tạm chiếm. Đại tướng cho rằng, có đẩy mạnh được chiến tranh du kích ta mới phá được kế hoạch “lấy người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của Pháp, mới phá được âm mưu củng cố phòng tuyến của địch và mới có điều kiện để phát triển lên đánh vận động. Trong xây dựng lực lượng vũ trang, nâng cao trình độ tác chiến của các thứ quân, Đại tướng yêu cầu phải tranh thủ huấn luyện, nhất là rèn luyện trong chiến đấu và phải thường xuyên rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn chiến đấu của bộ đội và nhân dân trên các mặt trận để nghiên cứu, tìm ra những cách đánh hay, từng bước hoàn thiện cách đánh. Đại tướng nhấn mạnh cách đánh phục kích, tập kích, đánh giao thông, kết hợp tác chiến với địch vận và phải diệt ác, trừ gian.
Từ thực tiễn tình hình, từ sự phân tích, tổng kết thực tiễn, những tư tưởng trên đây của Đại tướng đã chỉ đạo quân và dân Bình Trị Thiên tiến hành kháng chiến giành nhiều thắng lợi trong suốt những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần đưa cuộc kháng chiến phát triển lên một cục diện mới, đồng thời đã đóng góp nhiều kinh nghiệm quý cho lực lượng vũ trang cả nước vận dụng, noi theo.
Trong suốt hơn 10 năm (1950 - 1960), trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và Phó Bí thư Tổng Quân ủy, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã thực hiện vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân và của cả dân tộc Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng và đào tạo cán bộ được Đại tướng đặt lên hàng đầu. Với phương châm gắn chặt lý luận với thực tiễn, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, Đại tướng chủ trương lấy bồi dưỡng ngắn hạn là chính và phải vận dụng nhiều hình thức, biện pháp để giáo dục, bồi dưỡng cán bộ. Đó là thông qua các đợt bồi dưỡng ngắn ngày ở nhà trường với nội dung thiết thực; các cuộc vận động xây dựng đơn vị, các cuộc chỉnh huấn, các đợt giáo dục, rèn luyện đảng viên, các hình thức sơ kết, tổng kết kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm chiến đấu; tổ chức kèm cặp giúp đỡ lẫn nhau, cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, cấp trưởng bồi dưỡng cấp phó… Theo quan điểm đó, Đại tướng đã chủ động chỉ đạo sát sao việc xây dựng nội dung bồi dưỡng theo phương châm “chiến trường cần gì học nấy”; “làm gì học nấy”; lấy kinh nghiệm ở mặt trận để bồi dưỡng cho bộ đội ở hậu phương. Đại tướng chỉ rõ, trong chiến tranh phải đặc biệt coi trọng bồi dưỡng, rèn luyện thử thách cán bộ trong thực tiễn chiến đấu. Phải từ phong trào cách mạng của quần chúng mà bồi dưỡng cán bộ. Từ thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chiến đấu mà phát hiện ra các ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế của đội ngũ cán bộ để từ đó xác định đúng nội dung cần bồi dưỡng.
Bên cạnh đó, từ việc hiểu rõ trau dồi chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong quân đội ta là một bảo đảm rất quan trọng để chúng ta theo đúng đường lối của Đảng ta, để chúng ta giành thắng lợi, Đại tướng còn thường xuyên quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị. Đại tướng đã trực tiếp làm Giám đốc Trường Chính trị trung cao cấp (nay là Học viện Chính trị) ngay từ ngày đầu nhà trường được thành lập, đồng thời đã chỉ đạo tổ chức nhiều hội nghị tổng kết của các ngành thuộc lĩnh vực công tác đảng, công tác chính trị. Nhờ đó, lý luận về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội đã dần dần được hình thành, chương trình dạy học về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng không ngừng được mở rộng và nâng cao.
Nhờ có vũ khí lý luận sắc bén và thường xuyên xông xáo vào thực tế, tiếp xúc với quần chúng hằng ngày, Đại tướng đã nắm bắt nhanh những vấn đề thực tiễn, từ đó đề ra những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn và kịp thời. Trong lễ khai giảng khóa II của Trường Chính trị trung cao cấp, Đại tướng nêu rõ: Nếu không liên hệ lý luận với thực tiễn thì chỉ nắm được cái “xác ve” của nó và làm mất ý nghĩa tác dụng của nó, mất tính đảng của nó; dạy và học lý luận phải luôn kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ của Đảng, của quân đội. Trước những nhiệm vụ mới, yêu cầu người cán bộ phải tiến hành làm thử, làm thí điểm, có tổng kết đánh giá và tiến hành rút kinh nghiệm nghiêm túc ở một số đơn vị, sau đó mới nhân rộng ra nhiều đơn vị khác.
Những tổng kết từ thực tiễn giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng của Đại tướng đã làm nên sức sống của bản Báo cáo trung tâm: “Tích cực tiến hành và nắm chắc việc lãnh đạo tư tưởng trong Quân đội” tại Hội nghị Tuyên huấn toàn quân lần thứ nhất (năm 1951). Đó là những bài học vô cùng quý giá góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Bên cạnh đó, việc tổng kết thực tiễn lãnh đạo qua các cương vị từ Bí thư chi bộ (năm 1937), đến Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (năm 1950) của Đại tướng đã góp phần đưa đến hiệu quả thiết thực cho Hội nghị Tuyên huấn toàn quân lần thứ nhất. Qua đó tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy trong quân đội được củng cố, trách nhiệm trụ cột của chi bộ được đề cao, các tổ chức quần chúng phát huy vai trò làm chủ, đặt cơ sở vững chắc cho hệ thống tổ chức đảng và chế độ chính ủy, chính trị viên.
Sau hơn 10 năm trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, Đại tướng đã chỉ đạo tiến hành Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị của quân đội ta từ khi thành lập đến năm 1959, xác định rõ vị trí, chức năng, nguyên tắc tiến hành công tác chính trị, đồng thời phê phán quan điểm hạ thấp và thu hẹp chức năng công tác này. Đại tướng khẳng định quân đội nhân dân phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, thống nhất về mọi mặt của Đảng. Đó là nguyên tắc tối cao, bất di bất dịch, là nguồn gốc sức mạnh và là cơ sở cho mọi thắng lợi của quân đội.
Từ tổng kết đến thực tiễn 15 năm Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp quân đội về mọi mặt, Đại tướng đã đúc kết ra 7 nguyên tắc cơ bản về tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Đó là những nguyên tắc mang tính sống còn của quân đội, quyết định sức mạnh chiến đấu và công tác của lực lượng vũ trang, có tính biện chứng rất cao, có ý nghĩa lâu dài và là “linh hồn”, “mạch sống” của quân đội cách mạng. Công trình Tổng kết quan trọng này được Tổng cục Chính trị xuất bản năm 1960 đã khẳng định những vấn đề nguyên tắc không thể xa rời: Chúng ta phải ra sức tăng cường và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò của công tác chính trị. Đó là bài học kinh nghiệm lớn nhất, vứt bỏ kinh nghiệm đó, vi phạm nguyên tắc đó, bất cứ lúc nào, trong điều kiện nào, đều là sai lầm và dẫn đến thất bại… Cùng với việc chủ trì, chỉ đạo biên soạn và xuất bản công trình tổng kết quan trọng nói trên, Đại tướng còn viết nhiều bài báo chỉ đạo như: Kinh nghiệm công tác lãnh đạo của đảng ủy một đơn vị, Những kinh nghiệm lớn của công tác chính trị trong 15 xây dựng quân đội đăng trên Tạp chí Học tập, Tạp chí Quân đội nhân dân, được coi như “cẩm nang” để toàn quân học tập, vận dụng vào thực tế đơn vị mình.