TCCSĐT - Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam và đồng bằng sông Cửu Long rất to lớn. Theo những kịch bản mới nhất về nước biển dâng được công bố, nếu nước biển dâng từ 73cm - 100cm vào năm 2100 sẽ có 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long bị xâm thực mặn. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, đồng bằng sông Cửu Long lại xuất hiện tình trạng lũ không về đã gây thiệt hại không nhỏ đến sản xuất và mọi mặt của 18 triệu dân trong vùng.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long

Có nhiều tác động từ biến đổi khí hậu đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có 2 ảnh hưởng lớn nhất, đó là ảnh hưởng của xâm nhập mặn và tình trạng lũ không về đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây.

Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long

Từ cuối năm 2014, ElNino đã ảnh hưởng đến nước ta, làm cho nền nhiệt độ tăng cao, thiếu hụt lượng mưa, là nguyên nhân gây ra tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, đã gây thiệt hại nặng nề và tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ nhất, xâm nhập mặn gây ra những hậu quả hết sức nặng nề, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, cuối năm 2015 và những tháng đầu năm 2016, diễn biến xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá nặng nề nhất trong 100 năm qua.

Theo báo cáo của Tổng cục Thủy lợi, tình trạng xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long đến tháng 3-2016 như sau:

- Khu vực sông Vàm Cỏ, tỉnh Long An: Độ mặn lớn nhất đạt 8,12 g/l, cao hơn trung bình nhiều năm từ 5,9-6,2 g/l, phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l (mức bắt đầu có ảnh hưởng đến cây lúa) lớn nhất 90-93km, sâu hơn trung bình nhiều năm 10-15km.

- Khu vực các cửa sông của sông Tiền: Độ mặn lớn nhất đạt 14,6-31,2g/l, cao hơn trung bình nhiều năm từ 3,2-12,4g/l, phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l lớn nhất 45-65km, sâu hơn trung bình nhiều năm 20-25km.

- Khu vực các cửa sông của sông Hậu: Độ mặn lớn nhất đạt 16,5-20,5g/l, cao hơn trung bình nhiều năm từ 5,9-9,3g/l, phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l lớn nhất 55-60km, sâu hơn trung bình nhiều năm 15-20km.

- Khu vực ven biển Tây (trên sông Cái Lớn): Độ mặn lớn nhất đạt 11,0-23,8g/l, cao hơn trung bình nhiều năm từ 5,1-8,4g/l, phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l lớn nhất 60-65km, sâu hơn trung bình nhiều năm 5-10km.

- Khu vực ven biển Tây (trên sông Cái Lớn): Độ mặn lớn nhất đạt 11,0-23,8g/l, cao hơn trung bình nhiều năm từ 5,1-8,4g/l, phạm vi xâm nhập vào đất liền của độ mặn 4g/l lớn nhất 60-65km, sâu hơn trung bình nhiều năm 5-10km.

Thứ hai, xâm thực mặn đã ảnh hưởng đến hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Từ đầu năm 2015 đến đầu năm 2016 đã có 11/13 tỉnh/thành công bố tình trạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn là: Thành phố Cần Thơ, các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang và Vĩnh Long.

Thứ ba, sản xuất lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Tình hình xâm nhập mặn xuất hiện sớm đã ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất lúa của người dân, nhất là các vùng ven biển. Theo tính toán, khi độ mặn vượt quá 1 phần nghìn là đã không thể sử dụng được cho sinh hoạt, nếu vượt quá 4 phần nghìn thì cây lúa không sinh trưởng được và chết ngay. Do ảnh hưởng của xâm nhập mặn, từ cuối năm 2015 đến nay, nhiều diện tích lúa đã bị ảnh hưởng. Ở vụ Mùa và Thu Đông năm 2015, có khoảng 90.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng suất, trong đó thiệt hại nặng khoảng 50.000 ha; vụ Đông xuân 2015-2016, 8 tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long là Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu và Hậu Giang đã xuống giống hơn 971.200 ha (chiếm 62,2% diện tích lúa của toàn vùng), trong đó khoảng 339.234 ha có nguy cơ bị hạn hán, xâm nhập mặn (chiếm 35,51% diện tích xuống giống của vùng ven biển). Điển hình, tại tỉnh Kiên Giang, đã có hơn 34.000 ha lúa của tỉnh bị thiệt hại và con số đó sẽ còn tăng thêm nếu tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn tiếp tục kéo dài. Ước tính sơ bộ cho thấy, chỉ đến giữa tháng 2-2016, nông dân đồng bằng sông Cửu Long đã bị thiệt hại hơn 1.000 tỷ đồng. Sản lượng lúa đồng bằng sông Cửu Long ước giảm khoảng 700.000 tấn so với cùng kỳ. Nếu mặn xâm nhập kéo dài đến tháng 6-2016, sẽ có 500.000ha lúa vụ hè thu bị ảnh hưởng lớn, tương đương 1 triệu hộ với khoảng 5 triệu người gặp khó khăn, trong đó có 150.000 hộ thiếu nước sinh hoạt (1).

Thứ tư, cây ăn trái cũng bị ảnh hưởng trầm trọng. Tỉnh Vĩnh Long không giáp biển, chưa từng bị mặn, nhưng 2 năm 2015 - 2016 nhiều diện tích vườn cây ăn trái của các huyện Vũng Liêm, Trà Ôn đã bị thiệt hại, có nhà vườn thiệt hại 50-60%. Huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh; Huyện Long Phú, Kế Sách tỉnh Sóc Trăng cũng bị thiệt hại, có nhà vườn mức độ thiệt hại 30-40%.

Thứ năm, ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến nuôi thủy sản. Hầu như toàn bộ vùng quy hoạch nuôi tôm nước lợ đều bị tác động. Những vùng nuôi thủy sản ở hạ lưu sông Hậu thuộc tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu và Kiên Giang chịu ảnh hưởng nhiều nhất, có thể dẫn đến nguy cơ phá vỡ các quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản. Diện tích nuôi tôm nhiều tỉnh bị thiệt hại, trong đó, tỉnh Cà Mau có trên 70% diện tích nuôi thủy sản bị thiệt hại (2.700 ha), kế đến là Trà Vinh, Bến Tre có diện tích bị thiệt hại từ 30-70%.

Ảnh hưởng của lũ không về đến ngành kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long

Hằng năm, lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đã cung cấp một lượng phù sa bồi đắp làm trù phú đất đai, lúa trúng đầy đồng, cây cối tốt tươi, cuộc sống người dân sung túc. Mặt khác, cứ đến mùa lũ hay mùa nước nổi thì mỗi người dân đều là ngư dân đánh bắt cá tự nhiên để sinh sống. Tuy nhiên, liên tục mấy năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và đặc biệt là nhiều quốc gia ở thượng nguồn sông Mekong xây dựng các công trình thủy điện đã ngăn dòng, chuyển dòng chảy làm cho vùng đồng bằng sông Cửu Long không còn xuất hiện lũ. Cuộc sống của hàng ngàn nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào mùa "nước nổi" đang bị đe dọa bởi khả năng lũ sẽ không về trong năm nay. Vì vậy, nhiều hệ lụy đang diễn ra làm ảnh hưởng đến đời sống người dân, như: (i) Cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, cụ thể, tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Long An và Tiền Giang 3 năm lũ không về hoặc lượng nước lũ về không lớn, người dân không thể bắt cá vào mùa lũ. (ii) Đất đai bạc màu, khi lũ không về, đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm mất khoảng 40 - 70 triệu tấn phù sa, người dân trong vùng không có tập quán làm phân hữu cơ nên khi không có phù sa đất đai đễ bị bạc màu. (iii) Thiếu nước ngọt vào mùa khô, cần phải bơm nước tưới cho cây trồng làm chi phí sản xuất gia tăng...

Cần phải làm gì để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu?

Để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp theo hướng tích cực trước biến đổi khí hậu, cần có những giải pháp phù hợp sau:

Nhóm giải pháp đối phó tình trạng xâm nhập mặn:

Một là, cần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp theo hướng thích nghi trước biến đổi khí hậu: Điển hình là tỉnh Bạc Liêu đã chuyển nhiều vùng bị nhiễm mặn sang nuôi tôm sú và ngao; huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng chuyển sang trồng màu (hành tím là chủ yếu); tỉnh Trà Vinh, Bến Tre phát triển diện tích trồng dừa (có thể chịu đựng được độ mặn từ 4-10%o), trở thành 2 tỉnh có diện tích dừa lớn, trong đó Bến Tre có 68.000ha là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất cả nước.

Hai là, quy hoạch thủy lợi và quy hoạch nông nghiệp dưới góc nhìn của vùng chứ không chỉ nhìn một cách cục bộ của từng địa phương, tránh tình trạng giữa 2 địa phương có cùng kênh thủy lợi nhưng sản xuất nông nghiệp khác nhau, điển hình như huyện Thị xã Ngã Năm của Sóc Trăng trồng lúa nên cần nước ngọt - phải giữ nước ngọt không cho nước mặn vào; trái lại, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nuôi tôm thì cần nước mặn nên lại cho nước vào kênh và đồng.

Ba là, đào tạo, bồi dưỡng cho nông dân về kỹ thuật canh tác cây trồng và vật nuôi mới theo hướng biến đổi khí hậu. Đồng thời, đào tạo nghề cho những người chuyển đổi nghề ra khỏi ngành nông nghiệp, do nhiều vùng diện tích đất nông nghiệp giảm nên chuyển sang thành công nhân công nghiệp.

Bốn là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống công trình giữ nước ngọt trong đồng bằng. Người dân cần chủ động tiến hành tích trữ nước ngọt để sử dụng trong thời gian nước mặn xâm nhập; đối với sản xuất, người dân cần theo dõi thời điểm nước triều xuống, khi độ mặn giảm tới mức cho phép thì chủ động tích nước, lấy nước vào đồng. Hiện nay nhiều vùng trong Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và vùng Duyên Hải đang thiếu nước ngọt do nước sông thiếu, kênh bị nhiễm mặn hoặc nhiễm phèn. Trước tình hình này đòi hỏi phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống công trình giữ nước ngọt cho toàn đồng bằng bao gồm: thiết lập hệ thống cống đầu kênh, nạo vét các sông, kênh và rạch, xây dựng hồ chứa nước và tận dụng nguồn nước mưa. Xây dựng hệ thống kênh rạch dẫn nước ở đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 5000km kênh được đào khắp các tỉnh, 45 công trình thủy lợi với mục đích giảm thiểu lũ lụt và ngăn mặn); các công trình ngăn mặn lớn tại đồng bằng sông Cửu Long gồm hệ thống thủy nông Quản Lộ - Phụng Hiệp, hệ thống thủy lợi ngọt hóa và ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre, cống đập Ba Lai và hệ thống đê biển cho toàn bộ hệ thống ven biển đồng bằng sông Cửu Long.

Năm là, lựa chọn cây trồng, vật nuôi thích nghi với điều kiện khô hạn và môi trường nước mặn, nước lợ. Nghiên cứu tiến hành các biện pháp bền vững lâu dài cho phát triển kinh tế địa phương, cần phải từng bước lựa chọn và lai tạo các giống cây trồng, vật nuôi có thể tồn tại và phát triển trong môi trường khô hạn, nước mặn và nước lợ.

Sáu là, xây dựng hệ thống đê biển, đê sông, đây là dự án lâu dài, bền vững dọc theo biển Đông và biển Tây để ứng phó với mực nước biển dâng cao. Dự án bao gồm xây dựng đê bằng đất có bề mặt rộng vừa làm đường giao thông, hai bên bờ đê trồng cỏ Vetiver để chống xói mòn do gió và sóng biển, phía biển trồng rừng ngập mặn để ngăn sóng và tạo bồi lắng phù sa(2).

Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong Ủy hội Mekong và Trung Quốc để cùng chia sẻ lợi ích chung trong việc phát triển và thịnh vượng chung của cả khu vực theo Hiệp định Mekong 1995, ký kết song phương với từng quốc gia hay đa phương.

Nhóm giải pháp đối phó với tình trạng lũ không về:

Trong bối cảnh nước lũ không về mấy năm qua, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cần có giải pháp gì trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp để nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất nông nghiệp:

(1) Phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tiết kiệm nước tưới, chuyển đổi ngành nghề phù hợp để thích nghi với tình hình không có lũ; Điển hình là mô hình sản xuất, canh tác nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp, Long An là chuyển diện tích lúa sang trồng Sen, Vĩnh Long, Đồng Tháp trồng Ấu; Thành phố Cần Thơ chuyển đất lúa sang trồng rau màu; Long An, Tiền Giang chuyển một số diện tích lúa sang Thanh Long; Hậu Giang giảm diện tích lúa, tăng diện tích trồng bưởi, khóm và chủ động nuôi cá tự nhiên, như: Cá rô, cá sặc, cá thác lác, lươn; Thành phố Cần Thơ chuyển lao động nông nghiệp sang dịch vụ và công nhân khu công nghiệp, tỉnh An Giang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp để chuyển dịch lao động và tăng thu nhập.

(2) Phải phải tổ chức lại sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp, Thành phố Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang đang chuyển từ tư duy phát triển theo diện tích, năng suất, sản lượng sang tư duy về giá trị và hiệu quả kinh tế đạt được trên đơn vị diện tích đất, từ đó cơ cấu lại các sản phẩm nông nghiệp theo thị trường và lợi thế so sánh.

(3) Trong các năm thời tiết bình thường thì cần chủ động trữ nước trong mùa mưa để sử dụng trong mùa khô. Bên cạnh đó, Nhà nước cần cấm ngay việc khai thác và sử dụng nước ngầm tràn lan như hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu bơm nước trở lại lòng đất để phục hồi mực nước ngầm, chống sụp lún đất.

(4) Cần tạo vùng trữ lũ dọc các sông, kênh chính và các vùng bảo tồn. Ở các khu vực này không bố trí dân cư sinh sống mà tận dụng làm khu sinh thái, nuôi trồng thủy sản kết hợp tạo cảnh quan và phát triển du lịch.

(5) Cần có chính sách phù hợp để hỗ trợ cho nông dân khi chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và chuyển đổi nghề (hỗ trợ một phần chi phí đào tạo nghề, mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng cơ sở nhà xưởng khi đầu tư ban đầu)./.

------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

(1) http://www.vlr.vn/vn/news/img/trong-nuoc/2538/han-man-tai-dong-bang-song-cuu-long-anh-huong-den-chuoi-cung-ung-gao-thuy-san-.vlr

(2)http://www.vista.gov.vn/UserPages/News/detail/tabid/73/newsid/13396/seo/Xam-nhap-man-tai-Dong-bang-song-Cuu-Long--nhung-giai-phap-ung-pho-hieu-qua-trong-dieu-kien-bien-doi-khi-hau/language/vi-VN/Default.aspx