Yêu cầu giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong giai đoạn phát triển mới
TCCS - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định rõ phương hướng lớn phát triển đất nước, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đổi mới, ổn định và phát triển. Trong quá trình đổi mới, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cần được giải quyết đúng đắn để tạo động lực phát triển nhanh và bền vững cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây cũng là cơ sở để đề ra giải pháp thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự phiên Đối thoại cấp cao của Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) năm 2025 _Nguồn: baochinhphu.vn
Đổi mới, ổn định và phát triển ở Việt Nam trong bối cảnh mới
Giữa đổi mới, ổn định và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ. Trong dài hạn, ổn định và phát triển có quan hệ tương tác, thúc đẩy lẫn nhau. Một quốc gia không thể phát triển được nếu có không có sự ổn định, bao gồm cả ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Thực tế cho thấy, tình trạng bất ổn định tiềm ẩn nguy cơ làm giảm đầu tư vào năng lực sản xuất, năng lực công nghệ và kỹ năng làm việc, làm tốc độ tăng trưởng và phát triển chậm lại, thậm chí đảo ngược các quá trình này nếu sự bất ổn kéo dài.
Theo chiều ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế thấp hoặc trì trệ sẽ dẫn đến bất mãn của người dân, qua đó có thể gây ra mất ổn định về xã hội, làm cho mục tiêu xã hội công bằng không đạt được. Tình trạng bất bình đẳng ở mức cao và kéo dài sẽ dẫn đến sự phân cực xã hội, qua đó phá vỡ sự gắn kết xã hội, là nguyên nhân dẫn đến mất ổn định xã hội ở một số nước trên thế giới.
Xét trong ngắn hạn, vẫn không thể tránh khỏi một số khó khăn trong việc bảo đảm mục tiêu công bằng xã hội khi phải đồng thời thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển, giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường... Điều quan trọng là tìm giải pháp phù hợp tạo động lực cho sự tăng trưởng của các thành phần kinh tế, tạo cơ hội phát huy tối đa năng lực của cá nhân, tổ chức. Đây là một trong những cân nhắc quan trọng khi thiết kế chính sách để bảo đảm cân bằng giữa ổn định và phát triển.
Trong ngắn hạn cũng có thể cân nhắc điều chỉnh giữa phát triển nhanh và phát triển công bằng, phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu bảo đảm môi trường bền vững tùy từng trường hợp, giai đoạn, nhưng luôn phải bảo đảm mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện cho người dân. Trong trường hợp của Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh được đặt ra nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Cùng với đó, phát triển công bằng (hay bao trùm) cũng được nhấn mạnh để bảo đảm không có ai bị bỏ lại phía sau - yếu tố quan trọng bảo đảm ổn định xã hội. Việc thúc đẩy khoa học - công nghệ sẽ giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới, song có thể làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa nhóm dân cư, vùng, miền khác nhau.
Quan hệ giữa mục tiêu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu bảo đảm môi trường bền vững cũng có sự tương tác, thúc đẩy lẫn nhau trong dài hạn, song có thể cân nhắc điều chỉnh trong ngắn hạn. Cơ chế, chính sách cần được điều chỉnh và đổi mới một cách phù hợp với bối cảnh để tối đa hóa tương tác, thúc đẩy lẫn nhau, đồng thời giảm thiểu sự đánh đổi giữa ổn định và phát triển. Ví dụ, nếu chỉ số phát triển của một quốc gia cho thấy phát triển kinh tế chậm lại thì cần có sự điều chỉnh, thậm chí cần có sự đổi mới đáng kể cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong những trường hợp khác, khi phân cực xã hội tăng, tác động tiêu cực đến sự gắn kết và ổn định xã hội, có nhiều đề xuất được đưa ra, như đánh thuế lũy tiến để giảm mức chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư hay quy định nhằm làm chậm lại việc ứng dụng một số công nghệ đột phá để bảo vệ việc làm trong các ngành công nghiệp truyền thống, qua đó bảo đảm sự ổn định xã hội. Giữa đổi mới, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và phương thức quản lý xã hội với ổn định và phát triển có quan hệ mang tính hai chiều. Đổi mới giúp phát triển và ổn định, ở chiều ngược lại, ổn định và phát triển sẽ tạo động lực thúc đẩy đổi mới thông qua cơ chế phản hồi.
Nội hàm cũng như quan hệ tương tác giữa đổi mới, ổn định và phát triển không mang tính bất biến, mà phụ thuộc vào bối cảnh trong nước và quốc tế. Vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam ở trong tình trạng khó khăn về kinh tế - xã hội. Lúc này ổn định kinh tế vĩ mô là ưu tiên hàng đầu, là tiền đề để phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Sau năm 1986, khi thực hiện đổi mới với thu nhập bình quân đầu người rất thấp, việc phát triển kinh tế được ưu tiên để tạo việc làm, nâng cao thu nhập, coi đó là điều kiện tiên quyết để bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Giai đoạn này chứng kiến việc xóa bỏ rào cản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp để chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đến nay, khi bối cảnh đất nước có những thay đổi sâu sắc gắn với sự gia tăng mạnh mẽ cả về thế và lực, rõ ràng Việt Nam lại cần tới thể chế, cơ chế hoàn thiện hơn nữa nhằm tạo ra động lực phát triển mới. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được thành tích cao về tăng trưởng kinh tế, vượt trội so với nhóm các nước có trình độ phát triển tương đồng. Tổng hợp số liệu của Tổng cục Thống kê và số liệu của báo cáo “Các chỉ số phát triển thế giới” của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1986 - 2024, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người của Việt Nam hằng năm trung bình đạt khoảng 6,67%, cao hơn nhiều khi so sánh với chỉ số tương tự của nhóm các nước thu nhập thấp, thu nhập trung bình thấp và mức tăng trưởng trung bình của thế giới, đạt tương ứng là 0,92%, 2,95% và 1,57%. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng nhanh qua các năm và dự kiến đạt mức 5.000USD vào năm 2025, tức là tăng khoảng 19 lần so với năm 1986. Đây là kết quả tăng trưởng ấn tượng. Ngoài ra, việc đo lường theo chỉ số Gini cho thấy, bất bình đẳng được kiềm chế ở mức tương đồng với các nước có cùng trình độ phát triển. Tuy nhiên, sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất trong xã hội vẫn có xu hướng gia tăng và cần được tiếp tục kiểm soát, điều tiết với chính sách phù hợp.
Vấn đề môi trường cũng đang nổi lên, trở thành thách thức lớn. Số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, lượng khí thải CO2 trên đầu người ở Việt Nam đang tăng nhanh và kể từ năm 2006 đã vượt quá mức của các nước thu nhập trung bình thấp.
Như vậy, quá trình phát triển của Việt Nam đã nổi lên các vấn đề cần chú ý là bảo vệ môi trường và giảm thiểu phân hóa giàu nghèo. Có thể nhìn nhận về 6 quá trình chuyển đổi đang đồng thời diễn ra, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm: 1- Chuyển đổi cơ cấu sở hữu - giảm tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp nhà nước; 2- Chuyển đổi cơ cấu ngành - giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp; 3- Chuyển đổi cơ cấu xã hội - giảm tỷ trọng của nhóm người nghèo và cận nghèo, tăng tỷ trọng của nhóm có kinh tế bảo đảm và tầng lớp trung lưu, tăng tỷ trọng của những người có trình độ đào tạo sau phổ thông, tăng tỷ trọng của những người trên 60 tuổi trong xu hướng già hóa dân số; 4- Chuyển đổi phương thức ứng xử với môi trường - giảm tỷ trọng của kinh tế dựa vào năng lượng hóa thạch - kinh tế nâu, tăng tỷ trọng của kinh tế xanh; 5- Chuyển đổi cơ cấu không gian - giảm tỷ trọng của cư dân nông thôn; 6- Chuyển đổi cơ cấu theo hàm lượng công nghệ - tăng tỷ trọng các ngành có hàm lượng công nghệ cao; mức độ chuyển đổi số - tăng tỷ trọng ứng dụng công nghệ số trong các ngành, lĩnh vực.
Trên bình diện quốc tế, một số xu hướng lớn đang diễn ra có tác động đáng kể đến quá trình phát triển của Việt Nam, cụ thể là:
Thứ nhất, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra nhanh chóng đang làm thay đổi nền tảng của tăng trưởng và phát triển trên phạm vi toàn cầu, tạo ra cơ hội và thách thức đan xen đối với Việt Nam.
Thứ hai, cạnh tranh nước lớn gia tăng cùng với sự lớn mạnh của một số quốc gia mới nổi, sự mở rộng của các khối liên kết mới... đang tạo ra thay đổi lớn về tương quan ảnh hưởng địa - kinh tế và địa - chính trị trên thế giới. Tình hình quốc tế biến động mạnh đem lại cơ hội nhất định cho Việt Nam, song sự cạnh tranh ngày càng tăng lên giữa các quốc gia về chính trị, quan hệ quốc tế, công nghệ cũng đem lại nhiều thách thức trong trung hạn và dài hạn.
Thứ ba, vai trò của dịch vụ tăng nhanh, tích hợp mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đang làm thay đổi nội hàm của công nghiệp hóa, làm giảm lợi thế so sánh của các nước đi sau đang dựa vào cách sản xuất hàng loạt truyền thống, gây bất lợi cho Việt Nam.
Thứ tư, sự xuất hiện của thách thức liên quan đến an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, an ninh con người, dịch bệnh,... tác động tiêu cực đến thế giới trong ngắn, trung và dài hạn.
Trong bối cảnh đó, việc đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế và quản lý xã hội nhằm đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội là rất cần thiết. Một số cách thức sau có thể được cân nhắc:
Một là, nhanh chóng hoàn tất quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập, phù hợp với giá trị phổ quát toàn cầu, coi ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết của phát triển bền vững. Cần có giải pháp mới nhằm tạo điều kiện để các tập đoàn tư nhân lớn trong nước vươn lên tầm khu vực và quốc tế; thực thi cơ chế thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới gắn với việc nắm bắt cơ hội từ hiệp định thương mại đã ký kết, từ thay đổi về tương quan ảnh hưởng địa-kinh tế, địa-chính trị; tháo gỡ rào cản đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ để thúc đẩy tăng trường bao trùm, qua đó tạo thêm việc làm cho người lao động ít kỹ năng, góp phần ổn định xã hội.
Hai là, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ có năng suất và giá trị gia tăng cao, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, định hướng lại quá trình công nghiệp hóa cho phù hợp với xu hướng “dịch vụ hóa” đang diễn ra mạnh mẽ trong kỷ nguyên số; phát triển nông nghiệp theo hướng chú trọng chất lượng, tạo ra sản phẩm thương hiệu Việt.
Ba là, nâng cấp công nghệ và chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực để thúc đẩy nền kinh tế, xã hội số và chính phủ số. Cần kết hợp giữa cách tiếp cận tịnh tiến với nhảy vọt: Ưu tiên việc ứng dụng và hấp thụ công nghệ đối với đa số doanh nghiệp và người dân để bảo đảm tính bao trùm của quá trình phát triển, góp phần bảo đảm ổn định xã hội; thúc đẩy đột phá và phát triển nhảy vọt trong lĩnh vực có tính khả thi cao, như lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, kinh tế chia sẻ, trí tuệ nhân tạo... nhằm tạo thuận lợi cho đông đảo doanh nghiệp và người dân ở mọi vùng, miền, các nhóm dân tộc khác nhau có thể tham gia được vào quá trình phát triển.
Bốn là, đổi mới phương thức quản lý với các giải pháp đủ mạnh để thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ tăng trưởng nâu sang tăng trưởng xanh; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, qua đó thực hiện mục tiêu về bảo đảm môi trường bền vững.
Năm là, thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu dân số tích cực để tăng mạnh tỷ trọng dân cư đô thị với cơ cấu hợp lý (giảm mật độ của các đô thị lớn, gia tăng số lượng các đô thị trung bình và nhỏ) trên cơ sở phát triển hạ tầng kết nối hiệu quả (bao gồm cả kết nối số), tăng tính bao trùm cũng như nâng cao khả năng thích ứng với điều kiện “bình thường mới” của giai đoạn sau đại dịch.
Sáu là, đổi mới thể chế, coi phát triển con người là trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là động lực, mục tiêu của cả đổi mới, ổn định và phát triển. Tiếp tục giảm nghèo bền vững, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số; tạo lập nền tảng để hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi sang xã hội trung lưu với trọng tâm hướng vào nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục), sự tham gia của người dân vào đời sống kinh tế, xã hội của đất nước; thích ứng với quá trình già hóa dân số bằng việc cải cách hệ thống an sinh xã hội (mở rộng diện bao phủ và nâng cao hiệu quả) và làm chậm lại, tiến tới đảo ngược quá trình này trong dài hạn.
Bảy là, cải cách thể chế và quản trị quốc gia; nâng cao năng lực dự báo và khả năng thích ứng với xu hướng thay đổi nhanh cùng tính bất định gia tăng của bối cảnh toàn cầu.
Tháo gỡ rào cản đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ để thúc đẩy tăng trường bao trùm, tạo thêm việc làm cho người lao động _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
Cơ sở lý luận của quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị: Đổi mới kinh tế có tác động đến đổi mới chính trị. Đổi mới kinh tế sẽ tạo điều kiện và là nền tảng vững chắc để đổi mới chính trị diễn ra được thuận lợi. Khi tiến hành đổi mới, cần bảo đảm sự đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Sự tác động của chính trị đối với kinh tế theo khuynh hướng khác nhau: thúc đẩy, kìm hãm hoặc vừa thúc đẩy mặt này, vừa kìm hãm mặt kia và do vậy có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế ở chừng mực nhất định.
Mục tiêu của giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam: Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Đây là vấn đề luôn được đặt ra trong suốt quá trình đổi mới. Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được Đại hội XII của Đảng xác định là một trong chín mối quan hệ lớn phải được xử lý tốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị thể hiện trước hết ở quan hệ giữa xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mang lại phồn thịnh cho nhân dân, với việc xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thể hiện ở nhiều phương diện. Xét từ mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với các yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường. Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả nguồn lực; điều tiết sản xuất, lưu thông, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp... Sự vận hành hiệu quả của thị trường có thể tác động tích cực đến việc nâng cao đời sống nhân dân, đến việc điều chỉnh chính sách. Ngược lại, sự vận hành không hiệu quả của thị trường có thể gây ra tác động tiêu cực. Một minh chứng điển hình là đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, gây ra suy thoái trầm trọng và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị toàn cầu, cách thức hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống xã hội.
Sự tương tác giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị: Việt Nam lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm và từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xét đến cùng, kinh tế là nhân tố quyết định. Đổi mới kinh tế còn là tiền đề, điều kiện cho việc tiến hành tốt công cuộc đổi mới về chính trị. Có đổi mới, phát triển kinh tế mới tạo lập được điều kiện cơ bản để giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tiến hành đổi mới chính trị thuận lợi. Thực tiễn đổi mới kinh tế ở Việt Nam đang đòi hỏi và tiếp tục đặt ra yêu cầu của đổi mới chính trị. Những bước tiến, sự thay đổi của kinh tế sẽ tạo ra yêu cầu điều chỉnh về tổ chức bộ máy, phương thức vận hành cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển một nền kinh tế mang tính chất dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân, trước hết là nhân dân lao động; nhiệm vụ này đặt ra yêu cầu và tạo ra tiền đề vật chất để bảo đảm và phát huy ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân; bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng để phát triển tầm nhìn lãnh đạo, quản lý, điều hành, hoàn thiện thể chế, pháp luật, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tăng cường hiệu quả lãnh đạo, quản lý trong hoạt động của tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng.
Đồng thời, đổi mới một cách căn bản tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là điều kiện để bảo đảm duy trì thành tựu của đổi mới kinh tế. Sự thay đổi của nền tảng kinh tế tất yếu đòi hỏi sự thay đổi tương ứng của chính trị. Hơn nữa, do cốt lõi của quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước, nên khi đổi mới kinh tế thì cũng đòi hỏi đổi mới chức năng, phương thức quản lý và tổ chức bộ máy của Nhà nước, tức là đổi mới chính trị. Yếu kém trong việc triển khai, vận hành tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có thể dẫn đến tình trạng chậm tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo động lực phát triển kinh tế. Đổi mới trên lĩnh vực chính trị nhằm khắc phục lực cản đối với phát triển kinh tế đã trở thành đòi hỏi cấp thiết ở nước ta hiện nay.
Khi giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, không thể tách rời đổi mới kinh tế khỏi đổi mới chính trị, hoặc ngược lại. Sinh thời, V. I. Lê-nin chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế...; chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế...; không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ vững được sự thống trị của mình, do đó không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất.
Từ thực tiễn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay cho thấy, sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, về cơ bản Việt Nam đã tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế và có những điều chỉnh về tổ chức bộ máy và phương thức vận hành cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, từ yêu cầu của thực tiễn gắn với yêu cầu vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, như giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường./.