Bàn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế vĩ mô và quản trị quốc gia
1- Những vấn đề lớn đặt ra đối với các loại hình doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế
a. Chu kì sống của sản phẩm, hàng hóa càng ngày càng rút ngắn
Đây là một trong những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp lựa chọn sản phẩm chính của mình. Theo các nhà kinh tế thế giới, nếu như từ cuối thế kỷ XX về trước, cứ sau 25 năm (tức ¼ thế kỷ) sẽ xuất hiện 15% sản phẩm mới, thì đến những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, cứ sau 15 năm sẽ xuất hiện 25% sản phẩm mới. Như vậy có nghĩa là, chu kỳ sống của sản phẩm rút ngắn tới 40%.
b. Yêu cầu tái cấu trúc kinh tế
Sau cuộc đại khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tất cả các quốc gia trên thế giới đều đi tìm lối thoát, trong đó đặc biệt chú trọng tới tái cấu trúc nền kinh tế để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Việt Nam cũng đang theo trào lưu đó, song hiện nay, việc tái cấu trúc nền kinh tế đang gặp vô vàn khó khăn, và thực tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói riêng chưa có nhiều hành động rõ ràng, cụ thể trong vấn đề tái cấu trúc cơ cấu. Chẳng hạn, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được xã hội, Chính phủ và DNNN quan tâm, nhưng vẫn chỉ mới ở giai đoạn bàn thảo chứ chưa có những hành động cụ thể. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều ở tình trạng thiếu vốn sản xuất, thị trường bị thu hẹp, do vậy khó khăn trong việc tái cấu trúc phương hướng sản xuất của mình. Năm 2011, GDP bình quân đầu người của nước ta mới vào khoảng 1.300 USD, khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế hạn hẹp, do đó việc tái cấu trúc nền kinh tế cũng sẽ gặp trở ngại lớn do thiếu vốn đầu tư.
c. Năng lực cạnh tranh quốc gia hiện đang ở mức thấp và mấy năm trở lại đây có xu hướng giảm
Biểu 1: Xếp hạng cạnh tranh thời kỳ 2007 - 2010
|
Quốc gia |
2007 |
2008 |
2009 |
2010 |
|
Việt Nam |
68/131* |
70/134 |
75/133 |
59/139 |
|
In-đô-nê-xi-a |
54 |
55 |
54 |
44 |
|
Ma-lai-xi-a |
21 |
21 |
24 |
26 |
|
Phi-lip-pin |
71 |
71 |
87 |
85 |
|
Xin-ga-po |
7 |
5 |
3 |
4 |
|
Thái Lan |
28 |
34 |
36 |
38 |
|
Trung Quốc |
34 |
30 |
29 |
27 |
Nguồn: WEF, Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 - 2011
* Thứ hạng trên số nước được xếp hạng
d. Năng lực quản trị quốc gia đang ở mức thấp
Vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến năng suất chất lượng của nền kinh tế nói chung và năng suất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng.
Đến nay, Việt Nam chưa có chiến lược tái cấu trúc nền kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng. Hệ thống pháp luật đã được ban hành khá nhiều với tốc độ tương đối nhanh, nhưng bộc lộ nhiều bất cập, chưa thực sự có lợi cho phát triển nhanh và bền vững, gây những yếu tố bất lợi cho việc cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh doanh nghiệp.
đ. Chất lượng nguồn nhân lực của nước ta còn thấp
Chất lượng nguồn nhân lực thấp được biểu hiện rõ nhất là trình độ chuyên môn, kỹ năng ngành nghề, khả năng sử dụng vi tính hạn chế, khả năng ngoại ngữ chưa cao...
Biểu 2: Chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam
|
Năm |
Việt Nam |
Đông Nam Á và châu Á |
Thế giới |
|
2011 |
0,593 |
0,671 |
0,682 |
|
2010 |
0,590 |
0,666 |
0,679 |
|
2009 |
0,584 |
0,658 |
0,676 |
|
2008 |
0,580 |
0,651 |
0,674 |
|
2007 |
0,575 |
0,642 |
0,670 |
|
2006 |
0,568 |
0,631 |
0,664 |
|
2005 |
0,561 |
0,622 |
0,660 |
|
2000 |
0,528 |
0,581 |
0,634 |
Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP
Việt Nam trong bảng xếp hạng nguồn nhân lực của Ngân hàng Thế giới (World Bank) đang đứng ở mức thấp. Lấy thang điểm 10 thì Việt Nam đạt 3,79 xếp thứ 11/12 các nước châu Á tham gia xếp hạng, trong khi đó, Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia: 5,59 và Thái Lan: 4,94.
Hệ số tương quan giữa các bậc đào tạo năm 2010 ở nước ta chưa hợp lý: đại học: 1; trung cấp chuyên nghiệp: 0,49 và đào tạo nghề: 0,52.
e. Kết cấu hạ tầng yếu kém cùng một số nguyên nhân khiến cho chi phí đầu vào ở mức cao so với các nước trong khu vực
Tình trạng hệ thống giao thông kém chất lượng, tắc nghẽn giao thông xảy ra phổ biến, đặc biệt ở các vùng kinh tế trọng điểm nơi tập trung dân cư, nhiều cơ sở sản xuất. Việt Nam chưa có cảng biển quốc tế, hệ thống cảng biển kém chất lượng, khả năng bốc xếp hàng hóa kém, quản lý cảng không hiệu quả, mất nhiều thời gian lưu trú và làm tăng chi phí đầu vào. Mạng lưới sản xuất và cung cấp điện chưa đáp ứng yêu cầu phát triển hiện tại. Hằng năm, số thời gian cắt điện tương đối nhiều đã gây khó khăn lớn cho việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2- Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
Một là, xây dựng đội ngũ doanh nghiệp lớn mạnh và hoạt động có hiệu quả
Tái cấu trúc doanh nghiệp nước ta là một vấn đề lớn mà Nhà nước, doanh nghiệp là hai chủ thể có trách nhiệm quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Tái cấu trúc doanh nghiệp cũng chính là hướng tới mục tiêu hình thành được đội ngũ doanh nghiệp lớn mạnh, làm ăn có hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế cũng như khả năng cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước. Việc hình thành đội ngũ doanh nghiệp của nước ta đi theo hướng phát huy lợi thế so sánh của đất nước, trên cơ sở tính toán tới yêu cầu rút ngắn chu kỳ sống của các sản phẩm trong tương lai cũng như tính tới khả năng của thị trường trong nước và quốc tế, khả năng đáp ứng nhân lực của nước nhà. Đồng thời, Nhà nước chủ trì cùng với các doanh nghiệp hình thành các hiệp hội doanh nghiệp nhằm bảo vệ lợi ích doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh gặp phải những rủi ro, bất trắc.
Hai là, hình thành những doanh nghiệp toàn cầu đủ sức lôi kéo sự phát triển của nền kinh tế, làm hạt nhân hội nhập kinh tế quốc tế thành công, trở thành nòng cốt trong cạnh tranh quốc tế. Những doanh nghiệp toàn cầu này là những doanh nghiệp lớn, có tiềm năng kinh tế, tài chính, khoa học - công nghệ, có khả năng lan tỏa, liên kết trên phạm vi quốc tế. Mô hình doanh nghiệp này có thể tập trung ưu tiên đối với một số lĩnh vực, như:
+ Khai thác, chế biến dầu, khí và sản xuất gas.
+ Công nghiệp điện tử và sản xuất phần mềm.
+ Kinh tế hàng hải và logistic.
+ Cơ khí chế tạo máy móc thiết bị phục vụ vận tải, sản xuất xi-măng, sản xuất điện, chế biến nông - lâm - thủy sản…
+ Sản xuất xi-măng và vật liệu mới.
+ Sản xuất lúa gạo và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao.
+ Nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy hải sản.
+ Du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí.
Ba là, hình thành đội ngũ doanh nghiệp trên cơ sở phát triển các cụm công nghiệp đa ngành (cluster) theo cả chiều dọc (liên ngành) và chiều ngang (các vùng lãnh thổ hội tụ các điều kiện thuận lợi) theo các hướng chủ đạo đối với sản phẩm điện tử, sản phẩm cơ khí chế tạo, xi-măng, vật liệu mới, kinh tế hàng hải và logistic, lúa gạo, du lịch,…
Bốn là, phát triển kết cấu hạ tầng và giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh quốc tế. Có thể nhấn mạnh một số điểm sau:
- Nhanh chóng phát triển mạng lưới đường cao tốc trên phạm vi mỗi vùng và gắn kết các vùng trong cả nước với nhau.
- Hoàn thiện các tuyến, nhánh nối với đường cao tốc và đặc biệt là nối kết với các cảng biển và sân bay.
- Hình thành những tập đoàn vận tải đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển của quốc gia.
- Xây dựng các cơ sở sản xuất điện và cải tạo mạng truyền tải điện đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân.
- Hoàn thiện mạng lưới thông tin liên lạc và hệ thống thông tin kinh tế để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp.
Năm là, phát triển nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.
Nhanh chóng đào tạo nhân lực quản lý cho các doanh nghiệp đạt chuẩn quốc tế đủ khả năng lãnh đạo, điều hành, phát triển doanh nghiệp có hiệu quả. Hiện nay, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có hơn 500.000 doanh nghiệp và vào năm 2020, dự báo sẽ có khoảng 1 triệu - 1,2 triệu doanh nghiệp. Vì thế, nếu chỉ tính mỗi doanh nghiệp có 3 lao động quản lý, thì nước ta ít nhất cũng cần 1,5 triệu - 2 triệu lao động quản lý. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, từ năm 1959 đến năm 1972, Chính phủ nước này đã trích ngân sách quốc gia cho công tác hỗ trợ đào tạo đội ngũ nhân lực quản lý doanh nghiệp. Đây cũng là một kinh nghiệm có thể tham khảo và học tập.
Đào tạo lao động có kỹ năng nghề đủ mức đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ rất lớn mà muốn hoàn thành thì phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Nếu chỉ tính trung bình mỗi doanh nghiệp khoảng 100 người, thì từ nay đến năm 2020 cần đào tạo nghề cho 5 triệu - 7 triệu người. Vậy muốn đạt được con số này cần sự hỗ trợ của Nhà nước, sự cố gắng của doanh nghiệp và tự giác đào tạo của người dân, đồng thời hình thành các trung tâm đào tạo nghề trên cơ sở phối hợp các doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp với người dân.
Vào năm 2020 nước ta có khoảng 60 triệu người trong độ tuổi lao động, làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Số lao động làm việc trong khu vực dịch vụ chiếm khoảng 20% -25% trong tổng số lao động, có nghĩa nước ta có khoảng 12 triệu - 15 triệu lao động trong khu vực này. Nếu chỉ tính 20% số này cần đào tạo nghề, thì đã có tới khoảng 2 triệu - 3 triệu lao động.
Lao động làm việc trong nông nghiệp theo dự báo, vào năm 2020 nước ta có khoảng 35% tổng lao động xã hội, tức là khoảng 20 triệu lao động. Số này cũng cần được đào tạo nghề phục vụ cho việc hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Sáu là, nâng cao trình độ quản trị quốc gia, trong đó trước hết là xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể là: Xây dựng và ban hành chiến lược phát triển doanh nghiệp của đất nước đến năm 2020; hoàn thiện chính sách tài chính và tín dụng cho doanh nghiệp; khuyến khích xuất khẩu và khuyến khích sản xuất sản phẩm mới; chính sách hỗ trợ, đổi mới phát triển công nghệ cho các doanh nghiệp; chính sách hỗ trợ thông tin cho các doanh nghiệp; hình thành một số viện khoa học công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp và liên kết với doanh nghiệp để phát triển sản xuất, kinh doanh mà trước hết là Viện Công nghệ công nghiệp, Viện Công nghệ sinh học, Viện Công nghệ thông tin, đồng thời, có chính sách thiết thực để gắn kết giữa các trường đại học với các doanh nghiệp nhằm đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh lớn. Nhà nước hình thành mạng lưới đánh giá chất lượng doanh nghiệp thống nhất trên phạm vi quốc gia./.
Tiền Giang chủ động bảo đảm an ninh lương thực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa  (05/04/2012)
Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị: Phát triển Trường cán bộ Đội Lê Duẩn theo hướng tinh gọn  (04/04/2012)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao quyết định bổ nhiệm Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao  (04/04/2012)
Nghệ An, Bà Rịa-Vũng Tàu quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI)  (04/04/2012)
Xây dựng Đề án tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức  (04/04/2012)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm