Nhận thức về quan điểm cục diện thế giới đa cực trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI

Lê Thế Mẫu Đại tá, Nguyên chuyên gia nghiên cứu của Viện Chiến lược quân sự-Bộ Quốc phòng
23:50, ngày 28-05-2011

TCCSĐT - Nhận định về tình hình thế giới trong những năm tới với nhiều sự kiện lớn có tác động thay đổi cục diện chính trị quốc tế trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI, Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XXI đã nhận định khái quát những đặc điểm và xu thế lớn của thế giới tác động đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong những năm tới, trong đó có đặc điểm “cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn”(1). Đây là nhận định rất cơ bản và khoa học, phản ánh đúng những xu thế lớn trong sự phát triển của thế giới không chỉ trong 5 năm mà còn trong cả thập kỷ tới.

Sau “chiến tranh lạnh”, Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới hai cực tan rã, trên thế giới chỉ còn lại một cực là Mỹ. Đây là cơ hội để Oa-sinh-tơn thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Nhưng Mỹ đã không tận dụng được “cơ hội vàng” đó, đi tới chỗ ảo tưởng, phiêu lưu và phạm nhiều sai lầm, trong đó sai lầm lớn nhất là đơn phương phát động ba cuộc chiến tranh xâm lược (chiến tranh Cô-xô-vô năm 1999, chiến tranh Áp-ga-ni-xtan năm 2001 và chiến tranh I-rắc năm 2003), tự mình làm suy giảm ưu thế và sức mạnh toàn diện, làm cho trật tự thế giới đơn cực mà Mỹ rắp tâm xây dựng và đóng vai trò “lãnh đạo” chỉ còn lại là “một khoảnh khắc đơn cực” trong lịch sử.

Trật tự thế giới đơn cực sau “chiến tranh lạnh” không còn lý do để tồn tại

Trật tự thế giới đơn cực do Mỹ “lãnh đạo” đã không còn lý do để tồn tại bởi sự suy giảm sức mạnh toàn diện của Mỹ.

Vị thế kinh tế Mỹ suy giảm: Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế, vào năm 2000, GDP của Mỹ chiếm 32% GDP của thế giới. Đến cuối thập kỷ đầu thế kỷ XXI, tiềm lực kinh tế suy giảm và GDP của Mỹ chỉ còn chiếm 24% GDP của thế giới. Bước vào thập kỷ đầu thế kỷ XXI, ngân sách của Mỹ không bị thâm hụt, thậm chí còn dư thừa. Đến cuối thập kỷ, thâm hụt ngân sách của Mỹ chiếm 10 % GDP, năm 2010 lên tới gần 1.500 tỉ USD. Nhà nước Mỹ trở thành con nợ lớn nhất thế giới với số nợ gần 12.700 tỉ USD. Mỹ đã từng một thời sản xuất ra 96% hàng hoá tiêu dùng, đến năm 2010, Mỹ hoàn toàn phụ thuộc vào các nước xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ.

Vị thế chính trị Mỹ suy giảm: Nhiều chuyên gia phân tích ở Mỹ cho rằng, do cách tiếp cận sai lầm của Mỹ đối với thế giới đã làm tiêu tan sức mạnh vượt trội toàn diện của nước Mỹ, trong đó, có sức mạnh chính trị. Hình ảnh của nước Mỹ bị lu mờ trong các chiến dịch quân sự tàn sát dân thường, những vụ việc đầy tai tiếng liên quan tới việc đối xử với tù binh chiến tranh và các nghi can khủng bố. Nếu nói chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, thì việc Mỹ là thủ phạm chính gây nên cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế và lây lan sang các nước khác đã làm giảm đáng kể vị thế chính trị của Mỹ. Tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Luân Đôn tháng 4-2009, Tổng thống Mỹ Ba-răc Ô-ba-ma đã phải tuyên bố, “sự đồng thuận Oa-sinh-tơn” không còn nữa và gần đây, thế giới bắt đầu nói tới một sự đồng thuận khác, gọi là “sự đồng thuận Bắc Kinh”.

Sức mạnh quân sự Mỹ suy giảm: “Cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” do Mỹ phát động sau vụ tiến công nhằm vào nước Mỹ ngày 11-9-2001 là hành động quan trọng nhất, mở đầu các quyết định quân sự phiêu lưu của Mỹ trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI nhằm chứng tỏ cho toàn thế giới biết Mỹ có khả năng dễ dàng và nhanh chóng đánh bại bất kỳ quốc gia nào "không chơi theo luật chơi của Mỹ". Tuy nhiên, thất bại và bị sa lầy trong hai cuộc chiến tranh ở I-răc và Ap-ga-ni-xtan chứng tỏ sức mạnh quân sự của Mỹ tuy vượt trội so với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhưng hoàn toàn không thích hợp trong việc đối phó với các thách thức an ninh trong thế kỷ XXI. Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, “cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” do Tổng thống G.W.Bu-sơ phát động đã giáng một đòn mạnh vào uy tín của nước Mỹ, trong đó chiến dịch quân sự do Mỹ phát động ở I-răc, Ap-ga-ni-xtan đã làm tiêu tan uy thế của nước Mỹ. Cuộc chiến tranh kéo dài 5 ngày đầu tháng 8-2008 do Gru-di-a được Mỹ và NATO hậu thuẫn bị thất bại hoàn toàn, đã đặt dấu chấm hết cho “trật tự thế giới đơn cực” do Mỹ “lãnh đạo”.

Sau khi lên cầm quyền ở Nhà Trắng, Tổng thống Ba-răc Ô-ba-ma đã phải điều chỉnh một số nội dung Chiến lược An ninh quốc gia của Mỹ. Nếu các chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ trước đây chủ yếu tập trung vào mục tiêu xây dựng trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo, thì Chiến lược An ninh quốc gia công bố năm 2010 có một luận điểm hoàn toàn mới là công nhận trật tự thế giới đa cực. Chiến lược mới khẳng định: Mỹ sẵn sàng chấp nhận nguyên tắc trật tự thế giới đa cực và quan hệ đa phương. Tổng thống Mỹ Ba-răc Ô-ba-ma chủ trương xây dựng “trật tự thế giới đa đối tác”, “hoặc trật tự thế giới mạng”.

Những xu hướng cơ bản hướng tới cục diện thế giới đa cực

Trật tự thế giới mới hướng tới cục diện đa cực chịu tác động của nhiều xu hướng và lực lượng đóng vai  trò then chốt. Đó là: 

- Xu hướng hình thành trật tự kinh tế thế giới mới. Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế bùng phát năm 2008 ở Mỹ và lan toả khắp toàn cầu là dấu mốc quan trọng chứng tỏ trật tự kinh tế thế giới mới đang hình thành trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI, trong đó, diễn ra sự phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng ngày càng lớn của các nền kinh tế mới nổi, thách thức nghiêm trọng vị thế kinh tế dẫn đầu của Mỹ. Trong điều kiện đó, diễn đàn các nước phát triển cùng với Nga (G-8) trở nên lỗi thời và đã phải nhường chỗ cho diễn đàn G-20 bao gồm các nước có nền kinh tế phát triển và các nước có nền kinh tế mới nổi. Rõ ràng, trên thế giới đang hình thành trật tự kinh tế hướng tới đa cực.

- Xu hướng hình thành bốn vùng địa kinh tế. Xu hướng phân hoá địa kinh tế trên thế giới là sự phản ứng đối với quá trình nhất thể hóa hệ thống kinh tế thị trường. Sự phát triển tự nhiên của các hình thái xã hội, lịch sử và quốc gia thể hiện trong thời đại tự do hóa kinh tế trên quy mô toàn cầu thông qua việc hình thành các vùng không gian kinh tế, xét về cơ cấu kinh tế là giống nhau nhưng lại mâu thuẫn nhau về lợi ích. Các quy luật địa chính trị cũng là yếu tố tác động tới địa kinh tế, từ đó hình thành bốn vùng địa kinh tế chủ yếu là Mỹ, châu Âu, châu Á - Thái Bình Dương và Á - Âu. Trong khuôn khổ thị trường thế giới, lợi ích kinh tế chiến lược của bốn vùng đó chứa đựng các yếu tố vừa hợp tác, vừa cạnh tranh.

- Xu hướng phân chia lao động trên quy mô quốc tế. Sự phân chia lao động trên quy mô quốc tế ngày càng có xu hướng theo các vùng địa kinh tế. Các nước phương Bắc phát triển có xu hướng thoát khỏi các lĩnh vực sản xuất công nghiệp tiêu tốn năng lượng và nguy hiểm về mặt sinh thái, ưu tiên phát triển các công nghệ cao mới. Nền sản xuất thực tế đang chuyển sang các nước châu Á - Thái Bình Dương hiện đang dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Những khu vực kém năng động hơn sẽ nằm ở ngoại vi của bốn vùng địa kinh tế và chủ yếu là những khu vực cung cấp tài nguyên thiên nhiên và là nơi phát triển những công nghệ có nhiều chất thải môi trường. Những khu vực ngoại vi này về sau cũng sẽ trở thành những khu vực công nghiệp.

- Xu hướng cạnh tranh quyết liệt giữa các nước công nghiệp phát triển nhằm giành các nguồn tài nguyên năng lượng. Các khu vực giàu tài nguyên chiến lược thông thường lại nằm ở những nước đang phát triển trên lục địa Á - Âu, châu Phi và Trung Đông. Còn những nước phát triển cao lại khan hiếm tài nguyên. Việc tranh giành quyền kiểm soát tài nguyên thiên nhiên trên quy mô toàn cầu phục vụ lợi ích cho các nước công nghiệp phát triển là một trong những xu hướng chủ yếu trong trật tự thế giới hướng tới đa cực. 

- Xu hướng dịch chuyển dần quyền lực và của cải từ các nước thiếu năng lượng sang các nước thừa năng lượng. Trên thế giới có khoảng 10 nước có đủ dầu, khí, than hoặc u-ra-ni để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu một phần đáng kể ra thế giới. Những nước này có thể khai thác các lợi thế của họ để thu hút ngày càng nhiều quỹ từ các nước đói năng lượng. Riêng về dầu khí, khoảng 10 nước nhiều dầu mỏ sở hữu tới 82,2% trữ lượng đã chứng minh của thế giới. Còn khí đốt tập trung chủ yếu ở 3 nước là Nga, I-ran và Ca-ta, chiếm tổng cộng 55,8% nguồn cung của thế giới.

- Xu hướng gia tăng ngày càng mạnh mẽ của công nghệ truyền thông. Truyền thông đang phát triển nhanh và trở thành một vũ khí chủ yếu của tương lai. Trong xã hội hậu công nghiệp, truyền thông đang trở thành một yếu tố độc lập, có ý nghĩa chiến lược và có vị thế trung tâm, từ hạ tầng cơ sở xã hội phụ thuộc, hệ thống truyền thông trở thành một công cụ sức mạnh có tính xuyên suốt với quyền lực ngày càng tăng. Trong xã hội hậu công nghiệp thông tin không chỉ là một thứ hàng hóa chủ yếu mà còn là một thứ vũ khí chủ yếu.

- Xu hướng cạnh tranh và xung đột giữa các mô hình phát triển. Thập kỷ đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự mở đầu của kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của loài người, gọi là kỷ nguyên cạnh tranh và hợp tác giữa hai mô hình phát triển có tính chủ đạo là mô hình chủ nghĩa tư bản thời đại toàn cầu hoá và mô hình chủ nghĩa xã hội.

- Xu hướng cạnh tranh và xung đột về địa chính trị. Trên bản đồ thế giới, có thể dễ dàng nhận thấy các khu vực, nơi đang diễn ra cạnh tranh và xung đột địa chính trị giữa các nước lớn, ngày một nhiều thêm và không ngừng mở rộng về phạm vi và gia tăng mức độ căng thẳng. Đó là các khu vực Trung Đông (tâm điểm là I-răc và I-ran), Trung Á (tâm điểm là Ap-ga-ni-xtan và các nước cộng hòa Xô-viết trước đây), Ban Căng (tâm điểm là Cô-xô-vô, biển Ca-xpi (tâm điểm là Gru-di-a), Bắc Cực, châu Phi, Đông Bắc Á, Đông Nam Á v.v.. Trong đó, "nóng" nhất vẫn là các khu vực Trung Đông, Ban Căng, Trung Á, biển Ca-xpi, châu Phi và Bắc Cực.

- Xu hướng hình thành các thách thức vượt ra khỏi khả năng hoá giải của từng quốc gia. Tại Kỳ họp lần thứ 64 Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) và Kỳ họp đặc biệt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc năm 2009 bàn về những vấn đề toàn cầu liên quan tới tất cả các quốc gia, dân tộc trên hành tinh và chứng tỏ, đã tới lúc thế giới cần liên kết lại để đưa ra các giải pháp toàn nhân loại nhằm hoá giải các thách thức toàn cầu như cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu; cuộc khủng hoảng lương thực, nạn nghèo đói ập xuống đầu hàng tỉ người trên hành tinh; tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt nhanh chóng; hiện tượng ấm lên toàn cầu đến mức báo động; cuộc chạy đua và phổ biến vũ khí hạt nhân chưa có dấu hiệu dừng lại; chủ nghĩa khủng bố đang đe dọa sinh mạng con người trên khắp hành tinh; tội phạm xuyên quốc gia; xung đột và chiến tranh vẫn tiềm ẩn trong quan hệ giữa các nước. Chưa bao giờ thế giới phải đối mặt với những thách thức toàn cầu lớn, nghiêm trọng, sát sườn, đối với tất cả các quốc gia như trong thời điểm hiện nay. Để hoá giải những thách thức đó, không một quốc gia nào, dù mạnh và giàu đến đâu, cũng không thể đủ sức đơn phương thực hiện được.

- Xu hướng hình thành “trật tự thế giới hạt nhân”. Đây là một trật tự thế giới hoàn toàn mới, rất phức tạp, được "lồng ghép" trong bối cảnh chung của cuộc đấu tranh vì một trật tự thế giới mới đa cực. Quá trình này đưa thế giới từ mô hình trật tự thế giới hạt nhân hình chóp với đỉnh cao là Mỹ và Nga là hai quốc gia có tiềm năng vũ khí hạt nhân lớn nhất, sang mô hình trật tự thế giới hạt nhân đa cực, trong đó nhiều quốc gia hạt nhân phụ thuộc nhau theo từng cặp phân cực như cặp Nga - Mỹ, cặp Ấn Độ-Pa-ki-xtan, cặp Trung Quốc - Ấn Độ, cặp Trung Quốc - Mỹ, cặp Trung Quốc - Nga, cặp Nga - Pa-ki-xtan, cặp I-xra-en - Pa-ki-xtan v.v.. Số lượng các cặp phân cực cũng như mức độ phân cực của các cặp có thể thay đổi theo thời gian và theo mối quan hệ giữa các quốc gia trong trật tự thế giới đa cực. Ngoài ra, các quốc gia trong các cặp hạt nhân phân cực còn có liên quan tới nhiều quốc gia khác chưa sở hữu vũ khí hạt nhân.

- Xu hướng hình thành các cơ chế giải quyết các vấn đề có quy mô toàn cầu. Để giải quyết các vấn đề có quy mô toàn cầu, cần tăng cường hiệu lực và hiệu quả các cơ chế toàn cầu đã có và thiết lập các cơ chế mới. Đó là:

Diễn đàn kinh tế toàn cầu: Diễn đàn Nhóm các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế mới nổi G20 được đánh giá là một nỗ lực quan trọng mang tính toàn cầu nhằm đưa thế giới thoát khỏi khủng hoảng hiện nay và sẽ trở thành diễn đàn kinh tế hàng đầu thế giới và là trung tâm điều phối các nỗ lực quốc tế nhằm tạo ra sự phục hồi bền vững.

Cơ chế giải trừ vũ khí hạt nhân: Hội nghị cấp cao lịch sử về giải trừ vũ khí hạt nhân năm 2009 dưới sự chủ trì của Tổng thống Mỹ Ba-răc Ô-ba-ma nhất trí thông qua Nghị quyết do Mỹ soạn thảo với tiêu đề "Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, không phổ biến và giải trừ vũ khí hạt nhân", thể hiện cam kết của 15 nước thành viên Hội đồng Bảo an (HĐBA) trong việc hướng tới xây dựng một thế giới không vũ khí hạt nhân và một khung hành động nhằm giảm mối đe dọa của hạt nhân.

Cơ chế Liên hợp quốc: Đã đến lúc phải cải tổ LHQ, trước mắt là cải tổ HĐBA LHQ. Đây là một trong những chủ đề cấp bách nhất hiện nay của cộng đồng quốc tế.

Cơ chế đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu: Ngày 22-9-2009, Hội nghị cấp cao về biến đổi khí hậu khai mạc tại trụ sở LHQ dưới sự chủ trì của Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-mun. Lãnh đạo 100 nước trên thế giới đã tham dự Hội nghị. Dù còn chưa đưa ra được các cam kết cụ thể, nhưng Hội nghị cấp cao về biến đổi khí hậu của LHQ lần này đã tạo ra xung lực mới để tập hợp nỗ lực của toàn thế giới nhằm xây dựng “ngôi nhà an toàn sinh thái” chung cho tất cả các quốc gia, dân tộc.

- Xu hướng hình thành các cực hướng tới cục diện thế giới đa cực. Trong khi vị thế đơn cực của Mỹ suy giảm, trên thế giới nổi lên các quốc gia mới là ứng cử viên sáng giá trong trật tự thế giới đa cực như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, EU, Nhật Bản.

Nga đã thực sự phục hồi vị thế một cường quốc kinh tế, chính trị và quân sự sau 2 nhiệm kỳ cầm quyền của Tổng thống V.Pu-tin. Xét theo các tiêu chí tốc độ phát triển kinh tế, tình hình chính trị trong nước ổn định, các thành tựu trong lĩnh vực khoa học, thì Nga đứng thứ 6 trong danh sách 10 cường quốc hàng đầu thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, EU. Dự báo, đến năm 2020, Nga sẽ vươn lên đứng thứ 5. Nga còn là quốc gia đóng vai trò đáng kể nhất trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực và quốc tế.

Trung Quốc là cường quốc đang trỗi dậy điển hình trong các nước lớn hiện nay. Qua hơn 20 năm thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội Trung Quốc đạt trung bình 9,3%/năm, gấp 3 lần tỷ lệ tăng trưởng của thế giới trong cùng giai đoạn. Năm 2010, Trung Quốc là nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Đến nay, Trung Quốc đã trải qua giai đoạn “im lặng chờ thời” chuyển sang giai đoạn phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh với Mỹ trên phạm vi khu vực và toàn cầu.

Ấn Độ cũng là ứng cử viên hướng tới cục diện đa cực. Với vị thế về địa chính trị, sức mạnh kinh tế và quân sự, Ấn Độ đang hướng tới vị thế có ảnh hưởng khu vực và toàn cầu, trong đó có ghế thường trực trong HĐBA LHQ cùng với 4 ứng viên khác đang mong muốn vị trí này là Đức, Nhật và Bra-xin để có tiếng nói lớn hơn trong các vấn đề quốc tế và trở thành một thành tố quan trọng trong ngoại giao quốc tế.

Nhật Bản là một trong những quốc gia có ảnh hưởng toàn diện ngày càng lớn trên thế giới với nỗ lực xây dựng “một nước Nhật quyết đoán hơn trong các công việc quốc tế. Nhật Bản không chỉ là cường quốc kinh tế mà sẽ trở thành cường quốc quân sự, với ngân sách quân sự được xếp vào danh sách 10 nước lớn bậc nhất thế giới, trên 40 tỉ USD/năm.

EU là một liên minh các cường quốc ấp ủ tham vọng toàn cầu. Khát vọng hòa bình và thịnh vượng chung ở châu Âu cùng với khát vọng trở thành siêu cường thế giới là những động cơ chủ yếu thúc đẩy quá trình hợp nhất châu Âu trong những năm 1990. Tham vọng siêu cường của EU có thể coi là sự tiếp nối tham vọng toàn cầu của các cường quốc châu Âu, đặc biệt là Anh, Pháp và Đức. Một mình từng nước lớn châu Âu như Anh, Pháp, hay Đức khó lòng theo đuổi tham vọng toàn cầu trong thời đại hiện nay nhưng liên minh các nước châu Âu có thể trở thành một siêu cường thế giới. Tuy nhiên, các nỗ lực của châu Âu trong việc đóng vai trò một cường quốc toàn cầu qua các hoạt động liên quan đến chiến tranh và hòa bình ở nhiều khu vực trên thế giới chứng tỏ khả năng còn hạn chế của EU nhằm theo đuổi tham vọng toàn cầu.

- Xu hướng nổi lên của các quốc gia ngay tại khu vực “sân sau”của Mỹ. Chính sách bá quyền và can thiệp của Mỹ đã làm xuất hiện những nhà chính trị có đầu óc dân tộc đi theo đường lối độc lập, tự chủ ở Mỹ La-tinh. Ngay tại “sân sau” của Mỹ đã xuất hiện một tập hợp các quốc gia chống Mỹ, ủng hộ và liên kết với Nga và Trung Quốc bằng các hiệp định hợp tác năng lượng và quân sự. Cả Nga, Trung Quốc và các nước Mỹ La-tinh đều rất coi trọng sự liên kết chiến lược này, không nhằm tạo ra một khối đối đầu với Mỹ mà chỉ nhằm làm cho Mỹ thấy rằng, thế giới đơn cực của Mỹ đã chấm dứt và thay vào đó là một thế giới đa cực, trong đó các nước lớn, nhỏ cần tồn tại hòa bình để cùng phát triển trong thời đại toàn cầu hóa và cùng phụ thuộc lẫn nhau.

- Xu hướng hình thành các tổ chức khu vực và quốc tế định hướng tới cục diện thế giới đa cực. Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) ra đời trong hoàn cảnh sau khi Liên Xô tan rã nhằm bảo đảm an ninh tập thể, tăng cường hợp tác kinh tế, quân sự, xã hội và pháp luật, ngăn ngừa và kiểm soát xung đột.

Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) thành lập năm 2001 theo sáng kiến của Trung Quốc, bao gồm các nước Trung Quốc, Nga, Ca-dăc-xtan, Kiêc-gi-xtan, Môn-đô-va, Tat-gi-ki-xtan, Tuôc-mê-ni-xtan và U-dơ-bê-ki-xtan. Sự ra đời và phát triển của SCO là đòi hỏi tất yếu, ngăn chặn mưu toan tranh giành ảnh hưởng của Mỹ trên lục địa Á - Âu.

Tổ chức các nước thuộc Hiệp ước An ninh tập thể (CSTO): Là một tổ chức an ninh gồm các nước thành viên là Nga, Ac-mê-ni-a, Bê-la-rut, Ca-dăc-xtan, Kiêc-gi-xtan, Tat-gi-ki-xtan, Tuôc-mê-ni-xtan và U-dơ-bê-ki-xtan. Từ khi ra đời năm 1992, CSTO luôn duy trì vị thế là liên minh chính trị và quân sự quan trọng trong không gian hậu Xô-viết.

Liên minh châu Phi: Gồm 53 nước thành viên các quốc gia châu Phi nhằm thúc đẩy hợp tác chính trị và kinh tế đa phương của các thành viên, củng cố đoàn kết các nước châu Phi trên các diễn đàn quốc tế, thống nhất đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia châu Phi, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, tạo điều kiện nâng cao đời sống của các dân tộc châu Phi.

Cộng đồng các nước Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê: Là một liên minh mới tại khu vực châu Mỹ, không bao gồm Mỹ và Ca-na-đa, mang bản sắc riêng, đề cao nguyên tắc tôn trọng dân chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các nước thành viên, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực, bảo vệ môi trường, nhân quyền và luật pháp quốc tế, kiến tạo hòa bình và an ninh khu vực.

Liên minh Bô-li-va cho nhân dân châu Mỹ ALBA (Bolivarian Alliance for the Peoples of Our America): Là tổ chức kinh tế - chính trị được thành lập từ năm 2004, gồm 5 thành viên chính Vê-nê-du-ê-la, Cu-ba, Bô-li-vi-a, Ni-ca-ra-goa và Đô-mi-ni-ca, là cơ chế hội nhập trên tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước Mỹ La-tinh, như một sự lựa chọn thay thế Khu vực Thương mại tự do châu Mỹ FTAA (Free Trade Area of the Americas) do Mỹ đề xuất nhưng thất bại vì không nhận được sự ủng hộ của các nước tại châu lục này.

Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN): ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, và được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển. Các nước ASEAN đặt mục tiêu xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN (AEC) vào năm 2015, hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, vốn sẽ được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, giảm bớt đói nghèo và sự chênh lệch kinh tế-xã hội vào năm 2020. Nhiều đối tác thương mại lớn trên thế giới mong muốn hợp tác với ASEAN trong nhiều lĩnh vực.

Việt Nam chủ trương triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Trên cơ sở nhận định khoa học và khách quan, xuất phát từ tình hình thế giới đang hướng tới cục diện đa cực, Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định chủ trương của Việt Nam trong chính sách đối ngoại cho những năm tới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hoà bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(2)./.

 -------------------------------------------- 

(1), (2): Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tr 42, 94-95