Dân quân tự vệ Việt Nam - 80 năm, vinh quang một chặng đường
Dân quân tự vệ - lực lượng vô địch, những chiến sĩ anh hùng
Kế thừa và phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc với tư tưởng “Bách tính giai binh”, “Ngụ binh ư nông”; vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh thực tiễn của nước ta, ngay khi mới thành lập, Đảng ta đã sớm đề ra chủ trương “Vũ trang cho công nông”. Năm 1931, Đảng nhấn mạnh: “Một vấn đề rất quan trọng cho sự đấu tranh của quần chúng công nông bây giờ là vấn đề tổ chức đội tự vệ của công nông… Phải đem những phần tử hăng hái tranh đấu, can đảm tổ chức ra những đội ấy”(1). Đặc biệt, Đại hội Đảng lần thứ nhất của Đảng đã ra “Nghị quyết về Đội tự vệ”, trong đó khẳng định: “Tự vệ đội càng mạnh thì tức là có điều kiện thuận lợi để sau này tổ chức du kích chiến tranh và vũ trang bạo động… Luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong tự vệ thường trực”(2).
Thực tiễn lịch sử 80 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và trưởng thành đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của lực lượng Dân quân tự vệ trong thực hiện các nhiệm vụ đấu tranh cách mạng. Sau Đại hội Đảng lần thứ nhất, các đội tự vệ công nông đã lần lượt được thành lập ở khắp các địa phương, nhất là ở Bắc Bộ, Trung Bộ. Các đội tự vệ cứu quốc, các tổ, tiểu đội tự vệ, các đội du kích dần trở thành tổ chức vũ trang quần chúng trong các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, đóng vai trò nòng cốt cùng quần chúng tiến hành vũ trang khởi nghĩa từng phần, chiến tranh du kích cục bộ. Đến giữa năm 1945, Dân quân tự vệ đã phát triển lên tới vài chục nghìn người, trở thành lực lượng quan trọng cùng với giải phóng quân và toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”(3).
Sau Cách mạng tháng Tám, hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần “động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”(4), lực lượng Dân quân tự vệ đã nhanh chóng lớn mạnh, phát triển rộng khắp trong cả nước. Dân quân tự vệ cũng từng bước được thống nhất về tổ chức, trở thành một bộ phận trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do các xã đội, huyện đội, tỉnh đội chỉ đạo, chỉ huy và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng các cấp. Dân quân tự vệ đã cùng với Vệ quốc quân và các lực lượng chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn trong cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc. Đầu năm 1947, “lực lượng Dân quân tự vệ đã phát triển lên tới gần 3 triệu người, riêng Thủ đô Hà Nội có 6.000 đội viên. Tại chiến trường Nam Bộ, lực lượng dân quân du kích phát triển trên 27 vạn, trong đó du kích chiến đấu là 1,4 vạn. Ở chiến trường Trung Bộ, đến cuối năm 1949 có 28,5 vạn dân quân du kích, 22.000 bạch đầu quân. Ở Bắc Bộ, dân quân du kích phát triển mạnh với 27,9 vạn người với đủ các lứa tuổi, trai, gái”(5). Vì vậy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Dân quân tự vệ và bộ đội địa phương đã loại khỏi vòng chiến đấu 23,1 vạn/50 vạn quân địch, làm tan rã 20 vạn tên. Dân quân tự vệ cũng là lực lượng chủ yếu buộc địch phải căng kéo, phân tán lực lượng, góp phần vào những chiến thắng quan trọng, nhất là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp.
Sau năm 1954, miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Dân quân tự vệ trên cả hai miền Nam, Bắc đã nỗ lực thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Ở miền Bắc, với khẩu hiệu “tay cày tay súng, tay búa tay súng”, Dân quân tự vệ đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội, công an và nhân dân vừa đẩy mạnh sản xuất vừa tích cực chiến đấu. Riêng lực lượng phòng không Dân quân tự vệ đã độc lập bắn rơi 424 máy bay các loại trong tổng số 4.181 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc (chiếm 10%), bắt sống nhiều giặc lái, bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu chiến địch. Ở miền Nam, lực lượng dân quân du kích đã chủ động đánh địch bằng mọi loại vũ khí, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, thực hiện tốt 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận). Kiên quyết trong tác chiến, sáng tạo trong cách đánh, dân quân du kích miền Nam đã phối hợp cùng nhân dân đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ - Ngụy, như “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”,… với các chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”… Dân quân đã buộc địch phải phân tán tới 90% lực lượng để đối phó với chiến tranh du kích. Đặc biệt, trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, cùng với bộ đội chủ lực và đồng bào miền Nam, Dân quân tự vệ đã tham gia tiến công, nổi dậy trên khắp các chiến trường, góp phần quan trọng vào Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Tiếp tục xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh toàn diện
Sau năm 1975, bước vào giai đoạn cách mạng mới cả nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng Dân quân tự vệ đã làm nòng cốt cho nhân dân ở cơ sở khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực rà phá, tháo gỡ bom mìn, giải phóng hàng triệu héc-ta đất canh tác để nhân dân khôi phục sản xuất. Trên cả nước, Dân quân tự vệ đã huy động hàng triệu lượt người tham gia xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, phối hợp và phục vụ bộ đội chiến đấu, góp phần quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam, bảo vệ tốt chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Đồng thời, Đảng ta thường xuyên ban hành các văn bản, chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo việc tổ chức, xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ. Đặc biệt, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 1996, Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004 và Luật Dân quân tự vệ năm 2009, góp phần tạo cơ sở pháp lý để xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh toàn diện cả về tổ chức, huấn luyện, hoạt động và công tác bảo đảm theo chức năng, nhiệm vụ chặt chẽ thống nhất với cơ chế “Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu”. Lực lượng Dân quân tự vệ ngày càng phát huy tốt vai trò nòng cốt trong lao động sản xuất, bảo vệ sản xuất, phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai và phối hợp với các lực lượng khác, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; cùng quân, dân cả nước đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Dân quân tự vệ đã và đang thực sự trở thành công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân ở cơ sở. Từ năm 2002 đến nay, lực lượng Dân quân tự vệ đã có 16.761.878 người với 42.617.994 ngày công tham gia trực sẵn sàng chiến đấu và tuần tra canh gác; 43.167 người với 189.860 ngày công tham gia bảo vệ biên giới đất liền và đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo Việt Nam; 887.093 ngày công tham gia bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Ghi nhận những công lao và thành tích của lực lượng Dân quân tự vệ qua các thời kỳ đã có 370 tập thể và 275 cá nhân được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” với nhiều tập thể tiêu biểu, như Đại đội nữ dân quân Ngư Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình), Đại đội nữ dân quân Tiền Hải (Thái Bình), Trung đội lão dân quân Hoàng Hóa (Thanh Hóa), Đội nữ du kích Hoàng Ngân (Hưng Yên), dân quân du kích huyện Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh),…
Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói chung, xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ nói riêng. Theo đó, cần xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp ngày càng cao, trước hết là chất lượng chính trị; tổ chức biên chế tinh, gọn, chặt chẽ; trang bị vũ khí phù hợp; khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, thực sự là lực lượng tin cậy của cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân.
Kế thừa và phát huy truyền thống 80 năm chiến đấu, trưởng thành, để xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:
Một là, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của cấp ủy, quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan quân sự các cấp đối với công tác xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ
Đây là vấn đề thuộc về cơ chế tổ chức, hoạt động của lực lượng Dân quân tự vệ. Trong tình hình mới, các địa phương, đơn vị cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, văn bản, chỉ thị của Đảng, Chính phủ về Dân quân tự vệ, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Chỉ thị 16-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng Dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên trong tình hình mới”. Thực tế cho thấy, chỉ khi cấp ủy, chính quyền quan tâm và cơ quan quân sự địa phương thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ thì Dân quân tự vệ mới được xây dựng vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Do đó, cần thường xuyên tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của cấp ủy; quản lý, điều hành của chính quyền đối với công tác xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ. Trong mọi điều kiện, nhiệm vụ xây dựng Dân quân tự vệ phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền địa phương, cơ sở. Cơ quan quân sự các cấp cần phát huy vai trò nòng cốt trong tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền các cấp ban hành nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch lãnh đạo công tác quân sự quốc phòng, công tác Dân quân tự vệ sát, đúng với thực tiễn.
Hai là, tăng cường xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ theo phương châm “cơ bản, thiết thực, chất lượng” có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, trước hết là chất lượng chính trị
Quán triệt và thực hiện nghiêm túc Luật Dân quân tự vệ, các địa phương, cơ quan và tổ chức cần quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng Dân quân tự vệ, trước hết là chất lượng chính trị, bảo đảm Dân quân tự vệ thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân cơ sở. Hiện nay, cả nước “đã thành lập được hơn 5.500 chi bộ quân sự cấp xã, trong đó 100% số xã của các Quân khu 5, 7, 9 có chi bộ quân sự; tỷ lệ đảng viên trong lực lượng Dân quân tự vệ đạt 22,4%”(6). Trong xây dựng Dân quân tự vệ cần chú ý công tác xây dựng Đảng gắn với thực hiện nghiêm túc, có nề nếp chế độ đăng ký, quản lý lực lượng Dân quân tự vệ; chủ động rà soát, kiện toàn tổ chức biên chế Dân quân tự vệ theo hướng “gọn, mạnh”, có tỷ lệ và cơ cấu hợp lý giữa lực lượng nòng cốt và rộng rãi, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng vùng, từng địa phương, cơ sở nhất là xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ ở các địa bàn trọng điểm, biên giới, biển, đảo. Đồng thời, quan tâm củng cố, kiên toàn xây dựng lực lượng tự vệ trong các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo quy định của Luật Dân quân tự vệ.
Ba là, chú trọng nâng cao chất lượng công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và hiệu quả hoạt động của lực lượng Dân quân tự vệ
Nâng cao chất lượng công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đến hết năm 2014, “các cơ sở dân quân tự vệ trên toàn quốc tiếp tục được củng cố, tăng cường, số cơ sở dân quân tự vệ xây dựng mới tăng thêm 22,1% so với năm 2013; lực lượng Dân quân tự vệ chiếm 1,44% dân số cả nước”(7). Vì vậy, cùng với xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực phải đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục, huấn luyện Dân quân tự vệ, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị, pháp luật, công tác vận động quần chúng với huấn luyện quân sự; coi trọng tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng Dân quân tự vệ thường trực, dân quân cơ động, Dân quân tự vệ biển, Dân quân tự vệ phòng không, nhất là ở các địa bàn trọng điểm. Đồng thời, quan tâm nâng cao hiệu quả phối hợp huấn luyện giữa Dân quân tự vệ với các lực lượng khác trên cùng một địa bàn tác chiến và trong thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, cứu hộ cứu nạn,…
Bốn là, thường xuyên bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với lực lượng Dân quân tự vệ
Vấn đề này vừa là đòi hỏi trước mắt đồng thời cũng là yêu cầu mang tính chiến lược, lâu dài. Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành có liên quan cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh chế độ, chính sách đãi ngộ đối với lực lượng Dân quân tự vệ. Trước hết, để bảo đảm kịp thời chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ cần thực hiện nghiêm các quy định về ngân sách và xây dựng quỹ quốc phòng, an ninh đã xác định trong Luật Dân quân tự vệ. Đồng thời, phải gắn công tác chính sách với công tác tư tưởng và công tác tổ chức; coi trọng làm tốt công tác chính sách đối với những cán bộ, chiến sĩ Dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ trên các địa bàn khó khăn, vùng sâu vùng xa, biên giới, biển, đảo./.
------------------------------------------------
Chú thích:
(1) Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam: Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 2000), Nxb. Quân đội nhân dân, H, 2002, tr. 18
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t. 5, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 95
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 518
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2009, tr. 507
(5) Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, H, 1975, tr. 30
(6), (7) Báo Quân đội nhân dân: “Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ”, ngày 09-01-2015
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Chủ tịch Quốc hội Campuchia và Đức  (28/03/2015)
Lãnh đạo Quốc hội Việt Nam tiếp các Trưởng đoàn Quốc hội tham dự IPU-132  (28/03/2015)
Đăng cai IPU-132: Sự trưởng thành của Quốc hội Việt Nam  (28/03/2015)
Việt Nam là hình mẫu hoạt động nghị viện qua công tác tổ chức IPU-132  (28/03/2015)
Chủ tịch Hạ viện Kazakhstan bắt đầu thăm chính thức Việt Nam  (27/03/2015)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm