Cướp chính quyền tại Bắc bộ phủ
Hà Nội (1945)

Mấy năm trời, vào dịp kỷ niệm lần thứ 60 Cách mạng Tháng Tám, tôi có viết một bài báo nói rằng, về tầm vóc cuộc cách mạng của chúng ta, nếu có một từ ngữ nào lớn hơn từ “vĩ đại” thì tôi sẽ không ngần ngại dùng từ ngữ ấy. Vậy mà lục các sách vở viết về Cách mạng Tháng Tám, ở trong nước cũng như ngoài nước, tôi vẫn không tìm thấy từ nào khác hơn từ “vĩ đại”. Vâng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta là một cuộc cách mạng vĩ đại.

Vĩ đại, là bởi đối với một sự kiện lịch sử, tầm vóc của nó được quyết định trước hết không phải ở quy mô mà là ở tính chất và tác động của nó đến tiến trình lịch sử, tức là thúc đẩy lịch sử tiến lên chứ không phải kéo lùi lịch sử. Cách mạng Tháng Tám quả đúng là một cuộc cách mạng như vậy, một cuộc cách mạng mang tính dân tộc và thời đại sâu sắc.

Vĩ đại, vì Cách mạng Tháng Tám dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, do chính đảng của giai cấp công nhân - Đảng Cộng sản Việt Nam – lãnh đạo. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập nhà nước Cộng hoà dân chủ mở ra bước ngoặt vĩ đại của sự đổi đời - sự thay đổi một cách căn bản vận mệnh của đất nước và dân tộc ta. Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một nước độc lập, tự do. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập
tại quảng trường Ba Đình  ngày 2-9-1945

Vĩ đại  vì kể từ mùa Thu năm 1945 đến nay, 63 năm đã trôi qua, một thời gian rất dài so với một đời người nhưng lại rất ngắn so với lịch sử mấy nghìn năm của một dân tộc; thế mà trong thời gian ngắn ngủi ấy, các thế hệ người Việt Nam chúng ta, với truyền thống yêu nước và lòng tự tôn dân tộc, với hào khí của Cách mạng Tháng Tám và chí lớn giữ vững lời thề độc lập, đã không ngừng tiến bước trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, liên tiếp lập nên những kỳ tích từng làm kinh ngạc nhân dân nhiều nước trên thế giới.

Kỳ tích của cuộc kháng chiến chống Pháp, một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện kéo dài trong chín năm để đi đến một Điện Biên “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, chiến thắng dẫn tới Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến sự ở Đông Dương, buộc kẻ thù xâm lược phải thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống Pháp gõ tiếng chuông báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới và mở đường cho một phong trào giải phóng dân tộc quy mô lớn trên nhiều châu lục.

Kỳ tích của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một cuộc đối đấu lịch sử giữa một dân tộc mà đất nước bị chia cắt làm hai với một thế lực đế quốc đầu sỏ nhiều tiền, nhiều của, lẵm vũ khí và lắm mưu mô. Nhưng rồi cuộc chiến đấu dường như không cân sức ấy đã đưa đến kết cục ngoài sức tưởng tượng của con người. Dân tộc ta đã làm nên một đại thắng mùa Xuân năm 1945, quật ngã kẻ thù xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối. Chiến thắng ấy, như Đảng ta từng nhận định, “mãi mãi ghi vào lịch sử của dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, …

Kỳ tích của sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp đổi mới toàn diện mở ra từ Đại hội VI của Đảng (1986), đến nay vừa tròn 22 năm, đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống vật chất, và tinh thần của nhân dân, tăng nhanh thế và lực của quốc gia, nâng cao không ngừng vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Gia nhập WTO, tham gia ngày càng rộng và sâu các định chế kinh tế, thương mại, tài chính khu vực và toàn cầu, các hợp tác song phương và đa phương, Việt Nam giống như người dũng sĩ kiên cường đang lao ra biển cả, sẵn sàng ứng phó với mọi phong ba, bão táp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nước năm châu.

Vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám còn ở chỗ, cuộc cách mạng ấy và hành trình đầy kỳ tích do nó mở ra đồng nghĩa với niềm vinh quang chói sáng của những người sáng tạo ra nó.

Vinh quang thuộc về dân tộc ta, một dân tộc tha thiết với độc lập tự do, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ”, một dân tộc anh hùng, bất khuất “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, một dân tộc luôn vươn tới tầm cao của đại nghĩa, của lương tri và phẩm giá con người.

Vinh quang thuộc về Đảng ta, Đảng Cộng sản Việt Nam, “đứa con nòi xuất thân từ giai cấp lao động”, đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, người luôn đề trên lá cờ chiến đấu của mình mục đích cao nhất là đấu tranh cho đất nước độc lập, tự do, nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Vinh quang thuộc về lãnh tụ tối cao của Đảng và của dân tộc ta - Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và là chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Người là linh hồn và là ngôi sao sáng dẫn đường cho đất nước ta, dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, di sản quý báu mà Người để lại, mãi mãi soi đường chúng ta đi.

Cách mạng Tháng Tám và sự nghiệp vĩ đại mở ra từ cuộc cách mạng ấy giống như một đại dương bao la, trong đó, mỗi người chúng ta là một giọt nước. Có những giọt nước lớn và những giọt nước nhỏ. Có những nhà lãnh đạo cách mạng kiệt xuất, các anh hùng và liệt sĩ đã xả thân vì non sông mà tên tuổi của họ sống mãi với thời gian. Có những chiến sĩ vô danh, những thường dân áo vải đã ngã xuống một cách thầm lặng nhưng máu xương của họ vẫn thấm sâu vào lòng Đất mẹ và xây đắp nên sự vững bền của nền độc lập, tự do.

Bản thân người viết bài báo này, ngày Cách mạng Tháng Tám nổ ra, chỉ mới là một học sinh 16 tuổi, được cử làm Bí thư Đoàn học sinh cứu quốc xã. Hai năm sau, sau 1947, đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Bốn mươi năm sau nữa, năm 1986, tại Đại hội VI của Đảng, được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Trung ương. Từ bấy đến nay, đã trải qua nhiều chức vụ. Nay sắp bước vào tuổi 80, nhớ lại cuộc Cách mạng của 63 năm về trước, thấy vẫn như ngày nào, nóng hổi nhiệt huyết và nhiệt tâm của thời niên thiếu. Ngày ấy, cùng các lớp đàn anh tham gia cuộc biểu tình giành chính quyền ở thị xã Tuy Hoà (23-8-1945), nay là thành phố Tuy Hoà, tỉnh lỵ tỉnh Phú Yên. Cầm cờ đi biểu tình mà không biết hát bài Tiến quân ca. Khẩu hiệu nhớ nhất vẫn là “Đả đảo Nhật – Pháp”. Bởi hiểu Cách mạng là đánh đổ ách thống trị của thực dân và phát xít. Còn chính quyền về tay nhân dân thì càng về sau mới càng rõ ra. Lời bài hát Tiến quân ca thời ấy còn quyết liệt lắm. “Thề phanh thây uống máu quân thù…”. “Tiến lên, cùng thét lên! Chí trai là đây nơi ước nguyền…”. Ngày nay, khi Tiến quân ca đã trở thành Quốc ca, thì lời đã có những thay đổi. “Thề hy sinh chiến đấu không ngừng”. “Tiến lên, cùng tiến lên! Nước non Việt Nam ta vững bền…”.

Vì nước non Việt Nam ta vững bền, dân tộc ta nhất định phải tiến lên, tiến lên mãi, tiến kịp và tiến cùng thời đại./.