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm 1960), vấn đề củng cố hợp tác hóa nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trở thành một yêu cầu cấp bách mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải tập trung giải quyết. Trước tình hình trên, Đại tướng được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ phụ trách Ban Nông nghiệp Trung ương. Từ một vị tướng cầm quân chuyển sang cương vị một người lãnh đạo, chỉ đạo một ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, liên quan trực tiếp tới đời sống, sự no đói của hàng chục triệu đồng bào. Nhận thức rõ đây là một trọng trách rất lớn mà Đảng và Bác Hồ đã tin tưởng giao gánh vác, đồng chí đã phát huy hết tinh thần trách nhiệm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tích cực nghiên cứu tình hình thực tế. Đồng chí về Hợp tác xã Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trực tiếp xem xét tình hình đời sống của dân và hình thức canh tác của nông dân để trên cơ sở đó tổng kết rút kinh nghiệm xây dựng hợp tác xã này. Nghiên cứu sâu sắc những biến đổi ở nông thôn Đại Phong, đồng chí rút ra nhiều bài học kinh nghiệm mang tính điển hình và đề nghị Trung ương Đảng phát động phong trào toàn miền Bắc thi đua với Hợp tác xã Đại Phong. Đồng chí còn nghiên cứu nhiều hợp tác xã khác như Hợp tác xã Hà Xá, xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây; Hợp tác xã Hà Hồi, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây… Qua nghiên cứu thực tiễn, đồng chí đã viết nhiều bài báo chỉ đạo và cổ vũ phong trào như: Vài kinh nghiệm về lãnh đạo “Ăn cơm mới, nói chuyện cũ”, Mấy kinh nghiệm lớn về thâm canh tăng năng suất của Hợp tác xã Thư Thị…
Với phương châm đi sát thực tế, gần gũi nông dân, có cách nhìn vừa chiến lược, vừa rất cụ thể, thiết thực và nói thẳng, nói thật, coi trọng hành động và việc làm, nói đi đôi với làm, đồng thời rất chú trọng tổng kết thực tiễn để rút kinh nghiệm kịp thời trong lãnh đạo, chỉ đạo, đồng chí đã tạo nên luồng gió mới trên đồng ruộng Việt Nam trong đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, góp phần đưa sản xuất nông nghiệp của miền Bắc phát triển lên một bước mới cơ bản, chuẩn bị vững chắc tiềm lực cho cả nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Giữa năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bước vào thời điểm cam go quyết liệt, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Trung ương Đảng điều vào chiến trường, trực tiếp chỉ đạo cách mạng miền Nam. Trên cương vị là Bí thư Trung ương Cục, Chính ủy Quân giải phóng (10 - 1964), Đại tướng là người phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ và phát hiện đó được Bộ Chính trị chấp nhận, đưa ra quyết sách mới.
Trước nguy cơ phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, bước sang năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân đội đồng minh vào trực tiếp tham chiến tại chiến trường miền Nam Việt Nam cùng với quân đội Sài Gòn hòng cứu vãn sự thất bại thảm hại của Mỹ. Gần nửa triệu quân Mỹ và đồng minh được huấn luyện bài bản, trang bị mạnh đến “tận chân răng” và chưa từng nếm mùi thất bại ở bất cứ nước nào. Khi đó không ít người, trong đó có cả bạn bè của ta đều “khuyên” Việt Nam không nên đánh Mỹ, mà nên tìm cách giải quyết khác… Trước tình thế đó, Trung ương Đảng ta vẫn không hề nao núng. Vấn đề hạ quyết tâm đánh Mỹ, tìm ra cách đánh thắng quân Mỹ là một đòi hỏi bức thiết. Đại tướng đã xuống cơ sở, ra mặt trận gặp nhân dân, gặp cán bộ, chiến sĩ, từ thực tiễn sôi động nhằm tìm ra câu trả lời: dám đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng quân Mỹ để từ đó rút ra những vấn đề có tính lý luận và phương châm chỉ đạo kịp thời và sắc bén, cổ vũ hàng triệu quần chúng vừa tham gia chiến tranh, vừa sáng tạo cách đánh muôn hình muôn vẻ, tạo ra hiệu quả to lớn. Nhờ đó mà chúng ta đã vượt qua thử thách, từng bước chủ động về chiến lược và bắt Mỹ phải đánh theo cách của ta.
Đại tướng đã phân tích: Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược, Mỹ có cả một đống vũ khí nhưng lại vấp phải cả một đống mâu thuẫn, Mỹ tỷ phú về đô-la nhưng quân và dân ta lại “tỷ phú” về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có đường lối chiến tranh, chiến thuật đúng, phải tìm cách bắt Mỹ đánh theo cách đánh của ta, làm cho chúng bị tréo giò, như “ăn cháo bằng dĩa”, nên ta nhất định thắng.
Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng cùng Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo đánh thắng Mỹ ngay từ những trận đầu và từ thực tế chiến đấu, sự sáng tạo của các đơn vị, các địa phương, Đại tướng đã tổng kết thành các phương châm chỉ đạo tác chiến độc đáo như “nắm thắt lưng địch mà đánh”, “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, hình thành các “vành đai diệt Mỹ”…
Như vậy, từ việc tổng kết, phân tích thực tiễn chiến trường, Đại tướng đã cùng Trung ương Đảng và các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam giải quyết thành công vấn đề cấp bách và “hóc búa” nhất lúc đó là “dám đánh Mỹ và thắng Mỹ”. “Bám thắt lưng địch mà đánh” là một khái quát từ thực tiễn chiến đấu của các lực lượng vũ trang trên chiến trường mà Đại tướng là người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo. “Bám thắt lưng địch mà đánh” đã trở thành phương châm chỉ đạo tác chiến, là nội dung cốt lõi để các đơn vị xây dựng cách đánh cụ thể trong từng trận chiến nhằm đạt hiệu quả diệt địch cao nhất. “Bám thắt lưng địch mà đánh” đã làm cho sức mạnh vượt trội về hỏa lực, của những “siêu pháo đài bay B52”, của những “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, của “vua chiến trường” pháo tầm xa 175mm, cùng khả năng tác chiến bài bản của quân đội Mỹ trên chiến trường đều lần lượt bị vô hiệu hóa hoặc hạn chế đến mức tối đa, làm cho chúng không thể đánh theo công thức của một quân đội nhà nghề, một quân đội từng được mệnh danh là “không có đối thủ”!
Những tổng kết trên là kết quả của việc Đại tướng luôn bám sát thực tiễn, điều tra, nghiên cứu phân tích thực tiễn, phát hiện mâu thuẫn, nhất là phát hiện những nhân tố mới, từ đó đề ra phương cách xử lý đúng đắn, độc lập sáng tạo. Đại tướng luôn xông xáo, bám sát cơ sở và nắm chắc tình hình đơn vị, mọi quyết định, chủ trương, biện pháp của Đại tướng đều xuất phát từ tình hình thực tiễn, hướng đến giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhất là những vấn đề bức xúc, chưa tìm ra được hướng giải quyết.
Trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh vũ trang, kết hợp nhiệt huyết cách mạng với tri thức khoa học, Đại tướng không chỉ là người vững vàng, mưu lược, tài trí, mà còn có những cống hiến lớn lao vào công trình tổng kết lý luận và chỉ đạo chiến lược quân sự theo đúng đường lối và tư tưởng chiến tranh nhân dân của Đảng ta, góp phần xuất sắc vào việc phát triển lý luận, sáng tạo nghệ thuật quân sự đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong bài nói chuyện tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất với tiêu đề Phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược (tháng 5 - 1965), Đại tướng đã khái quát 5 nội dung chủ yếu của đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam. Sự tổng kết này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, không chỉ trong chiến tranh giữ nước mà cả trong hòa bình, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là tấm gương mẫu mực về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, coi trọng công tác tổng kết, rút kinh nghiệm, từ đó đề ra quyết tâm chiến lược đúng đắn và chính xác./.
Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương về văn hóa  (15/01/2014)
Triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh  (15/01/2014)
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á và Đại sứ Ai Cập  (15/01/2014)
Năm 2014 vùng Tây Nam bộ cần tập trung tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp  (15/01/2014)
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về phương án phân bổ cụ thể vốn trái phiếu Chính phủ bổ sung giai đoạn 2014 - 2016  (15/01/2014)
Bế mạc Phiên họp thứ 24, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII  (15/01/2014)
- Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Về đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030
- Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức ở nước ta hiện nay
- Danh sách các tác phẩm đoạt Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng - Giải Búa liềm vàng lần thứ X
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm