TCCS - Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một trong những "kiến trúc sư", đặc biệt còn là người trực tiếp lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới ở giai đoạn đầu đầy khó khăn, gian khổ, phức tạp. Những quyết sách sáng tạo, bước đi thận trọng mà táo bạo của Đảng trong những năm 1986 - 1991 mà đồng chí là người lãnh đạo cao nhất, vừa trực tiếp tạo ra bước chuyển căn bản, to lớn, tích cực trong những năm đầu đổi mới, vừa làm tiền đề quan trọng lâu dài để đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Công cuộc đổi mới để phát triển đất nước là mới mẻ, hết sức nặng nề với toàn Đảng, toàn dân ta. Nhiệm vụ đó được tiến hành trong bối cảnh lịch sử vô cùng phức tạp: Khủng hoảng kinh tế trầm trọng và kéo dài, lạm phát ba con số, dự trữ quốc gia còn vài chục triệu USD; hằng năm có từ 5 - 7 triệu người thiếu đói, lòng dân không yên... Những khó khăn ấy càng tăng lên gấp bội bởi sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch và tình trạng khủng hoảng của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Đường lối đổi mới chung nhất được Đại hội VI vạch ra, nhưng mô hình kinh tế - xã hội cụ thể lại hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử. Bắt đầu từ đâu, cụ thể hóa đường lối ấy như thế nào trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng những cơ chế và cách làm đúng...? Đó là những câu hỏi không dễ có lời giải đáp. Tình thế hiểm nghèo của đất nước lúc này không cho phép Đảng đưa ra các quyết sách không chính xác, càng không thể sai lầm, bởi hệ lụy trực tiếp của nó sẽ là sự tồn vong của chế độ, quốc gia. Trong khi kẻ thù luôn rình rập để tấn công vào các sơ hở của ta. Làm thế nào để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, xây dựng được nền kinh tế phát triển và giữ vững ổn định chính trị? Những đòi hỏi khách quan đó tạo nên những áp lực cực lớn đối với tập thể lãnh đạo Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.

Xác định đúng những việc cần làm ngay: Đổi mới tư duy, chống tiêu cực

Xuất phát từ quan điểm: Tư tưởng phải đi trước một bước, trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã bình tĩnh bám sát thực tế, thận trọng nhưng táo bạo, thực hiện từng bước chủ trương đổi mới toàn diện của Đảng. Một trong những việc cần làm ngay, theo đồng chí là "bắt đầu từ lĩnh vực tư duy", bởi lẽ tư duy là gốc của nhận thức, có nhận thức đúng và sâu mới làm đúng và làm có hiệu quả. "Nói đến tư duy là nói đến trình độ nắm bắt các quy luật khách quan, nói đến việc suy nghĩ theo đòi hỏi của các quy luật đó và vận dụng chúng cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, nói đến quá trình sáng tạo đề ra các ý kiến mới, nói đến việc tìm tòi các biện pháp có hiệu quả cho hành động"(1).

Chúng ta phải "đổi mới tư duy" vì thực tế xây dựng đất nước đã chứng tỏ chúng ta nhận thức chưa đúng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Mô hình CNXH hiện thực từ những năm 70 của thế kỷ XX đã bộc lộ nhiều hạn chế. Nhưng do chủ quan, giáo điều, chúng ta vẫn tiếp tục duy trì nó, và kết quả là đất nước rơi vào khủng hoảng. Đổi mới tư duy chính là "nhìn thẳng vào sự thật" nhằm thấy rõ hơn, đầy đủ hơn những sai lầm, khuyết điểm của công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Đại hội VI của Đảng đã khẳng định: Phải "chống cái cũ, chống bảo thủ, trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng. Đây là cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người chúng ta". Cuộc đấu tranh ấy chỉ có thể giành thắng lợi khi mỗi người dân, mỗi cán bộ đảng viên có nhận thức đúng về sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa các sai lầm, khuyết điểm ấy.

Đổi mới trước hết phải bắt đầu từ đổi mới tư duy vì chỉ có trên cơ sở đổi mới tư duy, trên cơ sở nhận thức đúng các quy luật vận động của xã hội, chúng ta mới đề ra được đường lối đúng. Chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng và đầy đủ các thuận lợi và khó khăn trong quá trình đổi mới, chúng ta mới có các biện pháp hữu hiệu để phát huy thuận lợi và khắc phục khó khăn, mới tránh bị rơi vào hai thái cực: hoặc là quá xem nhẹ các khó khăn dẫn tới chủ quan duy ý chí, hoặc là quá đề cao các trở ngại dẫn tới thái độ bi quan...

Ở nhiều diễn đàn, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã khẳng định và lý giải một cách thuyết phục: đổi mới trước hết phải bắt đầu từ lĩnh vực tư duy. Đây là bước đi đúng đắn. Thực tế đã chứng minh điều đó. Nhờ có đổi mới tư duy mà toàn Đảng, toàn dân ta nhận rõ những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng đất nước, từ đó, bình tĩnh và kiên quyết sửa chữa. Nhờ đổi mới tư duy mà toàn Đảng, toàn dân ta nhận thức được đầy đủ hơn sự ưu việt của CNXH cũng như những khó khăn, thậm chí cả những bước dích dắc trên con đường đi lên CNXH, từ đó quyết tâm đổi mới. Nhờ đổi mới tư duy mà công cuộc đổi mới của ta không gây nên những xáo trộn lớn... Đổi mới tư duy là việc làm hết sức cần thiết nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các bước đổi mới tiếp theo.

Đổi mới tư duy là đúng, nhưng đổi mới như thế nào? Làm thế nào để đổi mới? Theo đồng chí, đổi mới tư duy là đổi từ kiểu tư duy chủ quan, giáo điều, thuần túy lý luận hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa sang tư duy khoa học, trong đó lý luận phải gắn với thực tiễn, được bổ sung bằng thực tiễn, thực tiễn được soi sáng bởi lý luận. Điều này đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân mà trước hết là cán bộ, đảng viên phải học tập lý luận, phải nắm chắc lý luận. Điều đó có nghĩa là mỗi cán bộ, đảngviên phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ có trên cơ sở nắm chắc lý luận Mác - Lê-nin chúng ta mới có thể bình tĩnh, không dao động trước khó khăn của công cuộc đổi mới và các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Nhưng chỉ có lý luận thôi chưa đủ, cần phải đưa lý luận vào thực tiễn, soi sáng cho thực tiễn, bổ sung bằng thực tiễn. Bắt tay vào đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nghiêm khắc yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, đồng thời phải sâu sát thực tế địa phương để có sự vận dụng nghị quyết vừa giữ vững nguyên tắc, vừa linh hoạt mềm dẻo, nhằm phát huy cao nhất những thuận lợi và hạn chế tối đa các khó khăn của địa phương, đồng thời từ các vấn đề đặt ra trong thực tiễn mà bổ sung và hoàn thiện nghị quyết. Đồng chí khẳng định: "Chỉ có lý luận vận động theo chu trình nghiêm ngặt đó, thì mới có tương lai đầy hứa hẹn và làm đúng chức năng xã hội của nó. Và cũng chỉ trên cơ sở tuân theo chu trình đó thì thực tiễn mới thoát khỏi chủ nghĩa kinh nghiệm tự phát, bớt mò mẫm đường vòng và phải trả giá đắt"(2).

Khi khẳng định sự cần thiết phải xóa bỏ kiểu tư duy bảo thủ, giáo điều, chủ quan, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã phê phán kiểu "tư duy quá tả" cho rằng cần phải xóa bỏ quá khứ, đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ trong quá trình phát triển đất nước. "Có người nhân danh tư duy mới để phủ nhận những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin... Một số người phê phán việc kế hoạch hóa kinh tế của ta hiện nay là tập trung quan liêu, cứng nhắc và áp đặt - điều đó đúng - nhưng khi họ đề xuất giải pháp để thay đổi bằng cách áp dụng đồng loạt, không phân biệt nguyên tắc: "Tất cả các cơ sở sản xuất tự quyết định việc chọn lựa mặt hàng sản xuất, miễn là được thị trường chấp nhận" và "người nào sản xuất, người đó quyết định giá" thì vấn đề đã khác rồi. ở đây, ranh giới có tính nguyên tắc giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đã bị xóa nhòa. Thậm chí, còn thụt lùi so với chủ nghĩa tư bản, vì trong một số trường hợp, nhà nước tư bản vẫn dùng sức mạnh hành chính và kinh tế để can thiệp vào chế độ tiền lương, thị trường và giá cả của sản xuất tư nhân"(3). Đồng chí khẳng định, đổi mới không phải là phủ nhận tất cả cái cũ... Phương pháp tư duy đúng không thừa nhận sự cường điệu hóa, nhấn mạnh mặt này, coi nhẹ mặt kia trong khi sự vật vốn bao hàm sự thống nhất hai mặt đối lập, như kế hoạch và thị trường, tập trung và dân chủ.

Cùng với việc đổi mới tư duy là việc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực. Đó là các biểu hiện quan liêu, hống hách, cửa quyền, tham nhũng, ăn hối lộ... ở một bộ phận cán bộ và thái độ thờ ơ, sự thiếu hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ở người dân. Không ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực ra khỏi đời sống xã hội thì cái mới khó có môi trường để phát triển. Với bút danh N.V.L, đồng chí đã viết một loạt bài đề cập tới nội dung chống tiêu cực, chống thoái hóa, biến chất ở cán bộ, đảng viên. Đồng chí khẳng định, cơ chế quan liêu bao cấp gây ra sự trì trệ. Những cán bộ thoái hóa, biến chất, những kẻ đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả... đã triệt để lợi dụng, đồng thời làm trầm trọng thêm sự trì trệ ấy. Việc thực hiện đổi mới phải gắn liền với đấu tranh chống tiêu cực, tháo gỡ những ách tắc, vướng mắc phải đi đôi với việc kiên quyết loại trừ những kẻ đã lợi dụng cơ chế quan liêu để kiếm lời, làm rối kỷ cương phép nước. Đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực là việc hết sức quan trọng nhằm "dọn đường cho việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và các nghị quyết khác của Đảng, đưa nước nhà ra khỏi cảnh khó khăn, đi đến ổn định tình hình mọi mặt, làm cho dân bớt khổ, ngày càng được hạnh phúc như Di chúc Bác Hồ đã dặn... làm cho xã hội ta đã tốt đẹp càng tốt đẹp hơn, dân ta mới tin Đảng, Đảng mới càng hiểu dân, tin dân"(4). Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh kêu gọi toàn Đảng, toàn dân hưởng ứng phong trào chống tiêu cực. Theo đồng chí, các tệ nạn tiêu cực chỉ có thể bị đẩy lùi khi mỗi người dân, mỗi cán bộ, đảng viên đều có ý thức phát hiện và đấu tranh với nó. Bởi "Một N.V.L hay vài N.V.L, không thể biết hết mọi việc, nói hết mọi việc và làm hết mọi việc. Chỉ có sự nhất trí hành động của toàn Đảng, toàn dân mới có thể tạo nên chuyển biến thật sự cho đất nước"(5). "Phải đưa ra khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất về chính trị và đạo đức, gây chia rẽ, bè phái, tham ô, hối lộ, ức hiếp quần chúng". Đó là "những mầm bệnh", những "ung nhọt" trong cơ thể Đảng, cần phải loại trừ. Công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH sẽ có thể bị ngăn trở, phá hoại nếu những "mầm bệnh", "ung nhọt" này chưa bị cắt bỏ.

Chống tham nhũng, tiêu cực không phải là công việc mới. Nhưng chống tiêu cực với thái độ kiên quyết và phương thức linh hoạt như Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thì không phải ai cũng có thể làm. Việc đồng chí phát động phong trào chống tiêu cực ngay trong thời gian đầu của công cuộc đổi mới có ý nghĩa to lớn trong việc ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực phát sinh trong quá trình đổi mới, tạo ra bầu không khí cởi mở, dân chủ trong cả nước, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, vào công cuộc đổi mới. Việc làm đó thể hiện tầm nhìn và tư duy chính trị vừa thực tế, vừa sâu sắc của người đứng đầu Đảng cầm quyền đổi mới. Với việc khởi xướng đổi mới tư duy gắn liền với phong trào chống tiêu cực trong cả nước, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã động viên toàn Đảng, toàn dân phá bỏ những chướng ngại, những vật cản trên con đường đổi mới. Nhờ những việc làm tích cực này mà công cuộc đổi mới ở Việt Nam tránh được những vấp váp, thậm chí cả những đổ vỡ mà nhiều quốc gia mắc phải.

Tháo gỡ rào cản, tạo tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển là phương thức hữu hiệu để đổi mới thắng lợi

Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã khẳng định rõ: Phát triển kinh tế là trọng tâm của đổi mới với 3 nhiệm vụ quan trọng:

1 - Bố trí lại cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, tập trung sức người và sức của vào việc thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: sản xuất lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất hàng xuất khẩu.

2 - Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm giải phóng sức sản xuất, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN.

3 - Tháo gỡ những ràng buộc bất hợp lý, làm cho năm thành phần kinh tế trong nước đều phát triển, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân và cá thể đầu tư phát triển sản xuất.

Những chủ trương phát triển kinh tế táo bạo đó được triển khai bằng các nghị quyết Trung ương của khóa VI: Vấn đề cấp bách về lưu thông phân phối (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, tháng 4-1987); Về chuyển hoạt động của các đơn vị quốc doanh sang kinh doanh XHCN, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, tháng 8-1987); Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 3năm (1988 - 1990) (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, tháng 12-1987); Kiểm điểm 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, tháng 3-1989); Về một số vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách và chuẩn bị kế hoạch năm 1991 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, tháng 8-1990)... Các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế như: Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (ngày 5-4-1988)...

Với phương châm "Trả về cho sản xuất sự vận hành đúng quy luật của nó"(6), Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước bám sát thực tế, từng bước điều chỉnh cơ cấu, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý, chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh, kiềm chế và đẩy lùi dần lạm phát... thông qua các nghị quyết Trung ương về phát triển kinh tế nêu trên. Đó là những quyết sách sáng tạo, đúng đắn trong những năm đầu tiến hành đổi mới.

Nhờ vậy, nền kinh tế Việt Nam sau nhiều năm khủng hoảng đã bước đầu có sự khởi sắc. Nhịp độ lạm phát đã giảm, đến năm 1990 chỉ còn 67,4% (năm 1986 là 774,7%). Năm 1987, sản xuất nông nghiệp đạt 17,5 triệu tấn lương thực, năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn, năm 1989 đạt 20,5 triệu tấn. Từ năm 1989, nước ta bắt đầu xuất khẩu gạo ngày một tăng. Ba chương trình kinh tế lớn đạt được những kết quả đáng khích lệ. Kim ngạch xuất khẩu năm 1986 là 439 triệu rúp và 384 triệu USD. Năm 1990 đã tăng lên 1.019 triệu rúp và 1.179 triệu USD. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm từ 1986 đến 1990 là 3,9%.

Những quyết sách sáng tạo, mềm dẻo mà cương quyết về phát triển kinh tế - xã hội trong những năm đầu của sự nghiệp đổi mới đầy gian khổ, khó khăn của Đảng ta mà đồng chí Nguyễn Văn Linh với tư cách vừa là một trong những nhà thiết kế, vừa là người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo thi công trong thời khai phá đã tạo cơ sở cho những khuôn khổ pháp lý mới cởi mở, biện chứng, linh hoạt, thông thoáng để lực lượng sản xuất phát triển. Những kết quả phát triển kinh tế 5 năm đầu đổi mới đã trở thành nền móng, tiền đề vững chắc cho những thành tựu to lớn mà công cuộc đổi mới đất nước giành được trong gần 25 năm qua và cả chặng đường tiếp theo.

Những nguyên tắc chỉ đạo cơ bản trong những năm đầu khai phá đổi mới

Để bảo đảm cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng, đất nước phát triển nhanh, bền vững, trong bối cảnh nhiều nước xã hội chủ nghĩa đứng trước nguy cơ lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện, các thế lực phản động ráo riết thực hiện "diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ các nước XHCN, với tư cách Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh cùng Ban Chấp hành Trung ương (tại Hội nghị Trung ương 6) đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo cơ bản là:

- Đi lên CNXH là con đường tất yếu của nước ta, là sự lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ, của Đảng ta. Xây dựng nước Việt Nam XHCN là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.

- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về CNXH, vận dụng sáng tạo và phát triển chứ không phải là xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

- Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chuyên chính vô sản, làm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động và có hiệuquả.

Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của nhân dân ta. Phê phán những khuynh hướng phủ nhận hoặc hạ thấp sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời lắng nghe, tiếp nhận những ý kiến trung thực phê bình những khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng.

- Xây dựng nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác phải lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội.

- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế XHCN; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Ngày nay, sau gần 25 năm đổi mới, thành tựu thu được trong thực tế đời sống xã hội nước ta là hết sức to lớn, không thể phủ nhận. Chúng ta thấu hiểu những khó khăn, phức tạp đến mức nào ở thời kỳ đầu khai phá đổi mới trong việc lựa chọn hướng đi, tìm kiếm phương cách hành động và cả những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới. Phải là người có bản lĩnh chính trị vững vàng, sự nhạy cảm chính trị, sự tâm huyết đối với sự nghiệp cách mạng, có kiến thức thực tế sâu rộng và trình độ uyên thâm về lý luận mới có thể đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo trên và kiên trì thực hiện nó ở thời điểm hết sức khó khăn ấy. Càng đi sâu vào sự nghiệp đổi mới càng thấy những nguyên tắc đó có giá trị bảo đảm để đổi mới đúng hướng và liên tiếp gặt hái những thành công.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh, người cộng sản kiên trung, đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc ta. Những phẩm chất cao đẹp, những quyết sách sáng tạo của đồng chí trên cương vị người đứng đầu Đảng ta trong những năm đầu đổi mới đã, đang và mãi mãi là nguồn cổ vũ to lớn, là phương châm chiến lược, là phương thức hành động để toàn Đảng, toàn dân ta đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới ngày càng đạt nhiều thắng lợi./.

______________________________________

(1) Nguyễn Văn Linh: Đổi mới để tiến lên, Nxb Sự thật, Hà Nội,1988, t 1, tr 31

(2) Nguyễn Văn Linh: đổi mới sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động, Nxb Sự thật, Hà Nội 1987, tr 33

(3) Nguyễn Văn Linh, Đổi mới để tiến lên, Sđd, t 1, tr 36

(4) Báo Nhân Dân, số ra ngày 10-7-1987

(5) Báo Nhân Dân, số ra ngày 25-6-1987

(6) Nguyễn Văn Linh: Thành phố Hồ Chí Minh mười năm, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr 105