Cuộc đời hoạt động cách mạng của người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, kiên cường Tôn Đức Thắng đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu, điển hình là bài học về xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước trên nền tảng tập hợp và phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động nắm bắt thời cơ, và không ngừng phấn đấu, cống hiến toàn bộ trí tuệ, sức lực vì mục tiêu phát triển sự nghiệp cách mạng, vì sự hưng thịnh và lớn mạnh của nước nhà.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, nhà yêu nước vĩ đại Tôn Đức Thắng đã đi nhiều nơi, đảm nhận nhiều vị trí quan trọng và dù ở đâu, trên cương vị nào cũng luôn hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, cũng như trong việc xây dựng bộ máy nhà nước.

1. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một trong những chiến sĩ cách mạng tiên phong đi đầu trong công cuộc vận động giai cấp công nhân đoàn kết, từng bước lớn mạnh để bước lên vũ đài đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, hình thành nên bộ máy nhà nước sau này.

Năm 1920, sau khi tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm ở Biển Đen để chào mừng cách mạng Nga, người thợ máy yêu nước Tôn Đức Thắng đã rời Pháp trở về Tổ quốc, mang theo kinh nghiệm trong phong trào hoạt động của giai cấp công nhân và tinh thần Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại để góp sức cùng dân tộc xóa bỏ ách nô lệ. Cuối năm 1920, Tôn Đức Thắng cùng một số anh em công nhân đứng ra thành lập Công hội bí mật - tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam do chính những người công nhân tự tổ chức ra. Ban đầu, Công hội gồm 5 người do Tôn Đức Thắng làm Hội trưởng. Đến năm 1925, Công hội bí mật đã có 300 hội viên là công nhân của nhiều nhà máy ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn như hãng Kroff, nhà máy Ba Son, hãng Faxi, trường Bách Nghệ, nhà đèn Chợ Quán, hãng rượu Bình Tây... Thắng lợi cuộc bãi công của công nhân Ba Son (năm 1925) có ý nghĩ chính trị rất to lớn, làm cho giai cấp công nhân tin tưởng vào tổ chức Công hội và sức mạnh đoàn kết của giai cấp mình, góp phần hình thành nên ý thức cách mạng của giai cấp công nhân. Khác với các nước phương Tây, giai cấp công nhân ở Việt Nam biết tự tổ chức bản thân mình thành giai cấp, biết đi từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác, và người mở đường trong cuộc trường chinh đầy khó khăn này là Tôn Đức Thắng.

Sau này, khi bị địch bắt và bị tù đày 17 năm ở nhà tù Côn Đảo, người chiến sĩ Tôn Đức Thắng vẫn sáng ngời bản lĩnh cách mạng, là người đề xướng thành lập Hội Cứu tế tù nhân (Hội tù), tích cực đấu tranh để thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên, nhằm đoàn kết các tù nhân, giúp đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày và giác ngộ cách mạng, “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng” của những người cộng sản. Nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đã được Bác Tôn giác ngộ, trưởng thành ngay tại “địa ngục trần gian” Côn Đảo.

2. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là người suốt đời chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có nhiều đóng góp đặc biệt xuất sắc trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị.

Năm 1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã thông qua nghị quyết thống nhất Việt Minh - Liên Việt thành một mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Mặt trận Liên Việt. Đại hội nhất trí bầu Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Năm 1955, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc đã quyết định tên mới của Mặt trận Dân tộc thống nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phiên họp cuối cùng của Đại hội đã thống nhất bầu Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trên cương vị được giao, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã đem hết sức lực và trí tuệ của mình cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng; lãnh đạo Mặt trận giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc; tổ chức thực hiện triệt để tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản thân đồng chí cũng là một tấm gương sống động, thuyết phục về tinh thần đoàn kết.

Về chính sách đại đoàn kết, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nhấn mạnh: Chính sách Mặt trận của ta là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến. Không phải liên minh giai cấp suông, mà liên minh giai cấp để kháng chiến. Đã liên minh giai cấp để kháng chiến thì những mâu thuẫn quyền lợi giữa các giai cấp phải được diễn giải hợp lý. Nhưng bao giờ chúng ta cũng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của quần chúng cần lao và đông đảo vì họ là nền tảng của Mặt trận Dân tộc thống nhất, là lực lượng chủ yếu của kháng chiến. Kêu gọi đồng bào cả nước, Chủ tịch nói: Chúng ta cùng chung một Tổ quốc, cùng có chung hàng ngàn năm lịch sử, đau khổ có nhau, vinh quy có nhau. Điều đó gắn liền đồng bào toàn quốc thành một khối.

Về lề lối làm việc của hệ thống cơ quan Mặt trận, Người căn dặn: Đối với công việc chung, chúng ta cần bàn bạc dân chủ với người ngoài Đảng. Lắng nghe ý kiến của họ, ý kiến đúng chúng ta hoan nghênh, ý kiến sai chúng ta giải thích và chúng ta thực hiện phương pháp thân ái phê bình, tự phê bình trong nội bộ Mặt trận. Trong khi làm công tác Mặt trận, chúng ta cần phải chú ý nêu cao sự lãnh đạo của Đảng. Quyền lãnh đạo của Đảng quyết không thể chia sẻ cho ai và quyết không thể làm lu mờ được.

3. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một trong những nhà lãnh đạo Quốc hội đầu tiên, gắn bó mật thiết và có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển của Quốc hội - cơ quan lập pháp tối cao, cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân.

Nhiều năm liền đảm nhận trọng trách Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc lập danh sách đại biểu, hiệp thương, giới thiệu các đại biểu ứng cử đại biểu Quốc hội, góp phần quan trọng vào thành công tốt đẹp của các kỳ bầu cử Quốc hội.

Trên cương vị Phó Trưởng ban, quyền Trưởng ban rồi Trưởng ban Thường trực Quốc hội, đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa I đến khóa VI, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã tham gia lãnh đạo tổ chức thành công nhiều kỳ họp Quốc hội quan trọng, như kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Hiến pháp năm 1946), kỳ họp thứ ba (tháng 12-1953) thông qua các đạo luật cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân..., góp phần thiết thực hình thành nên tổ chức bộ máy của nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

4. Chủ tịch Tôn Đức Thắng - người luôn quan tâm chăm lo đến đời sống của nhân dân, xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Tháng 7-1060, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất đã tín nhiệm, thống nhất bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị mới, Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi, kiểm tra, chỉ đạo và đôn đốc thực hiện các vấn đề công nghiệp, nông nghiệp, thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Năm 1969, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Quốc hội khóa III, kỳ họp thứ năm, đã nhất trí bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và sau này đồng chí tiếp tục được Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ nhất, bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cương vị Chủ tịch nước, đồng chí thực sự xứng đáng là người kế nhiệm xuất sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có nhiều đóng góp to lớn, cùng Đảng, Nhà nước lãnh đạo thắng lợi cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.
 
Mặc dù tuổi cao, sức không còn được khỏe, Chủ tịch Tôn Đức Thắng vẫn dành thời gian thăm hỏi, động viên nhân dân, cán bộ, chiến sĩ các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là đối với ngành giáo dục. Đồng chí khẳng định: Để xây dựng nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, có công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến, đời sống văn minh, hạnh phúc, sự nghiệp xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa trong cả nước cần được phát triển mạnh mẽ, liên tục và vững chắc hơn nữa; đồng thời, nhắc nhở các cháu học sinh trong cả nước ra sức phấn đấu rèn luyện, học tập, lao động và công tác, xứng đáng là những người vừa hồng, vừa chuyên, thừa kế sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói, cuộc đời hoạt động cách mạng anh dũng, kiên cường và miệt mài, phong cách khiêm tốn, giản dị, giàu lòng nhân hậu, không hình thức của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là minh chứng sinh động, thuyết phục cho khả năng lãnh đạo, tập hợp quần chúng trong khối thống nhất, đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng bộ máy nhà nước một cách hiệu quả; để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập toàn cầu ngày nay./.