TCCSĐT - Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế lớn nhất và có uy tín nhất trên toàn thế giới. Thành lập ngày 24-10-1945, bao gồm 192 thành viên, Liên hợp quốc đã có những đóng góp quan trọng vì mục tiêu duy trì nền hòa bình và an ninh quốc tế và vì sự phát triển bền vững của từng quốc gia cũng như toàn nhân loại. Việt Nam chính thức gia nhập Liên hợp quốc vào ngày 20-9-1977. Hơn 30 năm qua, mặc dù là một nước đang phát triển, phải gánh chịu hậu quả của chiến tranh trong nhiều năm, còn rất nhiều khó khăn, song trên tinh thần đoàn kết, hợp tác, luôn nêu cao chính nghĩa, Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Liên hợp quốc.

Tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh

Vào giai đoạn chuẩn bị kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, do sự yếu kém của Hội Quốc Liên, nhằm ngăn chặn nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới mới, bảo đảm thế cân bằng trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh, ba cường quốc chính của phe Đồng minh là Anh, Mỹ và Liên Xô đã tiến hành hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng (tại Tê-hê-ran tháng 11-1943 và I-an-ta tháng 2-1945). Nội dung trao đổi chính giữa các nhà lãnh đạo ba nước bao gồm số phận châu Âu và tương lai của Liên hợp quốc. Việc Liên Xô tán thành thiết lập Tổ chức Liên hợp quốc tại Hội nghị I-an-ta đã mở ra khả năng hợp tác giữa các nước Đồng minh trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới sau chiến tranh. Hội đồng Ngoại trưởng 5 nước gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc được thành lập và trên cơ sở thỏa thuận tại Hội nghị I-an-ta; đồng thời, đại biểu của 50 quốc gia đã tham dự Hội nghị Xan Phran-xít-xcô (Mỹ) tháng 4-1945 và xây dựng dự thảo Hiến chương của Liên hợp quốc. Ngày 24-10-1945, Tổ chức Liên hợp quốc đã chính thức được thành lập với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập. Sự ra đời của tổ chức này là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử thế giới hiện đại: Liên hợp quốc đã thay thế Hội Quốc Liên, trở thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững.

Liên hợp quốc hoạt động theo các mục tiêu và nguyên tắc qui định trong Hiến chương. Hiến chương nêu rõ 4 mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc là: 1- Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế; 2- Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết; 3- Thực hiện hợp tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo; 4- Xây dựng Liên hợp quốc thành trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu chung.

Sáu nguyên tắc hoạt động chủ yếu của Liên hợp quốc là: 1- Bình đẳng về chủ quyền quốc gia; 2- Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia; 3- Cấm đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; 4- Không can thiệp vào công việc nội bộ các nước; 5- Tôn trọng các nghĩa vụ và luật pháp quốc tế; 6- Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình.

Hiện nay, Liên hợp quốc đang thúc đẩy các nước thành viên phấn đấu thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs), bao gồm: Loại trừ nghèo đói; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học; khuyến khích bình đẳng giới và tăng quyền cho phụ nữ; giảm tỷ lệ tử vong trẻ em; cải thiện sức khỏe bà mẹ; chiến đấu chống HIV/AIDS, sốt rét, và các bệnh tật khác; bảo đảm môi trường bền vững; khuyến khích một mối quan hệ đối tác phát triển quốc tế. Các mục tiêu này thể hiện trong tuyên bố Thiên niên kỷ Liên hợp quốc, được ký kết tháng 9-2000 mà toàn bộ 192 nước thành viên đã đồng ý sẽ hoàn thành vào năm 2015.

Vào Liên hợp quốc: gian nan nhưng vinh quang

Việt Nam chính thức gia nhập Liên hợp quốc ngày 20-9-1977. Ba mươi năm sau, ngày 16-10-2007, tại khoá họp thường niên lần thứ 62 Đại hội đồng Liên hợp quốc, với 183/190 phiếu tán thành,Việt Nam đã chính thức được bầu làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009. Như vậy, sau đúng 30 năm gia nhập Liên hợp quốc, Việt Nam đã trở thành một trong số 15 nước ủy viên Hội đồng Bảo an - cơ quan quyết định các vấn đề của thế giới nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, thể hiện vị thế chính trị và ngoại giao ngày càng cao hơn của Việt Nam trên trường quốc tế.

Để có được vinh quang và thành công này, chúng ta đã phải trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, kiên trì và bền bỉ. Khi các nước Đồng minh thành lập Liên hợp quốc và họp khóa đầu tiên ngày 10-1-1946 tại Luân - đôn (Anh), thì ngày 14-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà nộp đơn xin gia nhập Liên hợp quốc. Do tương quan lực lượng tại Liên hợp quốc cũng như tình hình thế giới và trong nước khi đó nên việc Viêt Nam xin gia nhập Liên hợp quốc chưa thể thực hiện được. Với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Việt Nam đã giành được độc lập, giải phóng một nửa đất nước, đồng thời góp phần làm tan rã chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, tạo điều kiện cho hàng loạt nước khác được trao trả độc lập theo Nghị quyết số 1514 của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Tuy nhiên, dân tộc ta vẫn phải tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh gian khổ nhằm hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Và cuộc chiến đấu gian khổ, hy sinh đó cuối cùng đã giành thắng lợi hoàn toàn bằng đại thắng mùa Xuân năm 1975. Tháng 7-1975, phái đoàn Việt Nam đã sang Niu Oóc (Mỹ) cùng bạn bè vận động để nước ta được tham gia Liên hợp quốc. Các nước đều hoan nghênh và ủng hộ Việt Nam. Nhưng Mỹ đã đơn độc dùng quyền phủ quyết của ủy viên thường trực Hội đồng bảo an để ngăn cản Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. Tuy chưa là thành viên chính thức của Liên hợp quốc trong năm đó, nhưng Việt Nam vẫn được Đại hội đồng Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế hoan nghênh.Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đặc cách mời đoàn đại biểu Việt Nam ngồi tại bàn đầu của hội trường và thông qua dự thảo Nghị quyết do An-giê-ri, Chủ tịch Phong trào Không liên kết giới thiệu, đề nghị Hội đồng bảo an “xem xét lại ngay và tạo thuận lợi cho việc Việt Nam tham gia Liên hợp quốc”.

Tháng 1-1977, Tổng thống Mỹ Gim-mi Các-tơ nhậm chức và đã tỏ thái độ tích cực với Việt Nam, đồng ý để Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc, nới lỏng cấm vận, cử đoàn đại diện sang thăm Việt Nam. Trong phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc kết nạp Việt Nam ngày 20-9-1977, Đại sứ Mỹ A.Y.ăng (Andrew Young), sau khi đọc bài phát biểu hoan nghênh Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc đã đi thẳng tới đoàn Việt Nam bắt tay chúc mừng trước sự chứng kiến của toàn thể Đại hội đồng.

Như vậy, trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, cuối cùng Việt Nam cũng đã giành được độc lập và thống nhất nước nhà, sau đó chính thức gia nhập Liên hợp quốc, rồi đảm nhiệm vai trò quan trọng trong tổ chức này, thực hiện được phần nào điều mà Bác Hồ từ rất sớm đã mong muốn là “đưa Việt Nam sánh vai cùng cường quốc năm châu”. Đây là thắng lợi của chính nghĩa, của sức mạnh tinh thần và ý chí được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc ta, là sự ủng hộ và giúp đỡ hết sức chân tình của bạn bè và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên toàn thế giới.

Một hình mẫu của quan hệ đối tác vì sự phát triển

Việt Nam và Liên hợp quốc có mối quan hệ gắn bó, tôn trọng lẫn nhau và cùng phấn đấu vì sự phát triển chung. Trong hơn 30 năm qua, Liên hợp quốc đã ủng hộ Việt Nam trong cải cách thể chế, đóng góp trong soạn thảo luật, đào tạo cán bộ, trợ giúp tài chính. Những thành công của Việt Nam trong đổi mới, duy trì tốc độ phát triển kinh tế, tăng GDP gấp đôi trong vòng 10 năm đã góp phần khẳng định các chính sách, nỗ lực của Liên hợp quốc giúp đỡ Việt Nam trong các vấn đề nhân đạo, nâng cao chỉ số phát triển con người, thu nhập bình quân đầu người, xoá đói, giảm nghèo... đã mang lại hiệu quả tích cực.

Về phía Việt Nam, kể từ khi gia nhập Liên hợp quốc, quan hệ của Việt Nam với tổ chức này ngày càng được cải thiện và phát triển tốt hơn. Ngay sau khi tham gia Liên hợp quốc, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của các nước thành viên để Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 32 (năm 1977) thông qua Nghị quyết số 32/2 kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế viện trợ, giúp đỡ Việt Nam tái thiết sau chiến tranh. Việt Nam cũng đã chủ động và tích cực phối hợp với các nước thuộc Phong trào Không liên kết và các nước đang phát triển trong đấu tranh và bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, như nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, không can thiệp công việc nội bộ các nước, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực..., đồng thời bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng tranh thủ được sự giúp đỡ về nguồn vốn, chất xám, kỹ thuật của Liên hợp quốc phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Việt Nam cũng đã tham gia tích cực và chủ động hơn trên nhiều lĩnh vực liên quan đến hoà bình, an ninh, giải trừ quân bị cũng như phát triển kinh tế, xã hội, dân số và bảo vệ môi trường, là những chủ đề chính trong chương trình nghị sự của Liên hợp quốc.

Về an ninh giải trừ quân bị: Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng và là thành viên chính thức của Công ước cấm vũ khí hoá học (CWC) năm 1998; ký Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT) năm 1996 và phê chuẩn Hiệp ước này năm 2006; tham gia và đã trở thành thành viên của Hội nghị giải trừ quân bị (CD) từ ngày 17-6-1996; hiện đang chuẩn bị ký Nghị định thư bổ sung Hiệp định bảo đảm hạt nhân với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế. Hằng năm, Việt Nam tham gia đều đặn vào Cơ chế Đăng kiểm vũ khí thông thường của Liên hợp quốc, nhằm thực hiện một trong các biện pháp xây dựng lòng tin với các nước và làm tốt nghĩa vụ thành viên của Liên hợp quốc.

Về hợp tác phát triển: Trọng tâm mới của Liên hợp quốc tại Việt Nam được thể hiện trong Khuôn khổ Hỗ trợ phát triển của Liên hợp quốc (UNDAF - đã được Thủ tướng Chính phủ nước ta phê duyệt). Đây là tài liệu định hướng chung cho các hoạt động của các tổ chức của Liên hợp quốc tại Việt Nam, trên cơ sở các định hướng ưu tiên của Việt Nam đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo (CPRSG)..., đồng thời phù hợp với những lĩnh vực mà các tổ chức Liên hợp quốc quan tâm và có thế mạnh, trong đó ưu tiên tập trung cho việc phấn đấu đạt các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Hiện nay, hướng ưu tiên hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức của Liên hợp quốc được thể hiện bằng việc đạt được 3 mục tiêu chính nêu trong UNDAF là: xây dựng các chính sách kinh tế hỗ trợ quá trình tăng trưởng mang tính công bằng, hoà nhập và bền vững; nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ xã hội và an sinh xã hội và tính công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ này; xây dựng các chính sách, luật pháp và cơ cấu quản trị quốc gia hỗ trợ một cách có hiệu quả cho sự phát triển dựa trên quyền để thực hiện các giá trị và mục tiêu của Tuyên bố Thiên niên kỷ.

Với những đóng góp của mình, Việt Nam đã lần lượt được các nước tin tưởng giao cho những trọng trách trong tổ chức Liên hợp quốc: thành viên Ban Điều hành UFNPA/UNDP; thành viên Hội đồng kinh tế - xã hội ECOSOC; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008 – 2009. Chúng ta đã đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo an vào tháng 7-2008, được Liên hợp quốc và các nước thành viên đánh giá cao. Tháng 10-2009, Việt Nam sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo an lần thứ hai, và với những kinh nghiệm, sự chuẩn bị kỹ lưỡng, cùng với sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chúng ta sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách này. Liên hợp quốc cũng đã có những đánh giá tốt đẹp về hoạt động ngày càng tích cực của Việt Nam tại tổ chức này. Các hoạt động gặp gỡ cấp cao giữa Việt Nam với Liên hợp quốc đã diễn ra thường xuyên hơn. Nhân dịp Liên hợp quốc kỷ niệm 50 năm thành lập, Việt Nam đã tặng Liên hợp quốc phiên bản Trống đồng Ngọc Lũ, hiện được đặt trang trọng tại trụ sở của Liên hợp quốc. Tháng 5-2006, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Cô-phi An-nan tới thăm Việt Nam. Hiện Việt Nam là một trong 8 nước triển khai thí điểm sáng kiến “Một Liên hợp quốc” ở cấp độ quốc gia - một nội dung về cải tổ được Liên hợp quốc rất coi trọng.

Tại Lễ kỷ niệm Ngày Liên hợp quốc và 30 năm quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc (ngày 24-10-2007), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc trong 30 năm qua có thể coi là một mẫu hình của quan hệ đối tác vì sự phát triển. Việt Nam luôn mong muốn hợp tác tốt đẹp với Liên hợp quốc vì mục tiêu chung là hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển cho mỗi quốc gia và toàn thế giới”. Với vai trò và vị thế mới, Việt Nam sẽ tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào các công việc chung của Liên hợp quốc, và chắc chắn sẽ có những đóng góp lớn hơn nữa, xứng đáng với sự tin cậy của cộng đồng quốc tế./.