Tiếp cận theo tư duy đổi mới cho doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO
I- Những tiến bộ về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO
1- Số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến năm 2011 cả nước có hơn 80 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và lũy kế đến 31-12-2011 có 624 nghìn doanh nghiệp, trong đó có 550 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động. Bảng xếp hạng của VN Report năm 2010 cho thấy, trong khi vẫn phải chịu sức ép từ suy thoái kinh tế, tổng doanh thu của 500 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam tiếp tục tăng nhanh trong giai đoạn 2007 - 2010, đóng góp ngân sách đã phục hồi và tăng nhanh trong những năm tiếp theo, sau cú sốc suy thoái năm 2008.
2- Sản phẩm của Việt Nam đã chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trên thị trường nội địa
Gia nhập WTO làm tăng áp lực buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đọ sức với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài trên thị trường trong nước. Việc mở cửa khâu phân phối hàng hóa từ đầu năm 2009 đã làm nhiều người lo ngại các công ty nước ngoài với tiềm lực mạnh và có kinh nghiệm sẽ chiếm lĩnh khâu phân phối hàng hóa, hàng nước ngoài sẽ tràn ngập thị trường. Thực tế đã không diễn ra như vậy. Tỷ trọng hàng may mặc, dày dép, đồ điện tử, vật liệu xây dựng… của Việt Nam đã gia tăng và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước, nhờ các doanh nghiệp cải tiến mẫu mã, chất lượng hàng hóa, giá cả cạnh tranh; người tiêu dùng được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng thanh toán của họ. Thị trường bán lẻ nước ta tuy quy mô không lớn, nhưng tốc độ phát triển nhanh, nên liên tục được xếp thứ hạng cao về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ (GRDI).
3- Sản phẩm Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới
Từ khi là thành viên WTO, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta tăng với tốc độ cao (ngoại trừ năm 2009). Năm 2007 đạt 48,56 tỉ USD + 22,7%; năm 2008 là 62,68 tỉ USD +32%; năm 2009 là 57,1 tỉ USD - 8,9%; năm 2010 là 72,2 tỉ USD + 26,4%; năm 2011 là 96 tỉ USD +33%. Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 2007 - 2011 là 336,54 tỉ USD, bằng 2,24 lần của 6 năm 2001 - 2006 (150,65 tỉ USD ). Cần lưu ý rằng, trong kinh tế, con số tương đối được thể hiện bằng tỉ lệ % đánh giá tốc độ phát triển, nhưng con số tuyệt đối mới nói lên sức mạnh của từng lĩnh vực. Nếu mỗi % tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2000 tương đương 145 triệu USD, thì năm 2011 là 960 triệu USD, bằng 6,2 lần. Nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn, tốc độ tăng trưởng cao như hàng dệt may, từ 5,85 tỉ USD (năm 2006) tăng lên 13,5 tỉ USD (năm 2011), con số tương tự của giày dép là 3,59 và 6,5 tỉ USD…; 20 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỉ USD, trong đó 12 mặt hàng trên 2 tỉ USD và 8 mặt hàng trên 3 tỉ USD.
4- Đầu tư ra nước ngoài, đồng thời với việc thu hút vốn FDI
Một số doanh nghiệp như Viettel, Petro Vietnam, Hoàng Anh - Gia Lai… đã thu được kết quả đáng khích lệ trong hoạt động đầu tư ở một số nước.
Tuy vậy, tiến bộ là chưa đủ khi thị trường thế giới đang trong giai đoạn biến động khó lường, khi các quốc gia và doanh nghiệp hàng đầu thế giới thường xuyên thay đổi theo xu thế tiếp cận mô hình tối ưu, khi một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ tận dụng cơ hội từ suy thoái kinh tế của các nước công nghiệp phát triển để vươn lên thành những nền kinh tế hàng đầu thế giới.
II- Một số nhược điểm chủ yếu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
1- Còn tình trạng thua lỗ hoặc thu hẹp sản xuất
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 9 tháng của năm 2011 đã có khoảng 57,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký, ước đạt trên 363,7 nghìn tỉ đồng, giảm 7,8% về số doanh nghiệp đăng ký mới và giảm 4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2010, có 48.700 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm ngoái, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, giảm hiệu quả, thậm chí bị thua lỗ.
2- Bất hợp lý trong sử dụng vốn
Theo báo cáo tháng 2-2011 của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước là 540.701 tỉ đồng, tổng lợi nhuận trước thuế là 70.778 tỉ đồng. Lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng thương mại. Hiệu quả kinh tế không cao nhưng các doanh nghiệp Nhà nước lại là khu vực vay vốn nhiều nhất. Trong thời điểm lãi suất càng cao thì vốn chảy vào khu vực công càng nhiều vì các doanh nghiệp này sử dụng vốn bất chấp lãi suất; nếu phát sinh nợ xấu thì được xử lý theo cơ chế khoanh nợ, xóa nợ.
3- Chưa có nhiều thương hiệu mang tầm vóc quốc tế
Mặc dù đã hơn 25 năm từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, nhưng cho đến nay nước ta chưa có nhiều thương hiệu đạt được trình độ quốc tế. Chỉ có vài mặt hàng nông sản xuất khẩu có vị thế dẫn đầu thế giới là hồ tiêu (số 1), gạo và cà phê (số 2); hàng may mặc có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, năm 2011 là 13,5 tỉ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng chủ yếu là gia công, phải nhập khẩu 8,5 tỉ USD nguyên, phụ liệu. Những nhược điểm cố hữu trong sản xuất công nghiệp dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp, như: không hội đủ 4 yếu tố: máy móc và nguyên vật liệu phần lớn phải nhập khẩu; chưa có thương hiệu, chưa sáng tạo được mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm nên phải gia công, lao động phổ thông, tiền lương thấp; do vậy giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp và hàng xuất khẩu khá thấp.
III- Tiếp cận theo tư duy đổi mới
1- Đặt trên căn bản lợi ích dân tộc trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong quan hệ song phương và đa phương, các quốc gia đối xử với nhau vì lợi ích dân tộc. Sức mạnh kinh tế của mỗi nước chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động đầu tư và kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế và hiệu quả kinh tế - xã hội của quá trình phát triển đất nước, do vậy, nên sử dụng khái niệm “doanh nghiệp dân tộc” để chỉ các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp dân doanh, thay cho thuật ngữ các thành phần kinh tế. Đây không phải là vấn đề thuần túy thay đổi tên gọi, mà là đổi mới tư duy theo hướng tiếp cận lợi ích dân tộc thay cho lợi ích giai cấp, không chỉ nhấn mạnh các doanh nghiệp được đối xử bình đẳng trước pháp luật, mà còn lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo chủ yếu đối với hoạt động của doanh nghiệp. Vị thế của mỗi doanh nghiệp được quyết định bởi việc doanh nghiệp đó chiếm bao nhiêu thị phần từng loại sản phẩm, tạo ra bao nhiêu việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng bao nhiêu thuế cho nhà nước và tham gia bảo vệ môi trường, hoạt động xã hội.
2- Có tư duy đúng đắn về mối quan hệ giữa thị trường và chủ thể của thị trường - doanh nghiệp với nhà nước
Thị trường chuyển động theo cơ chế tự điều chỉnh của “bàn tay vô hình” thông qua quan hệ cung - cầu và biến động giá cả. Chủ thể của thị trường - doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp công ích, phi lợi nhuận) theo đuổi mục đích lợi nhuận thông qua cạnh tranh bằng cải tiến công nghệ, quản trị doanh nghiệp, đổi mới mẫu mã kiểu dáng hàng hóa; nhưng cũng bằng các biện pháp gắn với “lòng tham không bao giờ là đủ” gây thiệt hại cho người tiêu dùng, trốn thuế, lậu thuế. Nhà nước tạo môi trường đầu tư và kinh doanh hấp dẫn để mở rộng thị trường và bằng cơ chế điều chỉnh để sửa chữa khiếm khuyết, khắc phục tình trạng “méo mó” của thị trường.
Trong thời đại ngày nay, khi thị trường đã thâm nhập vào đời sống của con người, tình cảm, nhận thức của cá nhân, cũng như sự phân bố nguồn lực và các lợi ích của mỗi quốc gia thì không còn câu chuyện thị trường yếu, nhà nước mạnh hoặc ngược lại, bởi vì mỗi quốc gia muốn trở nên hùng mạnh thì cần có thị trường phát triển với các doanh nghiệp ngày càng đủ sức vươn ra khu vực và thế giới, được quản lý bằng nhà nước có hiệu năng với thể chế ngày càng hoàn thiện, công khai, minh bạch, khuyến khích cạnh tranh, chống độc quyền.
3- Nhìn nhận rõ về thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Trong khi trân trọng thành tựu phát triển và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, phải thẳng thắn thừa nhận rằng, xét trên mọi bình diện của quá trình phát triển, những tiến bộ trong 25 năm từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, trong đó có 15 năm hội nhập kinh tế quốc tế và 5 năm là thành viên WTO là quá chậm so với nhiều quốc gia và quá ít so với tiềm năng của đất nước. Nếu không thấy hết tính cấp bách của tình hình, không đề ra được hệ thống giải pháp thích hợp và kiên quyết thực thi các giải pháp đó thì khả năng nước ta tụt hậu hơn về trình độ phát triển là hiện hữu so với nhiều nước ASEAN và châu Á, khu vực đang chuyển dịch để trở thành trung tâm phát triển của thế giới.
Câu chuyện về ngành viễn thông nước ta là điển hình thành công về khả năng phát triển của doanh nghiệp Việt Nam nếu có cách tiếp cận đúng, cần được coi là hình mẫu để áp dụng đối với các ngành khác thích ứng với đặc thù từng ngành.
Ngày 22-9-2001, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về Công nghệ thông tin và truyền thông”. Đề án đề ra giải pháp đồng bộ về đào tạo nguồn nhân lực, du nhập, ứng dụng, nghiên cứu công nghệ hiện đại, xây dựng các trung tâm nghiên cứu, sản xuất dịch vụ, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp và thực hiện cơ chế cạnh tranh.
Chỉ trong vòng một thập niên, đến cuối tháng 7-2011, vùng phủ sóng 3G tương ứng với mật độ dân số và lãnh thổ Việt Nam đã tăng từ 54,71% lên 93,68%. Năm 2010, công nghệ thông tin đóng góp từ 8% - 10% GDP. Việt Nam là một trong 10 nước hàng đầu phát triển phần mềm trên thế giới.
IV- Kiến nghị một số giải pháp về phía Nhà nước để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam
1- Đổi mới thể chế, luật pháp có liên quan đến doanh nghiệp
Từ đầu năm 2011 đến nay, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) với sự hỗ trợ của Hội đồng phát triển Anh, cùng nhiều tổ chức trong nước rà soát 16 luật, như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu và các nghị định, thông tư kèm theo các luật đó, đã phát hiện những nhược điểm lớn của hệ thống luật pháp kinh tế, kiến nghị sửa đổi về cơ bản nội dung của hệ thống luật và phương pháp xây dựng pháp luật, đáp ứng đòi hỏi của việc hình thành hành lang pháp lý nhất quán, thông thoáng, minh bạch, công khai, dễ dự báo, tạo môi trường thuận lợi hơn cho kinh doanh và đầu tư.
Bản kiến nghị đã được gửi đến Chính phủ và Quốc hội, cho rằng, việc đổi mới hệ thống luật pháp là cấp bách, cần được Chính phủ và Quốc hội đưa vào Chương trình nghị sự trong năm 2012.
2- Đổi mới chính sách kinh tế
Chuyển sang giai đoạn mới của sự nghiệp công nghiệp hóa cần đổi mới đồng bộ chính sách kinh tế để trong 5 năm đến 10 năm, có thể hình thành đội ngũ doanh nghiệp dân tộc có đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp của những nước phát triển trong khu vực.
Chính sách thuế đã bộc lộ những nhược điểm lớn, trở thành lực cản đối với tích tụ vốn, hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp dân doanh, cần được đổi mới theo quan điểm “khoan sức dân”, giảm tỷ lệ động viên của Ngân sách nhà nước, tăng tích tụ vốn để doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh. Theo đó, xây dựng hệ thống thuế mới từ thuế trị giá gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, đến thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Đồng thời, nghiên cứu để Nhà nước tăng thu một số khoản đang bị thất thoát nghiêm trọng như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, trốn thuế, lậu thuế.
Chính sách tín dụng và hoạt động của ngân hàng thương mại trên thực tế chưa tạo lập quan hệ bình đẳng đối với doanh nghiệp dân doanh và dân cư trong tiếp cận vốn tín dụng, do vậy tình trạng cho vay nặng lãi với lãi suất “cắt cổ” khá phổ biến, cần được đổi mới theo hướng ưu tiên các dự án đầu tư, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và dân cư phù hợp với định hướng phát triển của đất nước trên cơ sở hiệu quả kinh tế - xã hội, bằng những thủ tục công khai, minh bạch để mọi doanh nghiệp và dân cư có thể nhận được các khoản vay cần thiết.
Chính sách lao động và việc làm cần có ưu đãi cao hơn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, kể cả lĩnh vực dịch vụ theo hướng không những miễn, giảm thuế đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, mà còn được Nhà nước ưu tiên vốn đầu tư từ ngân sách, tín dụng ưu đãi khi doanh nghiệp tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nhân lực có trình độ chuyên môn cao; tạo điều kiện thuận lợi và ưu đãi thuế, tín dụng đối với các cơ sở đào tạo trong quá trình hợp tác với doanh nghiệp.
Chính sách FDI cần được nâng cấp, coi trọng hơn chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội, khuyến khích các công ty xuyên quốc gia - TNCs, cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học hàng đầu của những nước công nghiệp phát triển hợp tác với các tổ chức khoa học và giáo dục của nước ta, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam liên kết với doanh nghiệp FDI để tham gia vào hệ thống sản xuất, phân phối trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Chính sách đầu tư ra nước ngoài cần được hình thành để định hướng thị trường, lĩnh vực, ngành mà doanh nghiệp Việt Nam có ưu thế, khuyến khích sự hợp tác của các doanh nghiệp ở từng nước, khắc phục tình trạng tự phát trong việc lựa chọn dự án đầu tư, các hành vi làm mất lòng tin của chính quyền và người dân nước nhận đầu tư đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Các chính sách khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, bảo hiểm xã hội cũng cần được đổi mới theo hướng tạo điều kiện thuận lợi đối với kinh doanh và đầu tư cho doanh nghiệp.
3- Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp trong quan hệ với bên ngoài
Để doanh nghiệp Việt Nam hoạt động có hiệu quả ở nước ngoài cần có sự hỗ trợ của Nhà nước bằng ba giải pháp: 1) Định hướng hoạt động, chỉ đạo thống nhất thông qua các cơ quan chức năng trong nước và các cơ quan đại diện ngoại giao ở từng nước; 2) Lập các quỹ như quỹ xúc tiến thương mại, đầu tư có sự tham gia của nhà nước và của doanh nghiệp để chi các khoản cần thiết, kể cả lobby; 3) Can thiệp khi cần thiết thông qua con đường ngoại giao, quan hệ cá nhân để giải quyết tranh chấp, vụ kiện.
Hàn Quốc rất thành công khi các doanh nghiệp nước này mặc dù tiềm năng còn khá khiêm tốn lại phải cạnh tranh với các doanh nghiệp hùng mạnh của Mỹ, châu Âu, Nhật Bản trong việc nhận thầu những công trình lớn ở Trung Đông vào thập niên 70 của thế kỷ trước. Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt cho doanh nghiệp Hàn Quốc khi tham gia đấu thầu dự án xây dựng, có trường hợp Tổng thống trực tiếp chỉ đạo để nhận được công trình lớn, qua đó xuất khẩu lao động có hiệu quả hơn và tạo được thế đứng vững chắc ở khu vực giàu có này.
Trong thập niên 90 của thế kỷ XX, nước ta đã nhận được một số công trình xây dựng ở Bắc Phi, nhưng do chưa đề ra được các chính sách ưu đãi, chỉ đạo và hỗ trợ doanh nghiệp nên hầu như không được duy trì và phát triển, do vậy, hằng năm xuất khẩu mấy vạn lao động chủ yếu là giản đơn, thậm chí giúp việc gia đình, chăm sóc người tàn tật, người già, ốm đau./.
Viện trợ phát triển giảm vì suy thoái toàn cầu  (09/04/2012)
BRICS: Tầm vóc mới, thách thức mới  (09/04/2012)
Công điện của Thủ tướng: Bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong dịp Lễ 30-4, 1-5  (08/04/2012)
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức Australia và New Zealand  (08/04/2012)
Khai mạc Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2012  (08/04/2012)
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đón nhận Huân chương Sao Vàng  (08/04/2012)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm