Ý nghĩa tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I. Lê-nin trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TCCS - Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” được V.I. Lê-nin viết vào năm 1917, trong giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho Cách mạng Tháng Mười Nga. Đây là một trong những tác phẩm lý luận chính trị vĩ đại nhất của Lê-nin, thể hiện tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vấn đề nhà nước, cách mạng và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tác phẩm có giá trị lý luận sâu sắc, góp phần hoàn thiện các luận điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Tổng quan về tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I. Lê-nin
Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” được viết trong hoàn cảnh trước ngày nổ ra Cách mạng Tháng Mười (từ tháng 7 đến tháng 8 - 1917). Để tránh sự bắt bớ của chính phủ lâm thời lúc bấy giờ, V.I. Lê-nin phải ẩn náu trong nhà một người công nhân ở ga Ra-đơ-lít trên biên giới Nga - Phần Lan, về sau lại ẩn náu trong túp lều tranh phía sau hồ Ra-đơ-lít để hoạt động và viết tác phẩm này.
Khi đó, phong trào công nhân quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức về lý luận và thực tiễn, nhiều người trong phong trào xã hội dân chủ xuyên tạc học thuyết của C. Mác về nhà nước. V.I. Lê-nin viết tác phẩm này để bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của C. Mác về nhà nước, đồng thời làm cơ sở lý luận cho việc chuẩn bị giành chính quyền về tay giai cấp vô sản ở Nga.
Tác phẩm gồm sáu chương, trình bày có hệ thống quan điểm về: Bản chất giai cấp của nhà nước; sự ra đời, vai trò và sự tiêu vong của nhà nước; vấn đề chuyên chính vô sản; con đường xây dựng nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân sau khi giành chính quyền.
Đối với tác phẩm này, V.I. Lê-nin không những khôi phục quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về nhà nước, mà còn phát triển một bước học thuyết của chủ nghĩa Mác về nhà nước và chuyên chính vô sản. Sau đó, V.I. Lê-nin có ý muốn viết tiếp phần thứ hai của tác phẩm này để tổng kết những kinh nghiệm của cuộc Cách mạng Nga năm 1905 và năm 1917, đồng thời tổng hợp những kinh nghiệm mới của chính quyền Xô-viết nhằm tiếp tục phát huy, làm phong phú thêm học thuyết về nhà nước của mình. Tuy nhiên, V.I. Lê-nin chưa kịp làm công việc đó thì Người đã mất.
Tác phẩm đã luận giải nguồn gốc giai cấp, xã hội của sự xuất hiện nhà nước. V.I. Lê-nin đưa ra khái niệm về nhà nước: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”(1).
V.I. Lê-nin phân tích bản chất của nhà nước tư sản thông qua những biểu hiện trong thế giới đương đại: “Nói một cách khác, nhà nước dưới chế độ tư bản chủ nghĩa là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, hơn nữa lại là của thiểu số đối với đa số”(2). V.I. Lê-nin nêu rõ, cần phải dùng bạo lực cách mạng, cách mạng vô sản để xóa bỏ nhà nước của giai cấp tư sản, còn đối với nhà nước của giai cấp vô sản, cần phải làm nó “tự tiêu vong”. Đó là cơ sở của toàn bộ học thuyết về nhà nước của C. Mác và Ph. Ăng-ghen đưa ra. Cùng với đó, V.I. Lê-nin chỉ ra thực chất học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác - chuyên chính vô sản và hình thức nhà nước của giai cấp vô sản, đồng thời đặt ra vấn đề “Cơ sở kinh tế của nhà nước tiêu vong, hai giai đoạn của xã hội cộng sản chủ nghĩa”. V.I. Lê-nin định nghĩa khoa học, toàn diện, sâu sắc vấn đề này: Nhà nước sẽ hoàn toàn tiêu vong trong giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản. Cơ sở kinh tế của nhà nước tiêu vong là vấn đề liên hệ giữa nhà nước tiêu vong và chủ nghĩa cộng sản. Đây là một trong những nội dung chủ yếu của tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”.
Ý nghĩa của tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I. Lê-nin là một trong những công trình lý luận chính trị vĩ đại của nhân loại, góp phần làm sáng tỏ bản chất, vai trò và quy luật phát triển của nhà nước trong tiến trình lịch sử loài người, đặc biệt là trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Những tư tưởng sâu sắc được V.I. Lê-nin trình bày trong tác phẩm không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước Nga đầu thế kỷ XX, mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn bền vững đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những quan điểm của V.I. Lê-nin trong tác phẩm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức, hoạt động của Nhà nước Việt Nam theo tinh thần “của dân, do dân, vì dân”, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân và được thực thi vì lợi ích của nhân dân.
Trước hết, tác phẩm làm rõ nhận thức về bản chất giai cấp của nhà nước và định hướng xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. V.I. Lê-nin khẳng định, nhà nước không phải là một cơ quan trung lập phục vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội như quan niệm của các học giả tư sản, mà là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa, là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác. Từ đó, Người chỉ ra, khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, phải xây dựng một kiểu nhà nước mới, nhà nước của giai cấp vô sản, nhà nước của nhân dân lao động, nhằm thủ tiêu mọi hình thức áp bức, bóc lột, từng bước tiến tới xã hội không còn giai cấp.
Ở Việt Nam, tư tưởng này được vận dụng trong việc xác lập bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc lãnh đạo. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam không tách rời tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, thể hiện trong đường lối, chính sách và mục tiêu phát triển mà mọi hoạt động của Nhà nước đều hướng đến phục vụ lợi ích của nhân dân, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội.
Tác phẩm cũng chỉ ra, việc xây dựng nhà nước kiểu mới không thể thực hiện bằng con đường cải lương hay thỏa hiệp với giai cấp thống trị cũ lạc hậu, phản động, mà phải thông qua cách mạng bạo lực để đập tan bộ máy nhà nước tư sản, thay thế bằng nhà nước chuyên chính vô sản. Tuy hoàn cảnh lịch sử Việt Nam khác với nước Nga đầu thế kỷ XX, song tư tưởng của V.I. Lê-nin về tính cách mạng và triệt để trong việc thiết lập nhà nước mới vẫn có ý nghĩa định hướng sâu sắc. Việt Nam giành được chính quyền bằng con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay phải tiếp tục giữ vững tính cách mạng, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đồng thời phải đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước theo hướng pháp quyền, dân chủ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Một trong những tư tưởng quan trọng của V.I. Lê-nin trong tác phẩm là quan điểm về chuyên chính vô sản. Đây là hình thức chính quyền của giai cấp công nhân sau khi giành được chính quyền, nhằm sử dụng quyền lực nhà nước để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bị lật đổ, đồng thời tổ chức xã hội mới, bảo vệ và củng cố thành quả cách mạng. Tuy nhiên, chuyên chính vô sản không đồng nghĩa với việc đàn áp hay phủ nhận dân chủ; trái lại, đó là hình thức dân chủ cao nhất của nhân dân lao động. Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” được kế thừa và phát triển thành “hệ thống chính trị”; từ “Nhà nước chuyên chính vô sản” thành “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều đó có nghĩa là, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực, đồng thời cũng là người giám sát, kiểm soát quyền lực đó thông qua các cơ quan đại diện, thông qua thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Việc củng cố và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lê-nin trong bối cảnh mới.
Tư tưởng của V.I. Lê-nin về mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật cách mạng cũng mang giá trị chỉ dẫn to lớn cho Việt Nam hiện nay. V.I. Lê-nin cho rằng, nhà nước vô sản phải là nhà nước dân chủ nhất, nhưng đồng thời cũng phải có “kỷ luật sắt”; bởi dân chủ mà không có kỷ luật sẽ dẫn đến hỗn loạn, còn kỷ luật mà không có dân chủ sẽ trở thành độc đoán. Vận dụng quan điểm đó, Việt Nam luôn nhấn mạnh yêu cầu giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ bảo đảm dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân, mà còn phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không ai được đứng trên pháp luật. Nguyên tắc này thể hiện rõ trong công cuộc cải cách hành chính, xây dựng thể chế, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí. Việc thượng tôn pháp luật và xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, khả thi chính là điều kiện để dân chủ được thực thi thực chất và có hiệu quả.
Bên cạnh đó, tư tưởng V.I. Lê-nin về vai trò của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội là một giá trị cốt lõi đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Người cho rằng, nhà nước kiểu mới phải là nhà nước thực sự của nhân dân, trong đó nhân dân không chỉ là người thụ hưởng, mà còn là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình quản lý xã hội. Nhà nước vô sản khác về bản chất với nhà nước tư sản ở chỗ xóa bỏ tình trạng “người cai trị và người bị trị”, đưa nhân dân vào vị trí trung tâm của quyền lực. Việt Nam vận dụng điều này khi xác định rõ nguyên tắc mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhân dân thực hiện quyền lực đó thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan hành chính, tư pháp và các hình thức dân chủ trực tiếp như trưng cầu ý dân, phản biện xã hội, hình thức dân chủ gián tiếp như giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được triển khai sâu rộng trong đời sống chính trị - xã hội, tạo nên động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Một khía cạnh khác có ý nghĩa đặc biệt trong tác phẩm là luận điểm về “nhà nước tiêu vong”. V.I.Lê-nin chỉ ra, nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, vì vậy khi xã hội tiến tới không còn giai cấp, nhà nước với tư cách là công cụ bạo lực sẽ dần dần tiêu vong, nhường chỗ cho sự tự quản của nhân dân. Mặc dù đây là mục tiêu của nhân loại, song nó vẫn có ý nghĩa định hướng cho Việt Nam trong việc xây dựng một nhà nước ngày càng dân chủ, trong sạch, phục vụ nhân dân. Tinh thần “tiêu vong dần” của nhà nước được thể hiện ở việc giảm bớt tính quan liêu, tăng cường tính phục vụ, đưa quyền lực về gần nhân dân, phát huy cơ chế tự quản ở cơ sở, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực, chống lạm quyền và tha hóa quyền lực.
Tư tưởng V.I. Lê-nin cũng có giá trị định hướng sâu sắc trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là những người trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước. V.I. Lê-nin cho rằng, nhà nước vô sản phải có một bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, hoạt động hiệu quả, cán bộ phải là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, chống xa rời quần chúng, chống đặc quyền, đặc lợi. Ở Việt Nam, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng của V.I. Lê-nin về đạo đức của người cán bộ. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh, Việt Nam đang tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, có tinh thần phục vụ nhân dân, thượng tôn pháp luật, làm việc vì lợi ích chung, tránh xa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích nhóm. Đó chính là biểu hiện sinh động của việc vận dụng sáng tạo tư tưởng V.I. Lê-nin trong điều kiện mới.
Tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” còn gợi mở cho Việt Nam cách tiếp cận toàn diện trong mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật. V.I. Lê-nin nhấn mạnh, trong xã hội chủ nghĩa, pháp luật trở thành phương tiện quản lý xã hội dân chủ, bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động. Tư tưởng này được thể hiện trong việc Việt Nam xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ, đặt con người ở vị trí trung tâm. Mọi chính sách, pháp luật đều hướng tới bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy công bằng xã hội, phát triển bền vững. Cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước số, chính phủ điện tử, minh bạch hóa hoạt động của cơ quan công quyền… đều là biểu hiện cụ thể của việc phát huy tinh thần pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp luật thực sự trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nhà nước và xã hội.
Bên cạnh lĩnh vực tổ chức và pháp lý, V.I. Lê-nin còn định hướng đối với phương diện kinh tế và xã hội của nhà nước. Người cho rằng, nhà nước vô sản phải đảm nhiệm vai trò tổ chức, điều tiết nền kinh tế vì lợi ích của đại đa số nhân dân. Ở Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó việc nắm vững và giải quyết tốt mọi quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường là một biểu hiện cụ thể của việc vận dụng tư tưởng V.I. Lê-nin. Nhà nước vừa tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, vừa bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, bảo vệ người yếu thế, hướng tới mục tiêu hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, những giá trị trong “Nhà nước và cách mạng” càng có ý nghĩa sâu sắc. Trước những tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, mặt trái công nghệ số, việc kiên định con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi phải nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lê-nin về nhà nước kiểu mới. Nhà nước không chỉ quản lý bằng pháp luật, mà còn quản lý bằng văn hóa, đạo đức và niềm tin; không chỉ bảo đảm quyền lực tập trung, thống nhất, mà còn phát huy tối đa vai trò của nhân dân và xã hội trong giám sát, phản biện và tham gia quản lý. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi vừa giữ vững định hướng chính trị của Đảng, vừa không ngừng đổi mới phương thức cầm quyền, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình, hướng tới một nền quản trị nhà nước hiện đại, hiệu quả, phục vụ nhân dân.
Như vậy, tư tưởng trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I. Lê-nin đã, đang và sẽ tiếp tục soi sáng con đường xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những giá trị lý luận về bản chất giai cấp của nhà nước, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, giữa nhà nước và nhân dân, giữa pháp luật và đạo đức, giữa kinh tế và xã hội… đều mang ý nghĩa chỉ đạo sâu sắc cho thực tiễn nước ta. Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lê-nin trong điều kiện hiện nay không chỉ củng cố nền tảng lý luận cho quá trình đổi mới, mà còn góp phần xây dựng Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, hiện đại, dân chủ, nhân văn, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong thế kỷ XXI./.
-----------------------------
(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2005, t.33, tr. 8
(2) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2005, t33, tr. 110 - 111
Một số giải pháp nâng cao quyền tham gia của công dân trong phòng, chống tham nhũng  (20/02/2026)
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kiến tạo giá trị nền tảng để dân tộc vươn mình trong kỷ nguyên mới  (09/11/2025)
Hoàn thiện một số quy định của Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng  (14/01/2025)
- Tiêu chí hiện thực hóa mục tiêu phát triển “hòa bình, độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc” ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
- Tiếp cận toàn diện trong quản lý phát triển xã hội - Nhìn từ quan niệm và nội dung cốt lõi của các lý thuyết phát triển đương đại
- Tạo xung lực mới, nâng tầm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong kỷ nguyên phát triển mới
- Báo chí phát huy vai trò diễn đàn của nhân dân trong kỷ nguyên mới của dân tộc
- Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm