TCCSĐT - Vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng con người, duy trì và phát triển nòi giống cũng như phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang được quan tâm cả trên phạm vi quốc gia và quốc tế.

Những thành tựu đạt được của pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật nhằm kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và trong hoạt động thương mại nói riêng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước bảo đảm an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại, góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm sức khỏe của nhân nhân. Cụ thể hệ thống pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nổi bật như sau:

- Hệ thống văn bản pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam tương đối toàn diện và phong phú, bao gồm các lĩnh vực, như: an toàn sức khoẻ cộng đồng; quy định về kiểm dịch động, thực vật; hệ thống quy định về kinh doanh xuất, nhập khẩu thực phẩm; các văn bản luật, pháp lệnh… và hàng loạt các văn bản dưới luật. Từ đó, tạo hành lang pháp lý cho công tác kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

 So với Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm được ban hành năm 2003, Luật An toàn thực phẩm ra đời đánh dấu sự đổi mới tư duy từ quản lý trực tiếp sản phẩm sang quản lý cả quá trình sản xuất ra sản phẩm.
- Những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đã được tiếp cận theo hướng mới, chuyển từ phương thức quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm (dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn công bố áp dụng); từ quản lý theo công đoạn sang quản lý theo quá trình, chuỗi cung cấp thực phẩm.

- Xây dựng được một hệ thống tiêu chuẩn về thực phẩm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thực phẩm, cũng như kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại.

- Về mặt hình thức pháp lý, hệ thống văn bản pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ngày càng được nâng cao về hiệu lực pháp lý. Trước đây, để kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại, các văn bản pháp luật được các cơ quan chức năng ban hành dưới hình thức như quyết định, thông tư, chỉ thị…, đến nay, Luật An toàn thực phẩm đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII, ngày 17-6-2010 và có hiệu lực từ ngày 01-7-2011, đánh dấu một bước phát triển của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và pháp luật kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại nói riêng. Bên cạnh đó, các phương thức quản lý đối với hàng hóa là thực phẩm còn được điều chỉnh theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Thủy sản, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh,...

- Về nội dung, các quy định kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ngày càng tiến bộ, bao quát và đầy đủ hơn, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới.

- Pháp luật về an toàn thực phẩm nói chung và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại nói riêng đã có bước tiến vượt bậc trong việc phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bộ, ngành về việc quản lý an toàn thực phẩm trên thị trường, tránh được sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các ngành.

- Pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm là tiền đề hình thành và kiện toàn cơ cấu tổ chức, bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương, tạo thuận lợi để phát huy hiệu lực và hiệu quả quản lý.

- Hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm cũng được quy định một cách rõ ràng, cụ thể hơn, góp phần nâng cao chất lượng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại thời gian gần đây.

Hạn chế, bất cập của pháp luật kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại Việt Nam và nguyên nhân

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại còn tồn tại một số hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn nữa.

Hạn chế, bất cập

- Hiện nay còn quá nhiều các quy định về quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại nói riêng gây khó khăn khi áp dụng trên thực tế.

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại chưa đồng bộ, còn thiếu và chồng chéo. Ví dụ, Nghị định 45/2005/NĐ-CP, ngày 06-4-2005 và Nghị định 06/2009/NĐ–CP, ngày 16-1-2008 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá mâu thuẫn về quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá (tại Khoản 2, Điều 16, Nghị định 45/2005 quy định mức phạt đối với hành vi vi phạm trong ghi nhãn thuốc lá từ 4 triệu - 6 triệu đồng, trong khi đó tại Khoản 2, Điều 13 Nghị định 06/2009 lại quy định mức phạt đối với hành vi này từ 10 triệu - 20 triệu đồng;...

- Tính khả thi, cũng như tính ổn định của các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa cao, cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng. Có những văn bản được các cơ quan chức năng ban hành chỉ trong một thời gian ngắn đã phải sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Do đó, đã gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh thực phẩm, cũng như công tác kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại của các cơ quan nhà nước.

- Hiện nay, hệ thống pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại đang thiếu những quy định chi tiết dẫn đến việc áp dụng của các chủ thể gặp không ít khó khăn.

- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm hiện còn thiếu rất nhiều, đặc biệt là đối với những thực phẩm truyền thống (các loại mắm, nem chua, tương...) và một số tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được ban hành trước đây nay cũng đã lạc hậu nhưng lại chưa được sửa đổi. Chính vì sự bất cập đó mà hiện nay nhiều doanh nghiệp thực phẩm vẫn ghi lên nhãn hàng hoá của mình các số liệu khác xa với thực tế sản xuất mà không có một chế tài kiểm soát nào.

Nguyên nhân của hạn chế, bất cập:

Những hạn chế, bất cập của pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại Việt Nam thời gian qua là do những nguyên nhân sau:

- Việc ban hành các văn bản dưới luật của các cơ quan quản lý còn chậm trễ, gây khó khăn cho công tác thực thi.

- Do văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại được ban hành theo nhiều hệ thống luật khác nhau như thương mại, kiểm dịch động, thực vật, vệ sinh thực phẩm, chất lượng hàng hoá, tiêu chuẩn, quy chuẩn thực phẩm, sở hữu công nghiệp... với số lượng văn bản rất lớn, trong khi nguồn lực để rà soát hệ thống pháp luật hiện hành còn hạn chế nên tính thống nhất trong một số quy định pháp luật còn chưa bảo đảm.

- Chưa có chiến lược quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm dài hạn nên vẫn còn tình trạng văn bản ban hành để giải quyết các vấn đề trước mắt, trong khi các vấn đề cơ bản của công tác quản lý lại chưa được đầu tư nghiên cứu sâu để có lộ trình giải quyết.

- Thực phẩm liên quan đến lĩnh vực quản lý của nhiều bộ, ngành, do vậy có tình trạng “cát cứ”, lĩnh vực của bộ nào thì bộ đó quản lý, ít quan tâm đến tính thống nhất, đồng bộ trong quản lý thực phẩm; sự hợp tác, phối hợp giữa các bộ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vấn đề “xung đột” lại né tránh, không quy định cụ thể nên việc thực hiện pháp luật gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, do lợi ích cục bộ nên một số quy định không bảo đảm tính khách quan.

- Nhận thức trách nhiệm về tầm quan trọng của công tác kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại của một số cấp lãnh đạo, cơ quan quản lý nhà nước còn chưa đầy đủ nên thiếu sự chỉ đạo kiên quyết và sát sao.

- Bộ máy cơ quan quản lý chuyên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa hoàn thiện; việc phân công trách nhiệm chồng chéo, bên cạnh đó, năng lực quản lý hạn chế, công tác kiểm soát chậm đổi mới; chậm triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại. Ngoài ra, việc xử phạt chưa kiên quyết, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa. Năng lực của cán bộ yếu, dẫn đến tình trạng thụ động áp dụng pháp luật mà ít có những đóng góp phản hồi nhằm hoàn thiện pháp luật.

- Kinh phí đầu tư cho hoạt động xây dựng pháp luật về an toàn thực phẩm nói chung và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại nói riêng còn thấp.

- Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa được chú trọng đúng mức nên có tình trạng cán bộ, công chức thực thi pháp luật nhưng không biết có văn bản mới để triển khai thực hiện.

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại Việt Nam

Thứ nhất, rà soát các quy định về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

- Trước hết, rà soát và bổ sung quy chế quản lý nhập khẩu hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, các phụ gia thực phẩm, các loại thực phẩm không bảo đảm vệ sinh, chống di nhập các loại sinh vật lạ lây lan mầm bệnh, làm biến đổi gen. Loại bỏ những điểm chồng chéo giữa các văn bản của các bộ, ngành khác nhau, những quy định không hoặc ít có tính khả thi.

- Rà soát lại các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống, thực phẩm tươi sống và chế biến, quy định về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu, các quy định về ghi nhãn chi tiết đối với thực phẩm bao gói sẵn để có những bổ sung, điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế và chuẩn quốc tế.

- Rà soát lại những quy định và tiêu chuẩn về chất lượng của hàng thực phẩm xuất khẩu để hoàn thiện theo hướng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp luật nhằm kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

- Sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm chồng chéo, mâu thuẫn, bãi bỏ những quy định không phù hợp và bổ sung những quy định còn thiếu nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại.

- Khẩn trương ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm còn thiếu nhằm tạo điều kiện để luật này sớm đi vào thực tiễn.

- Xây dựng và ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh, phương tiện vận chuyển, công nghệ bảo quản đối với từng nhóm thực phẩm có nguy cơ mất an toàn cao, như thịt, sữa, rau quả, thực phẩm ăn ngay, nước đóng chai...

- Xây dựng một cách đồng bộ các quy trình, quy phạm, kỹ thuật canh tác trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, quy trình công nghệ trong bảo quản, chế biến, phân phối, lưu thông... nhằm thực hiện phong trào thức ăn lành, rau lành, nước sạch...

- Sớm ban hành quy định về xuất, nhập khẩu các sản phẩm biến đổi gen và sinh vật biến đổi gen.

- Hợp lý hoá các văn bản luật, chính sách và quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm để nâng cao tính thực thi của chúng như ban hành các quy định chi tiết, xuất bản các sách hướng dẫn thi hành.

- Nghiên cứu xây dựng và ban hành các tiêu chí về văn minh thương mại trong kinh doanh thực phẩm. Trên cơ sở đó chỉ cấp giấy chứng nhận cho những cơ sở kinh doanh đủ điều kiện.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

- Xây dựng, ban hành các quy định về kế hoạch hành động vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật theo nguyên tắc tiếp cận hệ thống toàn bộ ở tất cả các khâu trong chu trình thực phẩm, từ đó phân nhóm hành động theo chức năng và trách nhiệm của từng cơ quan.

- Trên cơ sở tìm hiểu kinh nghiệm, mô hình quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của một số nước và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, nghiên cứu ban hành các quy định pháp luật để xây dựng mô hình quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam. Trong đó, ban hành các văn bản quy định việc xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch, tổ chức thực hiện, thanh tra, giám sát, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm về các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Tiếp tục ban hành các quy định pháp lý để làm căn cứ cho việc kiểm soát thực phẩm trong hoạt động thương mại của các hiệp hội ngành hàng, khu vực tư nhân với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội khác.

Thứ tư, tăng cường nguồn lực cho hoạt động xây dựng pháp luật kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại

- Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác, rà soát, xây dựng, ban hành văn bản pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Bảo đảm cấp đủ ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu, xây dựng pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế

- Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế tại các cửa khẩu để ngăn chặn sự xâm nhập của dịch bệnh và dịch hại. Để làm được điều này cần thiết phải có các hàng rào tự nhiên và chương trình kiểm dịch đủ mạnh. Bước tiếp theo là từng bước hài hòa tiêu chuẩn về OIE và IPPC, tiến tới ký hiệp định về kiểm dịch động thực vật với các nước có chung đường biên giới. Đặc biệt chú trọng công tác kiểm dịch với các nước có chung hệ sinh thái.

- Tranh thủ sự trợ giúp quốc tế để xây dựng khung khổ luật pháp, hỗ trợ kỹ thuật, phối hợp quốc tế phòng trừ bệnh dịch, trước mắt là dịch cúm gia cầm. Tăng cường trao đổi thông tin, đào tạo cán bộ dưới mọi hình thức (hội thảo, tập huấn ngắn hạn, dài hạn ...) và xây dựng những chương trình nghiên cứu triển khai mà các bên đều quan tâm, trước hết là đối với các hợp tác xã, các xí nghiệp vừa và nhỏ.

- Đẩy mạnh việc ký kết các điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương, đa phương trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm công nhận, thừa nhận lẫn nhau về kết quả chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn.

Thứ sáu, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với khu vực và thế giới

- Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn về vệ sinh và an toàn thực phấp theo chuẩn quốc tế và đặc thù của Việt Nam. Mục đích cuối cùng là áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế vào thị trường trong nước.

- Nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về kiểm dịch động, thực vật. Nâng cao năng lực quốc gia về ngăn ngừa các nguy cơ dịch bệnh ở thực vật và động vật là biện pháp tốt nhất để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế hàng nông, thuỷ sản, nâng cao hình ảnh quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho hội nhập và bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân khỏi các đại dịch bệnh.

- Xây dựng các tiêu chuẩn, quy định có thể cạnh tranh được với các tiêu chuẩn quy định quốc tế nhưng phù hợp với điều kiện trong nước.

- Có sự phối hợp giữa các cơ quan soạn thảo và các doanh nghiệp, tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong việc xây dựng tiêu chuẩn và các quy định quản lý để từ đó doanh nghiệp thực hiện một cách có hiệu quả, tự nguyện và việc xây dựng tiêu chuẩn dựa trên những chứng cứ khoa học.

- Tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật và chuyên gia của các tổ chức tiêu chuẩn, môi trường quốc tế đồng thời tăng cường công tác đào tạo đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia. /.