Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng chính sách của Việt Nam
TCCS - Trong kỷ nguyên tri thức, ngoại giao khoa học trở thành chiến lược của nhiều quốc gia nhằm tiếp cận công nghệ tiên tiến, kiến tạo không gian hợp tác và nâng cao vị thế quốc tế. Những bài học từ thực tiễn các nước về cơ chế vận hành, mô hình tổ chức và nguồn lực đầu tư là nền tảng để Việt Nam xây dựng chính sách ngoại giao khoa học phù hợp, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Ngoại giao khoa học trong kỷ nguyên phát triển mới
Bước sang kỷ nguyên mới, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững và cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế. Bối cảnh đó đặt ra những yêu cầu mới về tư duy và thực tiễn trong ngoại giao khoa học. Trong kỷ nguyên tri thức, đối ngoại đóng vai trò kiến tạo không gian hợp tác, tham gia xây dựng chuẩn mực và huy động nguồn lực tri thức, công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn. Với Việt Nam, khoa học - công nghệ vừa là điều kiện then chốt để phát triển nhanh và bền vững, vừa là nền tảng của năng lực tự chủ trong hội nhập quốc tế.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng, thể hiện sự chuyển dịch tư duy trong ngoại giao khoa học. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” và Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” khẳng định chiến lược xuyên suốt: phát triển dựa trên khoa học - công nghệ là nền tảng, hội nhập quốc tế là phương thức, đối ngoại kiến tạo là không gian để huy động, kết nối và chuyển hóa các nguồn lực thành năng lực nội sinh của quốc gia. Ngoại giao khoa học không chỉ thu hút sự quan tâm trong nghiên cứu và hoạch định chính sách đối ngoại mà đã đi vào thực tiễn điều hành, phát triển đất nước.
Theo báo cáo của Royal Society và Hiệp hội vì sự tiến bộ của khoa học Hoa Kỳ (AAAS), ngoại giao khoa học là việc sử dụng hợp tác khoa học giữa các quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề chung và xây dựng các quan hệ đối tác quốc tế mang tính xây dựng (1). Ngoại giao khoa học bao gồm ba chiều cạnh gắn bó hữu cơ: khoa học phục vụ ngoại giao (science in diplomacy), ngoại giao phục vụ khoa học (diplomacy for science) và khoa học thúc đẩy quan hệ quốc tế (science for diplomacy). Với cách tiếp cận đó, ngoại giao khoa học không giới hạn trong hợp tác nghiên cứu, mà gắn trực tiếp với quá trình ra quyết định và triển khai chính sách đối ngoại.
Về mặt lý thuyết, ngoại giao khoa học được đặt tại giao điểm của hai hướng tiếp cận chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện đại. Một là tiếp cận “quyền lực mềm”, khoa học là nguồn lực tạo uy tín và ảnh hưởng quốc tế. Hai là tiếp cận chính sách đối ngoại kiến tạo, ngoại giao khoa học là phương thức để thu hút nguồn lực tri thức và công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn và tự chủ chiến lược. Cách tiếp cận này xác lập ngoại giao khoa học là chiến lược của chính sách đối ngoại trong kỷ nguyên tri thức.
Ngoại giao khoa học phát huy giá trị khi được cụ thể hóa thông qua các mô hình thể chế, công cụ chính sách và lựa chọn chiến lược khác nhau của từng quốc gia. Thực tiễn triển khai ngoại giao khoa học ở một số nước điển hình trong những năm gần đây sẽ cung cấp những kinh nghiệm quý giá, làm rõ cách thức khoa học được tích hợp vào chính sách đối ngoại và cách các quốc gia sử dụng ngoại giao khoa học để gia tăng năng lực cạnh tranh và vị thế quốc tế.
Kinh nghiệm quốc tế về ngoại giao khoa học
Trong thực tiễn quốc tế, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Nhật Bản là ba quốc gia tiêu biểu trong việc triển khai ngoại giao khoa học ở cấp chiến lược. Mỗi đất nước xây dựng mô hình khác nhau, phản ánh những lựa chọn thể chế, công cụ chính sách và cách tiếp cận riêng đối với mối quan hệ giữa khoa học và đối ngoại.
Hoa Kỳ: Ngoại giao khoa học gắn với năng lực hoạch định chính sách và quyền lực chuẩn mực
Điểm nổi bật trong chiến lược ngoại giao khoa học của Hoa Kỳ là mức độ thể chế hóa vai trò của tri thức khoa học trong quá trình ra quyết định đối ngoại. Bên cạnh việc xác định khoa học là một lĩnh vực hợp tác quốc tế, Hoa Kỳ xây dựng các cơ chế đưa nhà khoa học trực tiếp tham gia vào bộ máy chính sách đối ngoại(2). Chương trình Jefferson Science Fellowship do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phối hợp với cộng đồng học thuật triển khai là một ví dụ điển hình, cho phép các nhà khoa học làm việc với vai trò cố vấn khoa học - công nghệ cho các đơn vị hoạch định chính sách trong thời gian dài hạn(3). Cách tiếp cận này nhằm thu hẹp “khoảng cách tri thức” giữa khoa học và chính sách, qua đó nâng cao chất lượng quyết sách đối ngoại trong các lĩnh vực phức tạp như y tế toàn cầu, biến đổi khí hậu, công nghệ mới và an ninh sinh học.
Về mặt chiến lược, ngoại giao khoa học của Hoa Kỳ thể hiện rõ mô hình “Science in diplomacy” và “Science for diplomacy”: khoa học vừa hỗ trợ hoạch định chính sách, vừa là công cụ mở rộng ảnh hưởng và định hình chương trình nghị sự quốc tế(4). Thông qua các thiết chế như AAAS, Center for Science Diplomacy và sự tham gia của National Academies, Hoa Kỳ duy trì được lợi thế trong việc định nghĩa vấn đề, xây dựng chuẩn mực và dẫn dắt các mạng lưới tri thức toàn cầu(5). Thành công của Hoa Kỳ nằm ở việc ngoại giao khoa học không vận hành như một lĩnh vực biệt lập, mà là một phần hữu cơ của quyền lực mềm và quyền lực chuẩn mực.
Vương quốc Anh: Ngoại giao khoa học là công cụ chính sách đo lường và quản trị
Với Vương quốc Anh, ngoại giao khoa học là phương thức triển khai chính sách quốc gia về đối ngoại, tiêu biểu là Quỹ Đối tác Khoa học Quốc tế (International Science Partnerships Fund - ISPF)(6). Mục tiêu của quỹ là tài trợ cho hợp tác nghiên cứu, tăng cường quan hệ quốc tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và giải quyết các thách thức toàn cầu.
Điểm khác biệt của mô hình này là áp dụng khung đánh giá và giám sát tác động cho ngoại giao khoa học, coi đây là lĩnh vực chính sách cần được quản trị bằng minh chứng (evidence-based policy)(7). Các tiêu chí đánh giá gồm kết quả khoa học, tác động đối với quan hệ đối ngoại, năng lực đổi mới và vị thế khoa học quốc gia. Điều này giúp tránh tình trạng hợp tác khoa học phân tán, thiếu định hướng chiến lược, đồng thời bảo đảm sự liên kết giữa khoa học, phát triển và lợi ích đối ngoại.
Mô hình của Vương quốc Anh thể hiện rõ sự kết hợp giữa “Diplomacy for science” và “Science for diplomacy”, trong đó khoa học là phương thức đối ngoại có mục tiêu, có đánh giá và có khả năng điều chỉnh chính sách theo thời gian(8).
Nhật Bản: Ngoại giao khoa học gắn với hội nhập công nghệ và hình ảnh quốc gia
Nhật Bản triển khai ngoại giao khoa học gắn chặt với mục tiêu nâng cao năng lực đổi mới và hình ảnh quốc gia. Bộ Ngoại giao Nhật Bản xác định khoa học - công nghệ là nguồn lực để gia tăng “sức mạnh ngoại giao”, đồng thời là phương tiện việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, thiên tai và phát triển bền vững(9).
Điểm mạnh của Nhật Bản nằm ở tính nhất quán chiến lược và khả năng điều phối hệ sinh thái nhà nước - viện nghiên cứu - doanh nghiệp. Ngoại giao khoa học không chỉ tập trung vào hợp tác nghiên cứu, mà còn hướng tới việc “quốc tế hóa” năng lực công nghệ, tham gia định hình tiêu chuẩn và chuẩn mực kỹ thuật khu vực và toàn cầu (10). Nhờ đó, Nhật Bản duy trì vị thế là đối tác công nghệ tin cậy, đồng thời nâng cao ảnh hưởng quốc tế thông qua khoa học và đổi mới sáng tạo.
Từ kinh nghiệm triển khai ngoại giao khoa học của một số quốc gia điển hình, có thể rút ra một số vấn đề với việc lựa chọn và tổ chức ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại hiện nay.
Thứ nhất, về thể chế hóa. Ngoại giao khoa học chỉ phát huy hiệu quả khi được thể chế hóa trong cấu trúc chính sách đối ngoại, với bộ máy chuyên trách rõ ràng và cơ chế điều phối liên ngành đủ thẩm quyền. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc gắn khoa học trực tiếp với bộ máy đối ngoại giúp thu hẹp khoảng cách giữa tri thức và chính sách, đồng thời bảo đảm khoa học không bị “ngoại vi hóa” trong quá trình hoạch định chiến lược.
Thứ hai, về công cụ chính sách. Thành công của ngoại giao khoa học không đến từ các sáng kiến đơn lẻ, mà từ việc thiết kế các công cụ chính sách cụ thể như chương trình, quỹ hợp tác, cơ chế chuyên gia và khung đánh giá tác động. Những công cụ này chuyển hóa hợp tác khoa học từ các dự án rời rạc thành một quá trình có mục tiêu, có đo lường và có khả năng điều chỉnh theo yêu cầu chiến lược.
Thứ ba, về tự chủ tri thức. Điểm phân biệt căn bản giữa ngoại giao khoa học mang tính chiến lược và hợp tác khoa học thuần túy nằm ở mục tiêu tự chủ tri thức. Khi hợp tác khoa học gắn với nâng cao năng lực nội sinh, làm chủ công nghệ và tham gia định hình chuẩn mực, ngoại giao khoa học mới thực sự góp phần củng cố vị thế quốc gia và giảm thiểu rủi ro lệ thuộc trong hội nhập.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt khoa học - công nghệ làm trọng tâm phát triển và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, ngoại giao khoa học cần được xác lập là một chiến lược của chính sách đối ngoại, nhằm kết nối hiệu quả đổi mới sáng tạo trong nước với hội nhập tri thức toàn cầu, đồng thời củng cố năng lực tự chủ và nâng cao vị thế quốc gia.
Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại Việt Nam
Thứ nhất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng tái cấu trúc đối ngoại.
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” xác lập khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá chiến lược hàng đầu không chỉ mang ý nghĩa định hướng cho mô hình phát triển trong nước, mà còn khẳng định phương hướng phát triển trong tư duy đối ngoại của Việt Nam. Khi tri thức, công nghệ và nhân lực chất lượng cao là nền tảng của sức mạnh quốc gia, khoa học trở thành một nguồn lực chiến lược cần được huy động, kết nối và gia tăng thông qua không gian đối ngoại.
Như vậy, Nghị quyết số 57-NQ/TW đánh dấu sự dịch chuyển từ tư duy “ứng dụng và tiếp nhận” sang tư duy “làm chủ và sáng tạo”, đặt ra yêu cầu tổ chức các kênh đối ngoại phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nâng cao năng lực tri thức quốc gia. Bên cạnh mở rộng quan hệ, thu hút nguồn lực truyền thống,ngoại giao trở thành công cụ kiến tạo và điều phối khoa học - công nghệ toàn cầu theo những ưu tiên chiến lược đã được xác lập. Đây là cơ sở chính trị - tư tưởng trực tiếp để hình thành và phát triển ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại Việt Nam thời kỳ mới.
Thứ hai, hội nhập quốc tế là quá trình quản trị tri thức và tự chủ chiến lược.
Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng, khi hội nhập được đặt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế dựa trên tri thức, công nghệ và khả năng định hình chuẩn mực. Khác với cách tiếp cận nhấn mạnh hội nhập là quá trình mở rộng quan hệ và tiếp nhận nguồn lực bên ngoài, Nghị quyết số 59-NQ/TW tiếp cận hội nhập là một công cụ chiến lược nhằm tạo lập năng lực phát triển, củng cố tự chủ và nâng cao vị thế quốc gia trong trật tự quốc tế đang chuyển dịch.
Mấu chốt quan trọng của Nghị quyết số 59-NQ/TW nằm ở sự chuyển dịch từ tư duy “hội nhập theo chiều rộng” sang tư duy “tổ chức hội nhập theo chiều sâu”, trong đó chất lượng hội nhập và khả năng chuyển hóa hội nhập thành năng lực nội sinh trở thành tiêu chí trung tâm. Hội nhập trở thành không gian chính sách phức hợp, đan xen giữa hợp tác và cạnh tranh, đòi hỏi năng lực điều phối chiến lược ở tầm quốc gia.
Nghị quyết số 59-NQ/TW đã tạo cơ sở chính trị để hội nhập khoa học là tiến trình quản trị, huyđộng nguồn lực tri thức, công nghệ cũng như xác lập chuẩn mực quốc tế. Ngoại giao khoa học trở thành phương thức hội nhập phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 59-NQ/TW, tạo cơ chế ưu tiên, lựa chọn đối tác và định vị Việt Nam trong mạng lưới khoa học - công nghệ khu vực và toàn cầu.
Thứ ba, đối ngoại đóng vai trò kiến tạo không gian phát triển và nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên(11), đặt đối ngoại vào vị trí trụ cột chiến lược của phát triển đất nước trong bối cảnh trật tự quốc tế chịu tác động ngày càng mạnh của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điểm mới nằm ở cách tiếp cận đối ngoại là một thành tố cấu trúc của năng lực phát triển quốc gia, gắn chặt với yêu cầu nâng cao tự chủ, sức chống chịu và khả năng thích ứng trước các biến động toàn cầu.
Sự tích hợp giữa các mục tiêu chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ và an ninh phi truyền thống trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho thấy đối ngoại không chỉ là lĩnh vực hỗ trợ phát triển, mà trở thành không gian chủ động để kiến tạo nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tri thức. Việc nhấn mạnh các thách thức an ninh phi truyền thống như an ninh y tế, an ninh môi trường và an ninh năng lượng càng làm rõ vai trò trung tâm của khoa học - công nghệ trong quản trị rủi ro và phát triển bền vững.
Như vậy, ngoại giao khoa học là công cụ thực thi trực tiếp tư duy đối ngoại kiến tạo mà Nghịquyết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập. Đối với Việt Nam, việc đặt ngoại giao khoa học trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa là yêu cầu tất yếu trong kỷ nguyên mới. Thông qua ngoại giao khoa học, Việt Nam vừa mở rộng hợp tác nghiên cứu, tiếp cận công nghệ, vừatham gia vào quá trình định hình các chuẩn mực, tiêu chuẩn và mạng lưới tri thức quốc tế, phù hợp với lợi ích và năng lực quốc gia. Đây là biểu hiện cụ thể của việc chuyển hóa khoa học và tri thức thành nguồn lực đối ngoại, góp phần nâng cao vị thế quốc gia một cách bền vững trong kỷ nguyên tri thức.Trong bối cảnh trật tự quốc tế đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng cạnh tranh dựa trên tri thức, khoa học - công nghệ không còn là lĩnh vực hỗ trợ, mà đã trở thành một trong những yếu tố then chốt của chính sách đối ngoại. Việc lựa chọn và tổ chức ngoại giao khoa học vì vậy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật hay hợp tác chuyên ngành, mà phản ánh tầm nhìn chiến lược của quốc gia trong việc kết nối phát triển, hội nhập và tự chủ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ngoại giao khoa học chỉ phát huy hiệu quả khi được thể chế hóa trong chính sách đối ngoại, được triển khai bằng các công cụ cụ thể và gắn chặt với mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh, tự chủ tri thức. Trong điều kiện khoa học ngày càng bị chiến lược hóa và an ninh hóa, lựa chọn ngoại giao khoa học càng đòi hỏi tư duy chủ động, linh hoạt và có chiều sâu chiến lược.
Vì vậy, ngoại giao khoa học cần được nhìn nhận là một trong những lựa chọn chiến lược của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới, nhằm bổ sung và nâng cao năng lực đối ngoại, góp phần khẳng định vị thế quốc gia, bảo đảm lợi ích lâu dài và tham gia có trách nhiệm vào quản trị các vấn đề toàn cầu./.
--------------------------
(1), (4), (8) Royal Society & American Association for the Advancement of Science (AAAS): New Frontiers in Science Diplomacy (Tạm dịch: Những lĩnh vực mới trong ngoại giao khoa học), The Royal Society, London, 2010
(2) Vaughan C. Turekian & Paul M. Dabbar: Science diplomacy: The role of science in foreign policy (Tạm dịch: Ngoại giao khoa học: Vai trò của khoa học trong chính sách đối ngoại), Science & Diplomacy, Tập 1, số 1, 2012
(3) U.S. Department of State: Jefferson Science Fellowship Program (Tạm dịch: Chương trình Học bổng Khoa học Jefferson), Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Washington, D.C., https://www.state.gov/jefferson-science-fellowship/
(5) National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine: Science Diplomacy: The Role of the National Academies (Tạm dịch: Ngoại giao Khoa học: Vai trò của các Viện Hàn lâm Quốc gia), National Academies Press, Washington, D.C., 2017
(6) Department for Science, Innovation and Technology (DSIT): International Science Partnerships Fund: Policy Framework (Tạm dịch: Quỹ Đối tác Khoa học Quốc tế: Khung Chính sách), London, 2023
(7) UK Government Office for Science: Realising the Potential of Science and Technology for UK Diplomacy (Tạm dịch: Hiện thực hóa tiềm năng của khoa học và công nghệ cho ngoại giao Vương quốc Anh), London, 2022
(9) Ministry of Foreign Affairs of Japan (MOFA): Diplomatic Bluebook: Japan’s Foreign Policy and International Situation (Tạm dịch: Sách Xanh ngoại giao: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản và tình hình quốc tế), Tokyo, 2023
(10) Yamamoto, Shigeto: Japan’s Science and Technology Diplomacy in Asia (Tạm dịch: Ngoại giao khoa học và công nghệ của Nhật Bản tại Châu Á), Asian Survey, tập 59, số 5, 2019, tr. 870–892
(11) Xem: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1213702/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.aspx
Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng  (04/03/2026)
Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng  (04/03/2026)
Nâng cao năng lực quản trị khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo ở Khánh Hòa trong kỷ nguyên mới  (04/03/2026)
- Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng chính sách của Việt Nam
- Phát huy vai trò của báo chí trong truyền thông về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, góp phần nâng cao tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý
- Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người
- Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi học tập, làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng
- Chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai: Tiếp cận từ góc độ lịch sử và văn hóa
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm