Tỉnh Quảng Ninh với định hướng đi đầu cả nước về phát triển kinh tế biển xanh
TCCS - Chủ trương phát triển kinh tế biển bền vững đã được tỉnh Quảng Ninh tiếp cận tương đối sớm và thực hiện đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. Với thế mạnh về du lịch biển, dịch vụ cảng biển, khai thác hải sản và vận tải hàng hải, tỉnh đã xác định rõ mục tiêu: không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế.
1. Kinh tế xanh lam (Blue Economy) là khái niệm mới ra đời tiếp sau khái niệm kinh tế xanh (Green Economy) trước đây, có thể hiểu là “kinh tế xanh lá cây” trên đất liền để phân biệt với “kinh tế xanh lam” đối với biển.
Kinh tế xanh ra đời trong bối cảnh hệ sinh thái tự nhiên ngày càng suy giảm, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Mục đích chính của phát triển kinh tế xanh là duy trì, khôi phục hệ sinh thái tự nhiên vốn có, sử dụng năng lượng tái tạo của thiên nhiên như năng lượng gió, năng lượng mặt trời thay thế dần sử dụng nhiên liệu hóa thạch và giảm phát thải khí nhà kính từ các nguồn thải ra môi trường.
Khái niệm “Blue Economy” về bản chất cũng tương đồng với khái niệm “Green Economy”, tuy nhiên được nhìn nhận và giải quyết các vấn đề liên quan đến biển. Đối với phát triển kinh tế biển xanh, một trong những tiêu chí đầu tiên là phải duy trì và phục hồi được hệ sinh thái biển, cũng đồng nghĩa với việc phải bảo tồn được hệ sinh thái biển. Tuy nhiên, bảo tồn được hiểu không chỉ duy trì hệ sinh thái mà còn đáp ứng nhu cầu cho phát triển kinh tế biển hướng đến phát triển bền vững. Khái niệm kinh tế biển xanh được hiểu là “sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đại dương để tăng trưởng kinh tế, cải thiện sinh kế và việc làm cũng như sức khỏe của hệ sinh thái đại dương” - khái niệm đưa ra của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) dựa trên định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Vấn đề cơ bản của kinh tế biển xanh là phải sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển, cùng với đó phải giải quyết được sinh kế, việc làm cho người dân và quan trọng hơn hết là “sức khỏe” đại dương không bị suy giảm mà ngày càng ổn định và khỏe hơn. Như vậy, đối với khu bảo tồn biển, việc khai thác và sử dụng phải nằm trong giới hạn cho phép của hệ sinh thái, muốn vậy cần nghiên cứu tính toán và duy trì hệ sinh thái để đảm bảo hệ sinh thái còn khả năng tái tạo phục vụ cho phát triển kinh tế, bảo đảm sinh kế cho người dân liên quan đến khu bảo tồn.
Kinh tế biển xanh là mô hình phát triển dựa trên nguyên tắc tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường biển, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng ven biển. Các tiêu chí căn cốt của kinh tế biển xanh bao gồm nhiều yếu tố mang tính nền tảng. Đó là khai thác và sử dụng tài nguyên biển một cách bền vững và có quy hoạch rõ ràng giữa vùng khai thác, bảo tồn và phát triển sinh kế. Bảo vệ và phục hồi môi trường biển - đảo. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng ô nhiễm, đặc biệt là rác thải nhựa đại dương, tràn dầu, nước thải chưa xử lý, đồng thời triển khai các chương trình trồng rừng ngập mặn, bảo vệ rạn san hô, thảm cỏ biển... Một nền kinh tế biển xanh cũng phải ưu tiên phát triển các ngành thân thiện với môi trường, như du lịch sinh thái biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, năng lượng tái tạo ngoài khơi, các mô hình kinh tế tuần hoàn ven biển; ứng dụng công nghệ xanh và chuyển đổi số trong quản lý biển.
Bên cạnh đó, kinh tế biển xanh phải hướng tới công bằng xã hội, bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân, nâng cao điều kiện sống và tạo điều kiện cho người dân ven biển tham gia quản lý tài nguyên.
Một nền kinh tế biển xanh cũng phải có khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu, thể hiện qua việc quy hoạch hạ tầng ven biển phù hợp, có giải pháp ứng phó hiệu quả với nước biển dâng, xâm nhập mặn, bão lũ và sạt lở.
Tất cả các tiêu chí trên đều là cơ sở quan trọng để các địa phương ven biển, trong đó có tỉnh Quảng Ninh hướng tới để phát triển kinh tế biển xanh một cách thực chất, bền vững và lâu dài.
2. Bảo tồn hệ sinh thái biển là một chủ trương lớn của Đảng đã được đề ra trong Nghị quyết số 36/NQ-TW, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 22-10-2018, về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tuy nhiên để bảo tồn hệ sinh thái biển hiệu quả cần có sự tham gia của các bên liên quan, nhất là kết hợp bảo tồn với phát triển các ngành kinh tế.
Có thể khái quát những cơ sở chính trị - pháp lý khoa học - thực tiễn để Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng phát triển kinh tế biển xanh:
Thứ nhất, kinh tế biển xanh được sự ủng hộ của nhiều quốc gia có biển và các tổ chức quốc tế trong bối cảnh hệ sinh thái biển suy giảm, ô nhiễm biển gia tăng, nhất là ô nhiễm do nhựa và túi ni-lon (ô nhiễm trắng), biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.
Thứ hai, chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế biển bền vững từ Nghị quyết số 36/NQ-TW rất rõ. Thực hiện kinh tế biển xanh chính là thực hiện các tiêu chí của phát triển kinh tế biển bền vững.
Thứ ba, những chính sách pháp luật của Nhà nước, như Quyết định 681/QĐ-TTg, ngày 4-6-2019, về lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Việt Nam đến năm 2030; Chiến lược tăng trưởng xanh theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg, ngày 1-10-2021; Luật Thủy sản năm 2017; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015,... là hành lang pháp lý, cơ hội cho thực hiện kinh tế xanh ở Việt Nam.
Thứ tư, chúng ta đang thực hiện “Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và “Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn 2050”, đây là cơ hội để đưa kinh tế biển xanh vào các quy hoạch này nhằm xây dựng cơ sở thống nhất, đồng bộ, tạo thuận lợi cho quá trình triển khai trong thực tiễn.
Thứ năm, hiện nay đã và đang có các dự án triển khai thực hiện liên quan đến bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái biển ở khu vực biển Đông và vịnh Thái Lan có sự phối hợp giữa các nước trong khu vực, là cơ hội để Việt Nam cùng phối hợp thực hiện kinh tế biển xanh và bảo tồn, phát triển các hệ sinh thái biển của nước ta.
3. Tỉnh Quảng Ninh đã tích cực thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển theo hướng hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Trong phát triển du lịch, tỉnh thúc đẩy du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp, gắn với bảo vệ môi trường và khai thác có kiểm soát tài nguyên cảnh quan. Trong nuôi trồng và khai thác thủy sản, tỉnh từng bước chuyển đổi mô hình khai thác nhỏ lẻ, tận diệt sang hướng nuôi biển công nghệ cao, thân thiện môi trường, chú trọng truy xuất nguồn gốc, gắn sản xuất với thị trường bền vững. Mô hình này phản ánh đúng các nguyên tắc lý luận về phát triển theo hệ sinh thái, kinh tế tuần hoàn biển mà các chiến lược phát triển bền vững đã đặt ra.
Từ năm 2020 trở lại đây, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều bước đi mạnh mẽ trong thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó, Vân Đồn được định hướng trở thành khu kinh tế biển đa ngành, đa lĩnh vực, có sức cạnh tranh quốc tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững. Tỉnh đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo ven biển, kết nối giao thông vùng ven biển, tạo điều kiện thu hút đầu tư vào các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, chủ trương xây dựng các khu vực bảo tồn biển và ven biển, ứng dụng khoa học, công nghệ trong giám sát môi trường nước, kiểm soát phát triển đô thị ven biển gắn với thích ứng biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý kinh tế biển, sử dụng dữ liệu lớn (Big data), giám sát qua vệ tinh và cảm biến môi trường để kiểm soát khai thác thủy sản, chất lượng nước biển và biến động sinh thái. Những nỗ lực này giúp tỉnh giảm thiểu rủi ro ô nhiễm, phát hiện sớm nguy cơ suy thoái môi trường, và nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là những bước đi quan trọng để tỉnh Quảng Ninh phát triển kinh tế xanh lam bền vững.
Trong quá trình hiện thực hóa Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh Quảng Ninh đã chọn Vân Đồn làm điểm nhấn trong chiến lược phát triển vùng biển, đảo, hình mẫu cho sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và cải cách thể chế, bộ máy theo định hướng của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12-4-2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.
Vân Đồn được định hướng phát triển thành đặc khu kinh tế biển đa ngành, hiện đại, thông minh và bền vững, với các trụ cột chính là: du lịch sinh thái biển - nghỉ dưỡng cao cấp, công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ tài chính, hàng không, logistics và kinh tế biển. Vân Đồn không chỉ là một vùng kinh tế ven biển đơn thuần, mà còn được quy hoạch như một “đầu tàu đổi mới thể chế và mô hình quản lý kinh tế biển” gắn với khai thác tiềm năng biển đảo.
Điểm đặc biệt trong định hướng phát triển Vân Đồn là: từ khâu quy hoạch đến tổ chức thực hiện đều bám sát nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy phát triển, coi hệ sinh thái biển đảo là tài sản chiến lược lâu dài. Chính vì vậy, các dự án đầu tư vào Vân Đồn, đặc biệt là các dự án du lịch, nghỉ dưỡng, khu đô thị ven biển đều phải tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu về đánh giá tác động môi trường, bảo vệ cảnh quan và hệ sinh thái. Các khu vực, như đảo Cái Bầu, đảo Quan Lạn, bãi Dài, bãi Sơn Hào,... được giữ gìn gần như nguyên vẹn, trở thành nền tảng để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển đẳng cấp, góp phần định vị Vân Đồn trong bản đồ du lịch xanh của khu vực châu Á. Vân Đồn đang từng bước trở thành mô hình đặc khu biển “hai trong một” - vừa phát triển hiện đại, vừa bảo tồn sinh thái biển bền vững. Điều này cho thấy năng lực quản lý hiệu quả của bộ máy chính quyền tỉnh Quảng Ninh trong việc áp dụng tư duy phát triển biển theo hệ sinh thái và nguyên tắc kinh tế tuần hoàn.
Ngoài Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh triển khai mạnh mẽ khu kinh tế ven biển Quảng Yên, hướng tới phát triển công nghiệp sạch, logistics, công nghệ cao, đồng thời kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường và chất thải ra vịnh Hạ Long. Quy hoạch bài bản, tích hợp với phát triển hạ tầng xanh, sử dụng năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời nổi ven biển) cũng được tỉnh Quảng Ninh thúc đẩy phù hợp với xu hướng phát triển biển bền vững trong chiến lược quốc gia.
Để phát triển theo hướng kinh tế biển xanh, tỉnh Quảng Ninh cần triển khai một cách đồng bộ và bài bản nhiều giải pháp, cụ thể:
Một là, nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế xanh lam cho các nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đang hoạt động trong các ngành, lĩnh vực kinh tế biển.
Thứ hai, tỉnh cần hoàn thiện quy hoạch không gian biển gắn chặt với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch không gian biển một cách khoa học, phân vùng rõ ràng giữa khu vực khai thác, phát triển, bảo tồn và sinh kế và phục hồi hệ sinh thái biển, đặc biệt tại những vùng nhạy cảm như Hạ Long, Vân Đồn, Bái Tử Long…
Thứ ba, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển phải được tăng cường thông qua giám sát chặt chẽ chất lượng nước biển, thu gom và xử lý rác thải ven biển, hạn chế tối đa rác thải nhựa từ các hoạt động du lịch và nuôi trồng thủy sản.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế biển theo hướng xanh, ưu tiên phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao và ít tác động tiêu cực đến môi trường như du lịch sinh thái biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, năng lượng tái tạo biển, công nghiệp sinh học biển và dịch vụ logistics biển hiện đại.
Thứ năm, nâng cao năng lực quản lý biển theo hướng liên ngành, đồng bộ và hiện đại, đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch cho các dự án kinh tế biển xanh. Tăng cường hợp tác liên vùng và quốc tế, tranh thủ các nguồn lực tài chính, khoa học công nghệ từ bên ngoài, đồng thời tham gia sâu rộng vào các chương trình, mạng lưới hợp tác về bảo vệ môi trường biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển đại dương bền vững.
Thứ sáu, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ xanh và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên biển, như sử dụng dữ liệu viễn thám, AI để theo dõi diễn biến môi trường biển, quy hoạch cảng biển, vùng nuôi trồng, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn biển.
Thứ bảy, tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực biển là yêu cầu cấp thiết, với việc đầu tư đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật, công nghệ và quản lý biển đảo, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như giám sát hệ sinh thái, năng lượng tái tạo và kinh tế sinh học biển.
Thứ tám, tích cực hoàn thiện thể chế, cơ chế phối hợp liên ngành liên quan đến phát triển kinh tế biển xanh và bảo tồn hệ sinh thái biển, xây dựng các đề án, dự án trình diễn trong các lĩnh vực, các ngành kinh tế và lựa chọn các địa phương thực hiện phù hợp và kiến nghị Trung ương ban hành cơ chế đặc thù phát triển kinh tế biển xanh cho các khu kinh tế có nhiều tiềm năng, lợi thế đặc biệt về biển như Vân Đồn, Cô Tô, Quảng Yên, nhằm thu hút đầu tư vào các ngành biển công nghệ cao, ít phát thải.
Thứ chín, tăng cường hợp tác liên vùng và quốc tế trong bảo vệ môi trường biển, ứng phó biến đổi khí hậu và tiếp cận các nguồn vốn, công nghệ tiên tiến; chuyển giao công nghệ và học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới liên quan đến phát triển kinh tế biển xanh.
Với cách tiếp cận toàn diện và đồng bộ, tỉnh Quảng Ninh hoàn toàn có thể trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước về phát triển kinh tế biển xanh trong thời gian tới./.
Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền các cấp ở tỉnh Quảng Ninh: Một số kinh nghiệm và gợi ý chính sách  (12/12/2025)
Quảng Ninh phát triển hạ tầng logistics hiện đại, thúc đẩy kinh tế đối ngoại bền vững  (08/12/2025)
Vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả - Góc nhìn từ tỉnh Quảng Ninh  (06/12/2025)
Đặc khu Cô Tô phát triển kinh tế biển bền vững  (05/12/2025)
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
- Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Phát triển mô hình tòa soạn hội tụ đa nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí Việt Nam hiện nay
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm