Những vấn đề đặt ra trong liên kết vùng kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh và một số định hướng cho thời gian tới
TCCS - Với vị trí quan trọng, cửa ngõ phía Đông Bắc, Quảng Ninh giữ vai trò then chốt trong liên kết vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và hành lang hợp tác với Trung Quốc. Nhiều công trình kết cấu hạ tầng chiến lược đã giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí logistics, mở rộng không gian phát triển. Tuy vậy, yêu cầu liên kết vùng hiện đại, xanh và bền vững đặt ra không ít thách thức về thể chế phối hợp, kết nối đa phương thức, quản trị số xuyên biên giới và thích ứng biến đổi khí hậu.
Bối cảnh liên kết vùng và vai trò của Quảng Ninh
Quảng Ninh kết nối với Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương ven biển Đông Bắc, đồng thời giữ vai trò cửa ngõ giao thương sang thành phố Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) qua Móng Cái. Trên trục cao tốc liên hoàn Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, đoạn Vân Đồn - Móng Cái dài khoảng 80-80,2km, thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP)/phương thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), với vận tốc thiết kế tối đa 120km/h. Việc đưa tuyến này vào khai thác đã rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa các cực tăng trưởng của vùng, tăng năng lực vận tải hành khách và hàng hóa (ví dụ: Móng Cái - Hạ Long còn khoảng 1 giờ 30 phút, Hà Nội - Móng Cái còn hơn 3 giờ).
Không gian đô thị - du lịch - công nghiệp ven vịnh được mở rộng nhờ nhóm dự án cầu qua vịnh Cửa Lục và tuyến ven biển. Cầu Cửa Lục 3 (Bình Minh) khánh thành ngày 1-1-2024, dài hơn 2,6km, 6 làn xe, tạo kết nối thông suốt Hòn Gai - Hoành Bồ, phân tán lưu lượng thay vì dồn qua cầu Bãi Cháy; cùng với đó, đường ven biển Hạ Long - Cẩm Phả dài 18,7km, quy mô 6 làn đưa vào khai thác năm 2023, vừa giảm tải cho Quốc lộ 18, vừa đóng vai trò “hành lang xanh” ven vịnh Hạ Long - Bái Tử Long.
Tại cửa ngõ biên mậu, tỉnh Quảng Ninh đang đẩy nhanh thí điểm “cửa khẩu thông minh” Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc), tích hợp kiểm soát an ninh thông minh, xử lý hồ sơ số, giám sát giao thông bằng mã/QR, nhận diện khuôn mặt và giám sát phương tiện; hai bên hiện ở giai đoạn tích hợp kỹ thuật, tiến tới vận hành thử nghiệm, kỳ vọng giúp giảm thời gian - chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm kỷ cương, an toàn. Ở tầm vùng, quan điểm “liên kết thực chất” tiếp tục được nhấn mạnh: các địa phương phía Bắc tăng cường thỏa thuận hợp tác theo hành lang phía Đông và hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, đẩy mạnh phối hợp về quy hoạch, kết cấu hạ tầng, logistics, công nghiệp công nghệ cao, du lịch và thương mại biên giới, tạo bệ đỡ để tỉnh Quảng Ninh phát huy vai trò cực tăng trưởng.
Sau một giai đoạn tập trung cao độ cho đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt (từ cao tốc liên vùng, đường ven biển, cụm cầu qua vịnh đến cảng biển, cửa khẩu và hàng không), không gian phát triển của tỉnh Quảng Ninh đã được mở rộng rõ rệt, kết nối vùng được cải thiện căn bản và năng lực hấp thụ dòng hàng, dòng khách tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn khai thác - vận hành ở quy mô lớn hơn, những yêu cầu mới về phối hợp liên tỉnh, đồng bộ đa phương thức, quản trị số xuyên biên giới, cũng như bảo đảm an toàn - môi trường - thích ứng với biến đổi khí hậu đặt ra yêu cầu ngày càng cụ thể và khắt khe. Từ thực tiễn đó, việc nhận diện kịp thời các điểm còn hạn chế để có giải pháp điều chỉnh phù hợp là điều kiện cần, bảo đảm các công trình đã đầu tư thực sự phát huy hiệu quả, tạo dựng lợi thế so sánh bền vững cho tỉnh Quảng Ninh trong liên kết vùng kinh tế trọng điểm.
Những vấn đề đang đặt ra trong liên kết vùng
Thứ nhất, thể chế phối hợp vùng chưa theo kịp tốc độ đầu tư hạ tầng. Mạng lưới cao tốc, cầu và đường ven biển được hoàn thành nhanh giúp bảo đảm tính thông suốt, song cơ chế điều phối liên tỉnh đối với lưu lượng phương tiện, tiêu chuẩn nút giao, điểm trung chuyển - bến bãi, cứu hộ - cứu nạn và bảo trì liên thông vẫn còn phân tán theo từng dự án, từng địa bàn. Việc thiếu một “bản đồ vận hành chung” sau đầu tư làm hiệu quả khai thác hệ thống chưa đạt tối ưu, nhất là tại các cửa ngõ đô thị và khu du lịch ven vịnh, nơi nhu cầu đi lại tăng nhanh.
Thứ hai, kết nối đa phương thức và logistics theo hướng xanh còn khoảng trống. Nhu cầu chuyển tải giữa đường bộ - cảng biển - đường thủy nội địa trên trục ven biển gia tăng, trong khi mạng bến bãi trung chuyển quy mô vừa và nhỏ cùng các trung tâm logistics gắn với cảng biển ở tầm vùng chưa được hoàn thiện đồng bộ. Quy hoạch cảng biển đến năm 2030 xác định rõ quy mô bến bãi, nhưng để phát huy hiệu quả, cần tổ chức tốt mạng gom hàng, trung chuyển; đồng thời, ban hành tiêu chí “cảng/kho bãi xanh” và ứng dụng nền tảng số để quản lý lịch cầu bến, điều tiết luồng phương tiện theo thời gian thực.
Thứ ba, liên thông dữ liệu và quản trị số xuyên biên giới mới ở giai đoạn khởi đầu. Quá trình thí điểm “cửa khẩu thông minh” Móng Cái - Đông Hưng đang triển khai các cấu phần như kiểm soát an ninh thông minh, xử lý hồ sơ số, nhận diện người và phương tiện. Tuy nhiên, việc đồng bộ kỹ thuật hai bên, chuẩn hóa quy trình, bảo đảm an ninh - an toàn dữ liệu và cơ chế chia sẻ dữ liệu phục vụ điều hành liên ngành vẫn là yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện trước khi vận hành ổn định.
Thứ tư, áp lực môi trường và khí hậu đối với hạ tầng ven biển - đô thị du lịch gia tăng. Các tuyến ven biển và cầu qua vịnh chịu tác động của mưa lớn cực đoan, triều cường, xói lở bờ và tải trọng phương tiện. Nếu không lồng ghép từ đầu các giải pháp “xanh” (bề mặt thấm nước, hồ điều hòa, hệ thống cây xanh, kè mềm dựa vào thiên nhiên) cùng hệ thống giao thông thông minh (ITS) để giám sát - điều hành, nguy cơ ngập cục bộ và ùn tắc giờ cao điểm có thể xảy ra ở một số vị trí nhạy cảm. Chuẩn vận hành, bảo trì thích ứng khí hậu cần gắn chặt ngay từ khâu thiết kế, đặc biệt trên tuyến Hạ Long - Cẩm Phả và các nút cửa ngõ đô thị.
Thứ năm, sau đầu tư vẫn còn những khâu cần hoàn thiện tại một số mắt xích đô thị - du lịch. Cầu Cửa Lục 3 (Bình Minh) đã tạo vòng kết nối trong thành phố Hạ Long, nhưng để chuyển từ “công trình mới” sang “dịch vụ di chuyển chất lượng cao”, cần tiếp tục tổ chức giao thông thông minh, bố trí bãi đỗ đệm, làn ưu tiên cho phương tiện công cộng và thống nhất tiêu chuẩn cây xanh, chiếu sáng tiết kiệm năng lượng dọc tuyến. Trên trục cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, kết nối đoạn cuối tới khu công nghiệp, cảng và trung tâm logistics cần tối ưu hóa theo mô hình tổ chức gom - trả hàng hiện đại, hạn chế phương tiện tải trọng lớn đi sâu vào lõi đô thị.
Định hướng cho thời gian tới
Từ những vấn đề đã được nhận diện, bao gồm yêu cầu hoàn thiện thể chế phối hợp vùng, bổ sung mắt xích kết nối đa phương thức và logistics xanh, thúc đẩy quản trị số xuyên biên giới, cùng với việc lồng ghép tiêu chí an toàn, môi trường và thích ứng khí hậu trong khai thác hạ tầng, có thể thấy giai đoạn tới đòi hỏi tỉnh Quảng Ninh chuyển nhanh từ tư duy “đầu tư công trình” sang “nâng cao chất lượng dịch vụ kết nối vùng”. Trên nền tảng các kết quả đạt được, việc xác lập định hướng hành động rõ ràng, khả thi và có công cụ đo lường minh bạch sẽ giúp các dự án đã đầu tư phát huy hiệu quả tổng thể, củng cố vị thế của tỉnh Quảng Ninh như một cực tăng trưởng xanh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Trước hết, cần tiếp tục củng cố thể chế liên kết vùng trên nguyên tắc đồng bộ và thống nhất, bảo đảm “một bản đồ quy hoạch - nhiều chủ thể thực thi” nhưng cùng chung chuẩn mực vận hành. Cơ chế điều phối thường xuyên giữa Quảng Ninh với Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương ven biển Đông Bắc cần được kiện toàn, qua đó thống nhất khung tiêu chuẩn kỹ thuật cho các mắt xích liên vùng sau đầu tư như nút giao, bến bãi trung chuyển, cứu hộ - cứu nạn và bảo trì. Hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác cần lượng hóa rõ ràng theo các trục: thời gian di chuyển, độ tin cậy, an toàn và phát thải. Trên hành lang phía Đông nên hình thành tổ công tác liên tỉnh phụ trách điều tiết lưu lượng vào giờ cao điểm, chủ động phân luồng và san tải theo dữ liệu thời gian thực.
Song song với đó, hoàn thiện kết nối đa phương thức gắn với phát triển logistics xanh là yêu cầu cấp bách. Việc quy hoạch và sớm đưa vào hoạt động các trung tâm logistics cấp vùng kết nối chặt chẽ với cảng biển và cửa khẩu sẽ tạo năng lực gom - phân phối hàng hóa hiệu quả. Dọc tuyến ven biển và tại các nút cao tốc, cần hình thành mạng bến bãi trung chuyển quy mô vừa, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, tạo “vành đai” trung chuyển giảm áp lực cho đô thị lõi. Với lộ trình phát triển 27-30 bến cảng đến năm 2030 và việc triển khai bến tổng hợp Vạn Ninh, tỉnh cần áp dụng nền tảng số để quản lý lịch cầu bến và điều tiết luồng phương tiện; đồng thời, khuyến khích đội xe sạch (CNG, điện) trên các tuyến ngắn. Bộ tiêu chí “kho bãi xanh” về tiết kiệm năng lượng, tái chế vật liệu và phân loại rác tại nguồn nên được ban hành thống nhất, biến lợi thế hạ tầng cứng thành năng lực cạnh tranh của chuỗi cung ứng xanh.
Cùng với hoàn thiện kết cấu hạ tầng, quản trị số xuyên biên giới cần được thúc đẩy theo hướng thực chất, lấy thí điểm “cửa khẩu thông minh” Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc) làm nòng cốt. Trọng tâm là hoàn thiện tích hợp kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình thủ tục, xây dựng cơ chế bảo đảm an ninh - an toàn dữ liệu, đồng thời thiết lập kênh phối hợp nhanh giữa các lực lượng hai bên trong xử lý tình huống. Trên nền tảng đó, từng bước mở rộng dịch vụ số cho doanh nghiệp, từ đặt lịch, khai báo từ xa đến theo dõi trạng thái hàng hóa nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí, tăng tính minh bạch, nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương, an toàn trên tuyến.
Trong không gian đô thị - ven biển, cần chuyển mạnh từ tư duy “công trình mới” sang cung ứng “dịch vụ di chuyển an toàn - xanh - thông minh”. Tỷ lệ vận tải công cộng phải được nâng lên bằng các làn ưu tiên tại trục chính; bãi đỗ đệm cần được bố trí hợp lý để giảm xe vào lõi đô thị. Các giải pháp dựa vào thiên nhiên - mảng xanh, bề mặt thấm nước, hồ điều hòa, kè mềm - cần được lồng ghép ngay từ thiết kế, kết hợp hệ thống giao thông thông minh (ITS), camera và cảm biến để điều hành theo kịch bản mưa lớn, triều cường. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với tuyến Hạ Long - Cẩm Phả và cụm cầu Cửa Lục, nơi chịu áp lực giao thông và biến đổi khí hậu ngày một gia tăng.
Nguồn lực thực hiện cần dựa trên mô hình “đầu tư công dẫn dắt - đối tác công tư (PPP) hiệu quả”. Kinh nghiệm từ đoạn PPP/BOT Vân Đồn - Móng Cái cho thấy: chuẩn bị mặt bằng “sạch”, hồ sơ mời thầu minh bạch, hợp đồng chuẩn hóa gắn chỉ tiêu dịch vụ và cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý sẽ rút ngắn thời gian, kiểm soát chất lượng và chi phí. Việc ứng dụng công nghệ quản trị vòng đời dự án như mô hình thông tin xây dựng (BIM), hệ thống thông tin địa lý (GIS) và dữ liệu mở cần được triển khai xuyên suốt từ thiết kế, thi công đến bảo trì, đồng thời phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, mọi hoạt động liên kết vùng phải gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững. Các dự án kết cấu hạ tầng quan trọng cần đánh giá tác động môi trường - khí hậu theo kịch bản cực đoan; tiêu chí “xanh - an toàn - bao trùm” cần được tích hợp vào thiết kế và vận hành, từ chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, tăng cường cây xanh đến bảo đảm tiếp cận cho nhóm yếu thế và an toàn đường bộ. Tại cửa khẩu và cảng biển, lộ trình chuyển đổi năng lượng cho phương tiện bốc xếp và xe trung chuyển, cùng với chuẩn vận hành, hạn chế rác thải nhựa dùng một lần, sẽ củng cố hình ảnh tỉnh Quảng Ninh như một “cực tăng trưởng xanh” của vùng. Với định hướng đó, tỉnh có cơ sở để biến liên kết vùng thành “lợi thế hệ thống”, tiếp tục giữ vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và đóng góp thiết thực cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của quốc gia.
Quảng Ninh đã tạo bước tiến quan trọng về hạ tầng kết nối vùng bằng những công trình mang tính bứt phá trên bộ, trên biển và tại cửa khẩu. Giai đoạn tới, để liên kết vùng thực sự trở thành “lợi thế hệ thống”, tỉnh cần đi tiếp một bước về thể chế phối hợp liên tỉnh, hoàn thiện kết nối đa phương thức và logistics xanh, đưa quản trị số xuyên biên giới vào vận hành thực chất; đồng thời, kiên định yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Làm được như vậy, tỉnh Quảng Ninh sẽ tiếp tục giữ vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của quốc gia./.
Nền tảng cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững ở tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn mới  (26/12/2025)
Tỉnh Quảng Ninh tăng cường kết nối hạ tầng giao thông liên vùng, hướng tới phát triển bền vững  (23/12/2025)
Quảng Ninh phát triển kinh tế đối ngoại gắn với bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong bối cảnh mới  (22/12/2025)
Đưa Nghị quyết 01-NQ/TU vào cuộc sống: Quảng Ninh bứt phá phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo  (22/12/2025)
Quảng Ninh tăng cường các giải pháp quản lý, kiểm soát tàu cá  (22/12/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm