TCCS - Xác định rõ các thuận lợi, thách thức để có chủ trương, giải pháp phù hợp kết hợp với quyết tâm, khát vọng phát triển kinh tế biển bền vững sẽ tạo tiền đề quan trọng đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành một trong các trung tâm kinh tế biển mạnh của cả nước, là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, góp phần kết nối kinh tế biển của đất nước với khu vực và thế giới.

1. Tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển toàn diện và bền vững.

Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên đặc biệt thuận lợi:

Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Quảng Ninh được xem là lợi thế nổi bật, mang tính chiến lược không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn ở tầm khu vực, tạo nền tảng vững chắc để phát triển toàn diện các ngành kinh tế biển. Tỉnh có hơn 250km đường bờ biển, trải dài từ Đông Triều đến Móng Cái, tiếp giáp trực tiếp với Vịnh Bắc Bộ. Đặc biệt, đường biên giới trên biển và đất liền với Trung Quốc giúp tỉnh Quảng Ninh trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế, kết nối thuận lợi với thị trường Đông Bắc Á, ASEAN và các tuyến hàng hải toàn cầu.

Tỉnh Quảng Ninh có tới hơn 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nhiều đảo vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ và giá trị sinh thái cao, như Cô Tô, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Ba Mùn, thích hợp để phát triển du lịch sinh thái biển đảo, nghỉ dưỡng cao cấp và kinh tế thủy sản bền vững. Đây là tài sản thiên nhiên quý giá, hiếm nơi nào ở Việt Nam có được.

Về tài nguyên sinh thái, tỉnh sở hữu các hệ sinh thái biển rất đa dạng, như rừng ngập mặn (ở Quảng Yên, Tiên Yên), Rạn san hô và thảm cỏ biển (ở Bái Tử Long, Cô Tô, Vân Đồn), các bãi triều, vịnh kín gió: thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, như mô hình nuôi ngọc trai, cá bớp, tu hài tại Vân Đồn, Cẩm Phả. Những điều kiện tự nhiên này còn mở ra tiềm năng lớn để tỉnh Quảng Ninh phát triển các ngành kinh tế biển mới, như: năng lượng tái tạo biển (điện gió ngoài khơi, điện mặt trời nổi), công nghiệp chế biến sâu thủy sản gắn với xuất khẩu, logistics và trung chuyển hàng hóa quốc tế qua cảng biển và cửa khẩu, công nghệ sinh học biển phục vụ y tế, mỹ phẩm, nông nghiệp sạch.

Hệ thống hạ tầng biển ngày càng đồng bộ, hiện đại:

Tỉnh Quảng Ninh là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về phát triển hạ tầng phục vụ kinh tế biển: hệ thống cảng Cái Lân, cảng Vạn Gia; sân bay quốc tế Vân Đồn; đường cao tốc ven biển kết nối Hạ Long - Móng Cái; các khu công nghiệp - khu kinh tế ven biển đang mở rộng như Vân Đồn, Quảng Yên... Đây là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư trong nước và quốc tế, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển.

Hệ thống hạ tầng biển ngày càng đồng bộ và hiện đại là một trong những trụ cột quan trọng giúp tỉnh Quảng Ninh vươn lên trở thành địa phương đi đầu cả nước trong phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững và hội nhập quốc tế. Không chỉ dừng lại ở việc đầu tư đơn lẻ từng công trình, tỉnh Quảng Ninh đã hình thành một mạng lưới hạ tầng tổng thể - liên thông, kết nối chặt chẽ giữa biển - đất liền - không gian kinh tế ven biển, tạo động lực mạnh mẽ cho thu hút đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các bến cảng du lịch tại Tuần Châu, Hòn Gai cũng được nâng cấp, trở thành đầu mối đón khách quốc tế bằng đường biển, đặc biệt là tàu du lịch cỡ lớn.

Sân bay quốc tế Vân Đồn là một bước đột phá về hạ tầng giao thông của tỉnh Quảng Ninh. Đây là sân bay tư nhân đầu tiên của Việt Nam, được quy hoạch theo tiêu chuẩn quốc tế, phục vụ cả hàng không dân dụng và logistics hàng không. Sân bay này không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển cho du khách đến các vùng biển đảo như Cô Tô, Vân Đồn, mà còn tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, chuyên gia nước ngoài đến khảo sát và triển khai dự án tại Đặc khu Vân Đồn và các vùng phụ cận.

Tuyến cao tốc Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, đặc biệt là đoạn ven biển đã đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh duy nhất kết nối cao tốc liên hoàn từ cửa khẩu quốc tế đến trung tâm du lịch và cảng biển. Tuyến đường này không chỉ thúc đẩy liên kết vùng (giữa Quảng Ninh - Hải Phòng - Lạng Sơn - Hà Nội), mà còn mở ra hành lang kinh tế ven biển năng động, thuận tiện cho di chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, sản phẩm thủy sản, cũng như phục vụ phát triển du lịch biển.

Tỉnh Quảng Ninh đang phát triển mạnh các khu kinh tế - khu công nghiệp ven biển, điển hình như: Đặc khu Vân Đồn: định hướng trở thành trung tâm dịch vụ du lịch biển đảo cao cấp, tài chính quốc tế, logistics và công nghệ biển; Khu kinh tế ven biển Quảng Yên: tập trung vào công nghiệp sạch, cảng biển, logistics và đô thị sinh thái ven biển; Các khu công nghiệp như Đông Mai, Nam Tiền Phong, Bắc Tiền Phong..., thu hút nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước đầu tư vào sản xuất công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao phục vụ kinh tế biển…

Chủ trương, chính sách phát triển biển rõ ràng và nhất quán và quyết tâm chính trị cao:

Tỉnh Quảng Ninh đã thể hiện tầm nhìn phát triển kinh tế biển bền vững từ rất sớm, lồng ghép sâu rộng các nội dung của Chiến lược phát triển kinh tế biển quốc gia vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiều chương trình cụ thể về phát triển du lịch sinh thái biển, bảo tồn Vịnh Hạ Long, kiểm soát ô nhiễm biển, bảo vệ hệ sinh thái đảo, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý biển đã được triển khai bài bản. Cụ thể, tỉnh đã ban hành các đề án, chương trình phát triển kinh tế biển với các mục tiêu rõ ràng, trong đó nhấn mạnh đến sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển đảo đặc sắc của tỉnh.

Tỉnh Quảng Ninh cũng đặc biệt chú trọng đến việc bảo tồn vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, qua đó thiết lập các quy định nghiêm ngặt về quản lý hoạt động du lịch, hạn chế xây dựng các công trình có tác động xấu đến cảnh quan và đa dạng sinh học. Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm biển, như giám sát nguồn nước thải, xử lý rác thải nhựa đại dương được triển khai bài bản với sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở ngành, chính quyền địa phương và cộng đồng.

Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý biển, ứng dụng công nghệ hiện đại, như GIS (Hệ thống thông tin địa lý), drone giám sát, nền tảng dữ liệu số để theo dõi tình trạng môi trường biển, quy hoạch sử dụng không gian biển, quản lý tài nguyên và đầu tư một cách minh bạch, hiệu quả hơn. Điều này giúp tăng cường năng lực quản lý, giảm thiểu sai sót, và nâng cao tính công khai, minh bạch trong các quyết định liên quan đến kinh tế biển.

Tỉnh Quảng Ninh là địa phương đi đầu trong thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW về tinh gọn bộ máy. Bộ máy quản lý biển và tài nguyên môi trường tại tỉnh được tổ chức theo hướng liên thông - một đầu mối, đa chức năng, tạo điều kiện thuận lợi để xử lý nhanh gọn các thủ tục đầu tư, quản lý tài nguyên, giám sát môi trường biển... Nhiều mô hình cải cách hành chính tại tỉnh Quảng Ninh đã trở thành điểm sáng để nhân rộng toàn quốc. Mô hình này không chỉ giúp rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục liên quan đến đầu tư, cấp phép khai thác tài nguyên mà còn tạo điều kiện thuận lợi trong việc giám sát, kiểm soát môi trường biển một cách kịp thời và chính xác. Nhờ vậy, tỉnh có thể phản ứng nhanh với các vấn đề phát sinh, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, hạn chế các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển.

2. Tuy có những thuận lợi lớn nhưng tỉnh Quảng Ninh cũng đứng trước những thách thức không nhỏ.

Thách thức từ phát triển kinh tế và đô thị hóa ven biển:

Tốc độ phát triển kinh tế nhanh, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp ven biển, du lịch, đô thị hóa khiến tài nguyên biển đảo bị khai thác quá mức, nhiều khu vực lấn biển, san lấp phá vỡ cân bằng sinh thái. Do đó, mâu thuẫn giữa phát triển và bảo tồn là một thách thức lớn, nhất là ở Hạ Long, Vân Đồn, Bái Tử Long.

Phát triển kinh tế và đô thị hóa ven biển tại tỉnh Quảng Ninh làm phát sinh mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển đảo. Tại vịnh Hạ Long - nơi được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới - sự phát triển ồ ạt của các dự án khách sạn, khu vui chơi giải trí, và cơ sở hạ tầng ven biển trong thời gian qua đã làm gia tăng áp lực lên môi trường. Một số khu vực từng là vùng sinh thái quan trọng, như đầm phá, bãi triều, vùng rừng ngập mặn ven bờ nay đã bị san lấp để phục vụ phát triển đô thị, khiến nhiều loài sinh vật mất đi không gian sinh tồn, đồng thời làm suy giảm chức năng tự điều tiết của hệ sinh thái biển. Tại Vân Đồn, việc quy hoạch phát triển thành đặc khu, trong đó có nhiều dự án du lịch biển quy mô lớn, cũng đặt ra thách thức về khả năng bảo tồn các vùng biển đảo còn tương đối nguyên sơ. Tương tự, ở khu vực vịnh Bái Tử Long - vốn nổi tiếng với hệ sinh thái biển đa dạng và cảnh quan nguyên vẹn - cũng đang chịu tác động từ hoạt động du lịch, vận tải và khai thác tài nguyên…

Ô nhiễm môi trường biển và rác thải nhựa gia tăng do hoạt động du lịch, giao thông thủy, nuôi trồng thủy sản, nhất là trong mùa du lịch cao điểm. Nhiều bè nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở các vùng như Vân Đồn, Cẩm Phả, vẫn còn sử dụng vật liệu nhựa, như thùng xốp, lưới ni-lông… Các vật liệu này không chỉ gây ô nhiễm mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của sinh vật biển, là nguyên nhân khiến cá, tôm ăn phải vi nhựa, gây rối loạn chuỗi sinh thái biển. Tình trạng nước thải chưa qua xử lý từ các khu đô thị ven biển, khu công nghiệp, nhà hàng ven vịnh tiếp tục xả ra biển. Đây là những nguy cơ hiện hữu đe dọa đến chất lượng môi trường biển và đa dạng sinh học.

Trong khi đó, việc đánh giá tác động môi trường ở một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu theo dõi, giám sát chặt chẽ sau đầu tư. Đồng thời, quy hoạch phát triển chưa thực sự tính đến sức chịu tải môi trường và không gian biển dài hạn, dẫn đến gia tăng xung đột giữa phát triển hạ tầng và bảo tồn thiên nhiên, giữa du lịch đại trà và du lịch sinh thái bền vững, giữa công nghiệp, đô thị hóa và bảo vệ sinh kế truyền thống của cộng đồng ngư dân...

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng:

Quảng Ninh đang chịu tác động mạnh từ nước biển dâng, xâm nhập mặn, bão lũ, sạt lở bờ biển, ảnh hưởng trực tiếp đến hạ tầng ven biển, nuôi trồng thủy sản, đời sống ngư dân và quy hoạch không gian biển đảo. Tình trạng sạt lở bờ biển và xói mòn đất đang xảy ra tại nhiều địa phương, đặc biệt là các khu vực có địa hình bãi triều, đê biển yếu hoặc rừng ngập mặn bị thu hẹp. Các cơn bão mạnh với tần suất và cường độ gia tăng cũng thường xuyên gây gián đoạn giao thông, hư hỏng cơ sở hạ tầng ven biển và khiến nhiều tàu cá phải nằm bờ trong thời gian dài, ảnh hưởng đến thu nhập và an sinh của ngư dân. Quy hoạch không gian biển, đảo trong bối cảnh biến đổi khí hậu chưa thực sự linh hoạt và thích ứng. Nhiều khu vực vẫn thiếu các tiêu chí đánh giá rủi ro khí hậu dài hạn..

Năng lực quản lý biển và nhân lực chất lượng cao còn hạn chế:

Dù đã có bước cải cách mạnh mẽ, song đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế biển, môi trường biển, quy hoạch không gian biển của tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu cả về số lượng và chuyên môn sâu. Nguồn nhân lực kỹ thuật biển, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, giám sát tài nguyên bằng công nghệ số còn thiếu hụt.

Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực cải cách bộ máy hành chính, triển khai mô hình “một cửa liên thông” và sắp xếp lại các cơ quan quản lý theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, nhưng thực tế, đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực kinh tế biển, môi trường biển và quy hoạch không gian biển chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, nguồn nhân lực kỹ thuật biển - công nghệ cao  có khả năng vận hành và phân tích dữ liệu biển hiện đại, sử dụng các công nghệ mới, như viễn thám, GIS, trí tuệ nhân tạo (AI) để giám sát tài nguyên, dự báo môi trường biển, theo dõi rủi ro khí hậu và hỗ trợ ra quyết định hiện còn thiếu. Trong khi đó, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ biển tại địa phương vẫn còn manh mún, thiếu tính liên tục và chuyên sâu, chưa có sự liên kết chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành biển.

Thiết lập cơ chế chính sách ưu đãi vượt trội cho phát triển kinh tế biển còn khó khăn:

Tuy có nhiều tiềm năng biển nhưng tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa thực sự bứt phá phát triển mạnh mẽ được do việc thiết lập cơ chế chính sách ưu đãi vượt trội vẫn còn chậm, thiếu đột phá. Trong một thời gian dài, đây là rào cản khiến việc thu hút đầu tư chiến lược, phát triển ngành nghề biển mới (như năng lượng tái tạo, công nghiệp biển công nghệ cao) khó có bứt phá. Ngoài ra, chưa có một hệ sinh thái hỗ trợ đầu tư hoàn chỉnh, bao gồm cơ sở pháp lý cho hoạt động khởi nghiệp biển, quỹ đầu tư mạo hiểm cho công nghệ biển, hay các trung tâm đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực biển, đảo.

3. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW, tỉnh Quảng Ninh xác định một số khâu đột phá:

Một là, tiếp tục hoàn thiện quy hoạch không gian biển và tích hợp chặt chẽ với quy hoạch tỉnh, đặc biệt là các đặc khu như Vân Đồn, Cô Tô, nhằm bảo đảm phân vùng khai thác, bảo tồn phù hợp.

Hai là, đẩy mạnh hợp tác liên vùng với các tỉnh ven biển phía Bắc như Hải Phòng, và cả hợp tác quốc tế, nhất là trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển và ứng phó biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh hơn nữa quản lý chất thải nhựa tại nguồn, đầu tư mạnh vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải ven biển, tăng cường tuần tra giám sát các tàu du lịch, nuôi trồng thủy sản và cơ sở ven bờ. Đồng thời, cần có các chiến dịch truyền thông mạnh mẽ, bền bỉ nhằm thay đổi hành vi của người dân và du khách, hướng tới một môi trường biển xanh - sạch - đẹp, bảo đảm phát triển du lịch và kinh tế biển theo hướng bền vững.

Ba là, thúc đẩy đầu tư vào công nghệ xanh, chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên biển là xu hướng tất yếu; tăng cường ứng dụng hệ thống giám sát tự động chất lượng nước biển tại các vùng nuôi trồng thủy sản; nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân sự làm việc trong lĩnh vực biển, đảo.

Bốn là, tăng hợp tác đào tạo giữa tỉnh Quảng Ninh với các trường đại học chuyên ngành biển và các tổ chức quốc tế để xây dựng đội ngũ chuyên gia chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển biển hiện đại và bền vững. Trong đó, đặc biệt chú trọng: (1) xây dựng cơ chế thu hút và giữ chân chuyên gia giỏi; (2) tổ chức đào tạo chuyên sâu theo các lĩnh vực mũi nhọn của kinh tế biển; (3) áp dụng công nghệ số trong công tác quản lý và giám sát biển. Chỉ khi có được đội ngũ cán bộ và chuyên gia đủ năng lực, tỉnh mới có thể quản lý hiệu quả tài nguyên biển đảo, quy hoạch phát triển hợp lý, và tận dụng tốt các cơ hội từ nền kinh tế biển xanh trong tương lai.

Năm là, tập trung phát triển các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo biển, công nghiệp sinh học biển, logistics biển thông minh hay quy hoạch không gian biển dựa trên hệ sinh thái.

Sáu là, tăng cường năng lực ứng phó và thích ứng thông qua các giải pháp đồng bộ: nâng cao chất lượng hệ thống đê kè, phục hồi và mở rộng rừng ngập mặn; đầu tư vào công nghệ cảnh báo sớm thiên tai; huy động nguồn lực tài chính từ ngân sách địa phương và hợp tác quốc tế cho các dự án ứng phó biến đổi khí hậu.

Bảy là, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, nhất là ngư dân và người dân ven biển là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro và thích ứng hiệu quả với những biến động ngày càng khó lường của môi trường biển đảo.

Tám là, nhanh chóng triển khai thực hiện các cơ chế đặc thù đối với hai đặc khu Vân Đồn và Cô Tô. Quá trình triển khai có khó khăn cần chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ kịp thời./.