Để tối ưu hóa dòng chảy thương mại và đầu tư cho tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
TCCS - Với vị trí cửa ngõ vùng Đông Bắc và điểm tiếp giáp quan trọng với Trung Quốc, tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội bứt phá về thương mại và đầu tư khi hệ thống kết cấu hạ tầng then chốt từng bước hoàn thiện, môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện. Để tối ưu hóa dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư trong bối cảnh chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và cạnh tranh chuỗi cung ứng, cần một gói giải pháp tổng thể, đồng bộ giữa thể chế, hạ tầng - logistics, quản trị số xuyên biên giới và chất lượng dịch vụ công.
Bối cảnh và yêu cầu đặt ra
Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đã tạo bước tiến rõ rệt về kết nối vùng. Trục cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái đi vào vận hành hoàn chỉnh, trong đó đoạn Vân Đồn - Móng Cái dài khoảng 80,2km theo phương thức đối tác công tư (PPP)/phương thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) cho phép tốc độ khai thác tối đa 120km/h, rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội tới Móng Cái còn xấp xỉ 3 giờ, tạo hành lang vận tải hiệu quả cho hàng hóa - hành khách và tăng tính kết nối với cửa khẩu quốc tế Móng Cái.
Cùng với đó, quy hoạch cảng biển Quảng Ninh đến năm 2030 định hướng phát triển 27-30 bến cảng, tổng chiều dài cầu bến khoảng 12,3-13,6km, nhu cầu vốn nâng cấp - đầu tư hơn 34.500 tỷ đồng; định hướng các khu bến (Cái Lân, Cẩm Phả, Yên Hưng, Hải Hà…) đóng vai trò “cửa mở” cho dòng hàng vùng Đông Bắc.
Ở biên giới đất liền, hoạt động xuất, nhập khẩu qua cửa khẩu Móng Cái duy trì đà phục hồi mạnh: chỉ riêng trong 2 tháng đầu năm 2025, kim ngạch đạt hơn 624 triệu USD, tăng 58% so với cùng kỳ; tháng 1-2025 đạt 234,7 triệu USD, tăng 53%. Những con số này cho thấy độ mở thương mại ngày càng lớn và nhu cầu nâng chất dịch vụ cửa khẩu, logistics là cấp bách.
Bên cạnh hạ tầng “cứng”, chất lượng điều hành kinh tế địa phương là nền tảng để hút dòng vốn. Năm 2024, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục đứng “top” đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), là năm thứ 12 liên tiếp nằm trong nhóm dẫn đầu; đồng thời, được theo dõi ở chỉ số “xanh” (PGI) - một tín hiệu thuận lợi cho định hướng tăng trưởng bền vững.
Kỷ nguyên mới của thương mại - đầu tư đặt ra yêu cầu vừa nâng hiệu quả khai thác kết cấu hạ tầng và cửa khẩu, vừa số hóa quy trình, giảm chi phí giao dịch; đồng thời, chuyển dịch logistics theo hướng xanh, thông minh và an toàn. Đây là cơ sở để định hình nhóm giải pháp tối ưu hóa dòng chảy hàng hóa - dịch vụ - vốn vào tỉnh Quảng Ninh.
Một số giải pháp tối ưu hóa dòng chảy thương mại và đầu tư
Từ các điều kiện tiền đề về hạ tầng, cửa khẩu, cảng biển và môi trường kinh doanh đã định hình, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn tới không chỉ là mở rộng quy mô mà là nâng chất lượng vận hành hệ thống theo hướng hiệu quả, minh bạch và bền vững. Trên cơ sở đó, việc xác định các giải pháp có tính dẫn dắt, khả thi và đo lường được là bước then chốt để chuyển lợi thế tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế của tỉnh Quảng Ninh và của vùng.
Trước hết, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng trên nguyên tắc đồng bộ và thống nhất, bảo đảm “một bản đồ quy hoạch - nhiều chủ thể thực thi” nhưng cùng chung chuẩn mực vận hành. Cơ chế điều phối thường xuyên giữa tỉnh Quảng Ninh với Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương ven biển Đông Bắc cần thống nhất khung kỹ thuật cho các mắt xích sau đầu tư như nút giao, bến bãi trung chuyển, cứu hộ - cứu nạn và bảo trì; đồng thời, thiết lập bộ chỉ số đo lường thời gian di chuyển, độ tin cậy, an toàn và phát thải để các địa phương giám sát, điều chỉnh theo dữ liệu thời gian thực. Nền tảng phối hợp liên tỉnh được củng cố sẽ chuyển “đường thông” thành “dòng chảy thông suốt”, giảm chi phí giao dịch và chi phí logistics cho doanh nghiệp.
Cùng với thể chế, kết nối đa phương thức gắn với logistics xanh là yêu cầu cấp bách. Trên cơ sở quy hoạch cảng biển tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030 với định hướng phát triển 27-30 bến, tổng chiều dài cầu bến khoảng 12,3-13,6km, nhu cầu vốn nâng cấp - đầu tư hơn 34.500 tỷ đồng, tỉnh cần sớm hình thành các trung tâm logistics cấp vùng gắn cảng - cửa khẩu (Hạ Long/Cái Lân, Cẩm Phả, Hải Hà - Vạn Ninh); đồng thời, phát triển mạng bến bãi trung chuyển quy mô vừa tại các nút cao tốc và dọc tuyến ven biển để giảm áp lực phương tiện tải trọng lớn đi sâu vào lõi đô thị. Việc áp dụng nền tảng số quản lý lịch cầu bến, điều tiết luồng phương tiện và tiêu chí “kho bãi xanh” về năng lượng, vật liệu, phân loại rác sẽ giúp chuyển lợi thế hạ tầng cứng thành lợi thế chuỗi cung ứng xanh của toàn vùng.
Song song với hạ tầng vật chất là quản trị số xuyên biên giới, đưa mô hình “cửa khẩu thông minh” vào vận hành thực chất tại Móng Cái - Đông Hưng. Trọng tâm là hoàn thiện tích hợp kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình, bảo đảm an ninh - an toàn dữ liệu và thiết lập kênh phối hợp nhanh giữa các lực lượng hai bên trong xử lý tình huống; trên nền tảng đó, từng bước mở rộng dịch vụ số cho doanh nghiệp như đặt lịch, khai báo từ xa, theo dõi trạng thái hàng hóa, nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí và tăng minh bạch nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương trên tuyến. Các thỏa thuận hợp tác và cập nhật triển khai gần đây của địa phương cho thấy hướng đi này đã có cơ sở thực tiễn để tăng tốc giai đoạn vận hành.
Trong không gian đô thị - ven biển, cần chuyển mạnh từ tư duy “làm thêm công trình” sang cung ứng “dịch vụ di chuyển an toàn - xanh - thông minh”. Tỷ lệ vận tải công cộng phải được nâng lên bằng làn ưu tiên trên các trục chính; bãi đỗ đệm bố trí hợp lý để giảm xe vào lõi đô thị; mảng xanh, bề mặt thấm nước, hồ điều hòa và giải pháp kè mềm dựa vào thiên nhiên cần được lồng ghép ngay từ thiết kế hạ tầng. Hệ thống giao thông thông minh (ITS), camera và cảm biến nên được triển khai đồng bộ để điều hành theo các kịch bản mưa lớn, triều cường, bảo đảm tính thông suốt cho hành lang Hạ Long - Cẩm Phả và cụm cầu Cửa Lục, nơi áp lực giao thông và rủi ro khí hậu ngày càng tăng.
Một trụ cột quan trọng khác là tiếp tục nâng cao chất lượng môi trường đầu tư - kinh doanh theo hướng số hóa, đơn giản, minh bạch. Dựa trên thành tích PCI nhóm dẫn đầu, tỉnh Quảng Ninh cần đẩy mạnh cơ chế “một cửa” số đối với thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng; rút ngắn thời gian cấp phép, mở rộng dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, đồng thời hình thành kho dữ liệu mở về quy hoạch, quỹ đất - nhà xưởng, hạ tầng logistics và nguồn nhân lực để giảm chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí gia nhập thị trường cho nhà đầu tư. Những cải thiện này sẽ trực tiếp chuyển thành lợi thế cạnh tranh của địa phương trong thu hút dòng vốn mới.
Để bảo đảm triển khai thực chất, cần xây dựng bộ chỉ số theo dõi “dòng chảy thương mại và đầu tư” cấp tỉnh, bao gồm: thời gian thông quan trung bình tại cửa khẩu Móng Cái; thời gian chờ và giao nhận tại cảng; chi phí vận tải/TEU (đơn vị đo lường sức chứa tiêu chuẩn trong vận tải biển, tương đương với một container 20 feet, khoảng 6m) trên các hành lang chủ lực; tỷ lệ phương tiện sạch trên tuyến ngắn; tỷ lệ hồ sơ đầu tư xử lý đúng hạn; tỷ trọng dịch vụ logistics xanh. Bộ chỉ số này nên được công bố định kỳ, sử dụng thống nhất trong điều hành giữa các sở, ngành và là căn cứ để cộng đồng doanh nghiệp góp ý, giám sát, từ đó liên tục điều chỉnh chính sách theo bằng chứng và dữ liệu.
Tổ chức thực hiện, bảo đảm nguồn lực và kiến nghị chính sách
Các giải pháp nêu trên chỉ phát huy hiệu quả khi được tổ chức triển khai nhất quán, có cơ chế điều phối, nguồn lực bảo đảm và công cụ giám sát cụ thể. Vì vậy, cần làm rõ phương thức thực hiện, phân công đầu mối, lộ trình và các kiến nghị chính sách tương ứng, tạo nền tảng để các giải pháp đi vào vận hành thực chất, mang lại kết quả đo đếm được cho thương mại và đầu tư của tỉnh.
Để hiện thực hóa các giải pháp, cần sớm thiết lập cơ chế điều phối cấp vùng có tính ràng buộc, phân công rõ cơ quan đầu mối cho từng nhóm nhiệm vụ: điều hành lưu lượng phương tiện vào các khung giờ cao điểm liên vùng; chuẩn hóa hệ thống bến bãi trung chuyển; liên thông dữ liệu giữa cảng biển - cửa khẩu - mạng lưới cao tốc; vận hành nền tảng số quản lý lịch cầu bến và luồng phương tiện; xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí “kho bãi xanh”; tổ chức thí điểm đội phương tiện sạch trên tuyến ngắn. Trên cơ sở đó, tỉnh chủ động ký kết quy chế phối hợp với các địa phương trong vùng và thu hút doanh nghiệp nòng cốt trong lĩnh vực logistics, cảng biển, thương mại biên giới tham gia thiết kế, cung ứng và giám sát dịch vụ.
Nguồn lực thực hiện cần dựa trên mô hình “đầu tư công dẫn dắt - đối tác công tư (PPP) hiệu quả”. Kinh nghiệm từ tuyến Vân Đồn - Móng Cái cho thấy, chuẩn bị mặt bằng sạch, hồ sơ mời thầu minh bạch, hợp đồng chuẩn hóa gắn chỉ tiêu dịch vụ và cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý sẽ rút ngắn thời gian, đồng thời kiểm soát chất lượng và chi phí. Việc ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM), hệ thống thông tin địa lý (GIS) và dữ liệu mở xuyên suốt vòng đời dự án giúp tối ưu khâu thiết kế - thi công - bảo trì, đồng thời tăng cường giám sát của cộng đồng và doanh nghiệp.
Đối với cửa khẩu và cảng biển, kiến nghị Trung ương cho phép áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với một số giải pháp số mới, như cải cách thủ tục, chia sẻ dữ liệu, nhận diện phương tiện - hàng hóa; đồng thời, định hướng và bố trí các chương trình tài chính xanh gắn với chuyển đổi năng lượng cho phương tiện bốc xếp và trung chuyển. Ở cấp tỉnh, cần ban hành lộ trình giảm phát thải trong logistics, khuyến khích thay thế từng bước đội xe và thiết bị xếp dỡ theo chuẩn tiết kiệm năng lượng; song song với đó, tăng cường thanh tra, kiểm tra về an toàn, môi trường để bảo đảm kỷ cương trên tuyến.
Quảng Ninh đang hội tụ những điều kiện thuận lợi để tối ưu hóa dòng chảy thương mại và đầu tư: kết cấu hạ tầng then chốt từng bước đồng bộ, cửa khẩu quốc tế sôi động, hệ thống cảng có quy hoạch dài hạn và môi trường kinh doanh thuộc nhóm dẫn đầu. Kiên định triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, hạ tầng - logistics, quản trị số xuyên biên giới, chất lượng dịch vụ công và cơ chế đo lường hiệu quả, tỉnh có khả năng chuyển lợi thế địa kinh tế thành lợi thế hệ thống, tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng của vùng Đông Bắc, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của quốc gia./.
Những vấn đề đặt ra trong liên kết vùng kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh và một số định hướng cho thời gian tới  (27/12/2025)
Nền tảng cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững ở tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn mới  (26/12/2025)
Tỉnh Quảng Ninh tăng cường kết nối hạ tầng giao thông liên vùng, hướng tới phát triển bền vững  (23/12/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm