TCCS - Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp, việc phát triển kinh tế biển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với nhiều quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam. Kinh tế biển được xác định là một trong những trụ cột chiến lược của nền kinh tế quốc gia, không chỉ đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng GDP mà còn góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, quá trình khai thác và phát triển kinh tế biển nếu không đi đôi với bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sẽ dẫn đến sự suy thoái tài nguyên biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các thế hệ tương lai.

Kinh tế biển là hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, hoặc có liên quan đến biển như khai thác, chế biến các sản phẩm có liên quan đến biển, du lịch biển, khai thác dầu khí, vận tải biển, để phục vụ đời sống con người và mang lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế biển là quá trình tăng trưởng toàn diện về kinh tế của các ngành kinh tế biển, kết hợp với sự hoàn thiện về cơ cấu, thể chế và chất lượng cuộc sống, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Bao gồm việc khai thác tài nguyên biển một cách hợp lý, bảo tồn hệ sinh thái biển và phát triển các ngành như nuôi trồng thủy sản, khai thác dầu khí, vận tải biển, du lịch biển, năng lượng tái tạo, và công nghệ sinh học biển, nhằm mang lại lợi ích kinh tế và bảo đảm sự thịnh vượng lâu dài cho quốc gia và các cộng đồng ven biển. 

Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự. nhiên(1). Đa dạng sinh học biển là yếu tố nền tảng trong hệ sinh thái biển và ven biển. Bao gồm sự phong phú về loài sinh vật, hệ sinh thái và gen di truyền, góp phần duy trì sự ổn định, chức năng và khả năng phục hồi của môi trường biển. Đa dạng sinh học mang giá trị sinh thái, là nguồn lực thiết yếu cho các hoạt động kinh tế biển. Việc bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học biển góp phần bảo đảm an ninh lương thực (thông qua nguồn thủy sản bền vững), phát triển y dược biển (các hợp chất sinh học quý), bảo vệ sức khỏe cộng đồng (thông qua môi trường nước sạch và hệ sinh thái khỏe mạnh).

Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền(2). Từ khái niệm này cho thấy, sự cân bằng giữa phát triển và bảo tồn là yếu tố cốt lõi, là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình hoạch định và triển khai các chính sách phát triển kinh tế biển. Các ngành kinh tế biển chủ yếu hiện nay bao gồm: khai thác và nuôi trồng thủy sản, du lịch biển, vận tải biển, khai thác dầu khí và khoáng sản biển, năng lượng tái tạo biển (gió, sóng, thủy triều), dịch vụ hậu cần biển, công nghiệp đóng tàu, nghiên cứu khoa học biển... Những ngành này có vai trò to lớn trong việc tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây áp lực lớn lên môi trường và đa dạng sinh học nếu không được kiểm soát và quy hoạch hợp lý.

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với các ngành, lĩnh vực khác - liên hệ với tỉnh Quảng Ninh

Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định, lấy phát triển kinh tế biển bền vững làm “trục chính” để điều chỉnh các mối quan hệ giữa: kinh tế - quốc phòng, kinh tế - đối ngoại, kinh tế - tài nguyên, kinh tế - môi trường, kinh tế - xã hội (gồm văn hóa), vùng kinh tế động lực và liên kết không gian kinh tế ven biển - biển - đảo.

Trước hết, kinh tế biển có mối quan hệ qua lại, bổ trợ lẫn nhau để tạo ra giá trị kinh tế cho nhau. Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng trong phát triển các ngành, như du lịch, giao thông vận tải, thủy sản, năng lượng tái tạo và công nghiệp chế biến. Ở tỉnh Quảng Ninh, ngành du lịch biển đảo không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo việc làm và thu nhập cho người dân địa phương. Giao thông vận tải biển kết nối các vùng kinh tế biển với các trung tâm kinh tế trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy thương mại và phát triển công nghiệp.

Thứ hai, phát triển kinh tế biển có mối quan hệ trực tiếp với môi trường và hệ sinh thái biển. Việc khai thác thủy sản phải bảo đảm bền vững, đồng thời các hoạt động công nghiệp và cảng biển phải kiểm soát chặt chẽ để giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển. Tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện nhiều chương trình bảo tồn đa dạng sinh học biển, đồng thời phát triển mô hình tăng trưởng xanh trong các ngành kinh tế biển.

Thứ ba, phát triển kinh tế biển ở các tỉnh có đường biên giới trên biển có vai trò quan trọng, liên quan mật thiết đến an ninh quốc phòng và hợp tác quốc tế. việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo là yếu tố tiên quyết để tạo ra môi trường ổn định, an toàn cho các hoạt động kinh tế biển. Tỉnh Quảng Ninh, với vị trí giáp biên giới biển Trung Quốc, đã xây dựng và duy trì các lực lượng bảo vệ biển như Bộ đội Biên phòng, Hải đội 18, cùng các lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư được trang bị hiện đại để tuần tra, kiểm soát và xử lý các hành vi xâm phạm lãnh hải, bảo đảm an ninh trật tự khu vực ven biển. Nhờ vậy, các doanh nghiệp và người dân yên tâm phát triển sản xuất, đầu tư khai thác tài nguyên biển.

Việc bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển không chỉ giúp tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế mà còn thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững. Trên cơ sở giữ vững an ninh, tỉnh Quảng Ninh tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế với các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc, nhằm quản lý chung tài nguyên biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các hoạt động hợp tác như trao đổi thông tin về khí tượng thủy văn, phối hợp xử lý sự cố môi trường biển, chống khai thác hải sản bất hợp pháp và các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học biển được đẩy mạnh. Tỉnh Quảng Ninh tham gia các cơ chế hợp tác biên giới trên biển với tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) để cùng quản lý vùng biển chung và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, hiệu quả. Tỉnh Quảng Ninh tận dụng các hiệp định, dự án hợp tác quốc tế để phát triển các ngành công nghiệp biển sạch, năng lượng tái tạo trên biển, thúc đẩy phát triển các khu kinh tế biển bền vững như đặc khu kinh tế Vân Đồn.

Thứ tư, phát triển kinh tế biển có mối quan hệ trực tiếp đến phát triển xã hội, như nâng cao chất lượng cuộc sống người dân ven biển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành kinh tế biển, cũng như chuyển đổi cơ cấu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Tóm lại, phát triển kinh tế biển ở các tỉnh ven biển và biên giới biển như tỉnh Quảng Ninh không thể tách rời mà luôn kết nối mật thiết với các ngành, lĩnh vực khác để tạo nên sự phát triển toàn diện, bền vững và an ninh vững chắc cho vùng biển và vùng ven biển.

Quan điểm, định hướng của Đảng và Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển kinh tế biển

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm nhận thức Việt Nam là một quốc gia có rất nhiều lợi thế từ biển và đã có nhiều chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế biển. Đại hội XII của Đảng xác định: “Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ và hậu cần nghề cá, kinh tế hàng hải (kinh doanh dịch vụ cảng biển, đóng và sửa chữa tàu, vận tải biển), du lịch biển, đảo. Có cơ chế tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường... Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế ven biển”. Ngày 22-10-2018, Hội nghị Trung ương 8 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 23-4-2019, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, về “Phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” gắn với thực hiện Chương trình số 27-CTr/TU, ngày 27-3-2019, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, về thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập tổ chuyên trách nghiên cứu xây dựng dự thảo nghị quyết mới về phát triển kinh tế biển, trên cơ sở bám sát Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 23-11-2022, của Bộ Chính trị, về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 14/NQ-CP, của Chính phủ, về “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị”; Quyết định số 80/QĐ-TTg, ngày 11-2-2023, của Chính phủ, về “Phê duyệt Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

Từ các cở sở này, các chương trình, dự án phát triển kinh tế biển của Quảng Ninh đã được xây dựng và triển khai trên cơ sở thống nhất các quan điểm căn bản:

Thứ nhất, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, nhưng phải trên cơ sở phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã đồng tâm, chung sức nỗ lực phát triển bền vững biển cùng cả nước vừa bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thứ hai, phát triển kinh tế biển phải theo hướng bền vững, trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển; bảo đảm hài hoà giữa các hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển, giữa lợi ích của địa phương có biển và địa phương không có biển; tăng cường liên kết, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát huy tiềm năng, lợi thế của biển, tạo động lực phát triển kinh tế. Quan điểm phát triển kinh tế biển xanh của Quảng Ninh là hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI, XII của Đảng, là những bước đi cụ thể hóa chủ trương cơ cấu lại, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế theo chiều sâu.

Thứ ba, biển Quảng Ninh chứa đựng các giá trị lịch sử và văn hóa độc đáo, là tỉnh sở hữu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Những năm qua, tỉnh đã xây dựng một hình ảnh Quảng Ninh sống động trên bản đồ du lịch thế giới. Thấy rõ các giá trị tạo nên thành công ấy phải được gìn giữ mới phát huy lâu dài, tỉnh coi bảo tồn các di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng, Quảng Ninh là một trong những tỉnh đi tiên phong trong nhận diện và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, con người, trong đó có các giá trị văn hóa biển.

Thứ tư, tăng cường đầu tư bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển tự nhiên; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển giá trị đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái biển; bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái từ đất liền ra biển. Gắn bảo vệ môi trường biển với phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, sự cố môi trường, tăng cường hợp tác khu vực và toàn cầu. Trong thực tiễn phát triển, đã và đang tồn tại nhiều mâu thuẫn và thách thức giữa mục tiêu phát triển kinh tế biển với yêu cầu bảo tồn và bảo vệ môi trường. Khai thác tài nguyên biển quá mức, sử dụng ngư cụ mang tính hủy diệt, như lưới kéo đáy, kích điện, thuốc nổ; các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, nước thải sinh hoạt và đặc biệt là rác thải nhựa đã làm tổn hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển và làm suy giảm nhanh chóng trữ lượng thủy sản. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng tác động tiêu cực, khiến hệ sinh thái biển chịu những tổn hại không nhỏ.

Thứ năm, tăng đầu tư phát triển kinh tế biển thông qua lấy khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao làm đột phá.

Để hài hòa giữa phát triển kinh tế biển và bảo tồn đa dạng sinh học, Quảng Ninh cần áp dụng các cách tiếp cận và các nguyên tắc khoa học như sau:

Trước hết là nguyên tắc phát triển bền vững là nguyên tắc cơ bản trong các lý thuyết phát triển hiện đại. Nguyên tắc này đòi hỏi các quốc gia không được đánh đổi tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái để lấy tăng trưởng kinh tế ngắn hạn.

Thứ hai, nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái. Đây là cách tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa trên cái nhìn tổng thể, coi hệ sinh thái là mục tiêu quản lý chung thay vì quản lý theo từng ngành, từng khu vực riêng lẻ. Theo cách này, mọi hoạt động kinh tế biển đều cần đánh giá tác động tới toàn bộ hệ sinh thái và có giải pháp hạn chế, phục hồi mang tính toàn diện đi kèm.

Thứ ba, mô hình kinh tế tuần hoàn biển cần được thúc đẩy, đặc biệt trong các lĩnh vực dễ gây ô nhiễm, như nuôi trồng thủy sản, khai thác dầu khí, vận tải biển. Mô hình kinh tế tuần hoàn biển giúp tiết kiệm tài nguyên, giúp giảm thiểu gánh nặng cho môi trường biển và gia tăng giá trị tài nguyên.

Thứ tư, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình khai thác, sản xuất, chế biến, trong giám sát, đánh giá, cảnh báo và kiểm soát các nguy cơ môi trường biển. Do đó, ứng dụng khoa học - công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có kỹ năng sử dụng công nghệ phải được coi trọng và đầu tư đi trước một bước./.

----------------------

(1) Khoản 5, Điều 3, Luật Đa dạng sinh học 2008
(2) Khoản 1, Điều 3, Luật Đa dạng sinh học 2008