TCCSĐT - Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới công tác Việt kiều và coi đây là một bộ phận quan trọng trong chính sách đại đoàn kết dân tộc. Việc không ngừng củng cố, nâng cấp cơ quan trực tiếp quản lý người Việt Nam ở nước ngoài, xây dựng và hoàn thiện các chính sách, tổ chức các hoạt động thu hút kiều bào tham gia... thể hiện sự quan tâm to lớn, chính sách nhất quán, đúng đắn, phù hợp của Đảng, Nhà nước ta đối với cộng đồng gần 4 triệu đồng bào Việt Nam đang sinh sống tại hơn 100 nước và lãnh thổ trên thế giới.

1. Kiện toàn cơ quan quản lý người Việt Nam ở nước ngoài

Cách đây hơn 50 năm, ngày 23-11-1959, Nhà nước ta đã ra Quyết định thành lập Ban Việt kiều Trung ương, tiền thân của Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài ngày nay. Năm 1973, Ban Việt kiều Trung ương được củng cố trở thành đầu mối chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng cốt cán và phong trào yêu nước. Sáu năm sau, năm 1979, Ban được kiện toàn thành cơ quan chuyên trách và tổng hợp của Hội đồng Chính phủ, thống nhất chỉ đạo và quản lý các mặt công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Trước những biến chuyển quan trọng của đất nước trong công cuộc đổi mới, năm 1994, Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài được thành lập, nhằm phản ánh đúng đối tượng, nội dung và thực chất của công tác này. Sau đó một năm (năm 1995) Chính phủ quyết định đặt Ủy ban thuộc Bộ Ngoại giao để tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho công tác về người Việt Nam ở nước ngoài và phối hợp chặt chẽ công tác này với công tác đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước. Năm 2008, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, cũng như xuất phát từ thực tế đòi hỏi của tình hình, Đảng, Nhà nước ta đã nâng cấp Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thành Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Việc không ngừng củng cố, nâng cấp cơ quan trực tiếp quản lý người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của công tác này, mà còn thể hiện sự quan tâm to lớn, chính sách nhất quán, đúng đắn, phù hợp của Đảng, Nhà nước ta đối với cộng đồng gần 4 triệu đồng bào Việt Nam đang sinh sống tại hơn 100 nước và lãnh thổ trên thế giới.

2. Hoàn thiện các văn bản pháp luật, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Cùng với việc thành lập tổ chức Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Đảng, Nhà nước ta còn ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng và có những hoạt động thiết thực, cụ thể đáp ứng tình cảm, nguyện vọng của bà con Việt Kiều, cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của họ.

Tháng 2-1993, Hội nghị Xuân Kỷ Dậu được tổ chức với sự tham dự của đông đảo kiều bào sinh sống ở nhiều nước trên thế giới nhằm tạo điều kiện để những người Việt Nam sống xa Tổ quốc phát biểu, đóng góp ý kiến, bày tỏ tâm tư và đề xuất nguyện vọng. Những ý kiến đóng góp, những mong muốn đó là cơ sở thực tế để Nhà nước ban hành nhiều chính sách mới theo hướng cởi mở, tạo thuận lợi cho kiều bào về thăm thân, du lịch, đi lại, lưu trú, khuyến khích kiều bào đầu tư về nước...

Cũng trong năm 1993, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08/NQ-TƯ ngày 29-11-1993 về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Tiếp đó, tháng 5-1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị 55/CT-TƯ chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị.

Từ năm 1996 đến năm 2003, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao đã đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng chính sách, góp phần hình thành 8 văn bản pháp lý, tạo thuận lợi cho kiều bào trên các vấn đề: hồi hương, xuất nhập cảnh, lưu trú, áp dụng chế độ mức giá dịch vụ như người trong nước, mua nhà, đẩy mạnh công tác khen thưởng...

Để giúp đồng bào hiểu rõ thêm tình hình đất nước, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đầu năm 1997, tạp chí Quê hương được phát hành trên mạng internet, phục vụ nhu cầu thông tin và đáp ứng tình cảm hướng về Tổ quốc của kiều bào ta.

Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị cũng như Chỉ thị 55 của Ban Bí thư, ngày 26-3-2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 36/NQ-TƯ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là nghị quyết toàn diện, công khai đầu tiên thể hiện đầy đủ, sâu sắc, tư duy đổi mới của Đảng ta về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và được phổ biến rộng rãi ở trong nước cũng như cộng đồng người Việt Nam trên thế giới.

Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị khẳng định rõ: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước”. Nghị quyết nhấn mạnh: công tác về người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân.

Cụ thể hóa Nghị quyết và Chỉ thị của Đảng, ngày 23-6-2004, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị, đồng thời chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng chương trình hành động cụ thể của mình trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Với đường lối đúng đắn, nhất quán, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X (tháng 4-2006) tiếp tục chỉ rõ: “Đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, chấp hành tốt pháp luật các nước sở tại, bảo vệ quyền lợi chính đáng của đồng bào... Có chính sách khuyến khích người Việt Nam, trí thức Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, góp phần xây dựng đất nước; khen thưởng những người có nhiều thành tích đóng góp cho Tổ quốc" (1).

Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đáp ứng tâm tư, nguyện vọng và những quyền lợi căn bản, thiết thực của kiều bào, nhất là quyền đi lại (miễn thị thực), quyền quốc tịch (được giữ quốc tịch Việt Nam trong khi mang quốc tịch nước khác), quyền sở hữu (mua và sở hữu nhà ở trong nước)...

3. Tổ chức nhiều hoạt động gắn cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương

Các cơ quan chức năng trong nước đã triển khai một cách tích cực, toàn diện nhằm tập hợp, đoàn kết bà con Việt kiều trên thế giới. Công tác vận động kiều bào đã có nhiều đổi mới về nội dung; phong phú, đa dạng về hình thức, trong đó có những biện pháp vận động mang tính đột phá, nhằm thể hiện ngày càng tốt hơn tinh thần hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc, góp phần làm thất bại những âm mưu chống phá, chia rẽ, đi ngược lại lợi ích dân tộc.

Quỹ Hỗ trợ được thành lập và vận động cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã ủng hộ với số vốn ban đầu 7 tỉ đồng; Hội liên lạc người Việt Nam ở nước ngoài được thành lập nhằm tạo thêm cầu nối giữa đồng bào trong nước với kiều bào ta ở các nước trên thế giới.

Nhiều hoạt động được tổ chức nhằm tạo điều kiện để kiều bào tham gia các sự kiện chính trị, xã hội lớn của đất nước, gắn bó với cội nguồn, khơi dậy và giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Thế hệ trẻ kiều bào ta cũng được Đảng, Nhà nước quan tâm với những hoạt động thiết thực, bổ ích như về thăm quê hương, đất nước, giao lưu với tuổi trẻ trong nước, thăm các di tích lịch sử, cách mạng, hoạt động văn hóa, thể thao...

Trong năm 2009 vừa qua, hai hội nghị quan trọng ở trong nước đã được tổ chức thu hút sự quan tâm và tập hợp được đông đảo bà con Việt kiều trên thế giới về dự. Đó là Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất từ ngày 21 đến 23-11 có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, với sự tham gia của 1.500 đại biểu, trong đó có hơn 900 đại biểu kiều bào, với chủ đề bao trùm: Vì một cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Trước đó, cũng trong năm 2009, Đại hội thành lập Hiệp hội doanh nhân Việt Nam đã được tổ chức trong 2 ngày để liên kết rộng rãi đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp người Việt ở nước ngoài nhằm tận dụng cơ hội, kinh doanh giúp đỡ nhau phát triển và góp phần xây dựng đất nước.

Theo số liệu thống kê cho thấy lượng kiều hối gửi về nước năm 1991 là 35 triệu USD, đến năm 2003 đạt 2,7 tỉ USD. Trong 3 năm gần đây con số này khoảng từ 6,7 tỉ đến 7 tỉ USD. Riêng năm 2008 đạt 7,4 tỉ USD. Năm 2009, tuy tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu, nhưng lượng kiều hối gửi về nước vẫn đạt khoảng 6,8 tỉ USD. Hiện nay, có khoảng 3.000 doanh nghiệp đứng tên hoặc có vốn người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư trong nước, với tổng số vốn gần 2 tỉ USD.

Phát biểu tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội tháng 11-2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói: Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đường lối, chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là một nhiệm vụ có tính chất đặc thù trong công tác dân vận của Đảng và Nhà nước, thể hiện tình cảm và trách nhiệm của toàn thể đồng bào trong nước đối với gần 4 triệu bà con ta ở nước ngoài nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp chung xây dựng và phát triển đất nước (2).

Những chủ trương, đường lối và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với bà con kiều bào ta được thể hiện ở trên đây chính là nhằm thực hiện nội dung mà Nghị quyết Đại hội X của Đảng nêu lên, đó là: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lấy mục tiêu giữ vững độc lập thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội” (3)./.
 

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam;  "Văn kiện Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ X", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - năm 2006, tr 123.

(2) Theo Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 2/2010, tr 18.

(3)  Đảng Cộng sản Việt Nam "Văn kiện Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ X", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - năm 2006, tr 116.