Từ nửa cuối thế kỷ XX, bắt đầu một cuộc chạy đua về khoa học, thể diện quốc gia, ưu thế công nghệ, sức mạnh quân sự và kinh tế, khởi nguồn từ sự kiện lần đầu tiên Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo của Trái Đất (04-10-1957) và tiếp đến là Mỹ lần đầu tiên đưa người đổ bộ xuống Mặt Trăng (20-07-1969). Đến nay, bị cuốn hút vào cuộc chạy đua trong vũ trụ không chỉ có Nga và Mỹ, mà còn nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Pa-ki-xtan, I-ran, Bra-xin... Liệu khoảng không vũ trụ - "chiến trường thầm lặng" có thể trở thành "chiến trường nóng" trong thế kỷ XXI hay không?.

Vai trò của vũ trụ trong quân sự và kinh tế ngày càng tăng

Các cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (1991), chiến tranh Cô-xô-vô (1999) và chiến tranh I-rắc năm 2003 là thực tế sinh động chứng tỏ rằng các đội quân đội hiện đại phụ thuộc cốt tử vào các phương tiện trinh sát, dẫn đường, chỉ thị mục tiêu bố trí trên vũ trụ. Về phương diện này, Mỹ đã có hệ thống dẫn đường bằng vệ tinh GPS, còn Nga có hệ thống GLONASS và các nước Châu Âu có hệ thống Galileo tương tự như của Mỹ. Không chỉ có thế, vũ trụ còn là cao điểm lý tưởng có tầm bao quát toàn cầu mà từ đó các quốc gia có thể bố trí hoặc triển khai các hệ thống vũ khí có thể tiến công vào bất kỳ mục tiêu nào trên Trái Đất, vào bất cứ thời điểm nào.

Trong lĩnh vực kinh tế, các tổ chức thương mại ngày càng quan tâm đến vũ trụ bởi lẽ, nhiều ngành kinh tế hiện đại sẽ không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu vai trò của các vệ tinh nhân tạo bay quanh Trái Đất làm nhiệm vụ truyền thông. Hiện nay, trên quỹ đạo xung quanh Trái Đất có khoảng 550 vệ tinh, trong đó đa số thực hiện các chức năng dân sự. Một nửa số vệ tinh này là của Mỹ, phần lớn là vệ tinh phục vụ mục đích dân dụng. Nhiều tổ chức thương mại ngày càng bị cuốn hút vào vũ trụ. Thí dụ, hãng truyền thông vệ tinh quốc tế "International Telecom Satellite Organization" đã phóng lên quỹ đạo 60 vệ tinh, nhiều hơn cả số vệ tinh của cả nước Đức và nước Pháp cộng lại. Chỉ tính riêng trong năm 2001, đầu tư của các công ty tư nhân vào các chương trình vũ trụ đã lên tới con số khổng lồ, vào khoảng 100 tỉ USD, và có xu hướng không ngừng gia tăng từ đó tới nay. Trên quy mô thế giới, có khoảng 1.100 hãng và công ty có các hoạt động liên quan đến khai thác khoảng không vũ trụ. Tổng số các đơn đặt hàng của ngành công nghiệp vũ trụ Mỹ hàng năm tăng 20%. Theo dự báo của Tạp chí "Air Force" (Mỹ ), trong 5 năm tới, thế giới sẽ đầu tư khoảng 500 tỉ USD cho các chương trình vũ trụ và sẽ có 1000-1500 vệ tinh mới được phóng lên quỹ đạo.

Hãng nghiên cứu khoa học "Forecast International" dự báo, khối lượng thị trường sản xuất các thiết bị quang học điện tử cho các khí tài vũ trụ trong 10 năm tới sẽ đạt tới con số 15,7 tỉ USD. Thị phần của Mỹ chiếm 61%. Còn nhiều khu vực khác đều hoạt động dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của các hãng công nghiệp ở Mỹ như "Lockheed Martin", "Raytheon", "Rafael", "Northrop", "Grumman" và "Boeing".

Mặt Trăng- “Vùng Vịnh trong thế kỷ XXI”

Theo Viện sĩ Ga-li-môp (Galimov), Giám đốc Viện hoá học địa lý và hoá học phân tích thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga, trong những năm gần đây, giới khoa học và công nghiệp ngày càng quan tâm nhiều đến khả năng sử dụng một dạng tài nguyên năng lượng được khai thác từ Mặt Trăng. Đó chất Hê-li-3, một dạng đồng vị của nguyên tố hoá học có tên là Hê-li. Hê-li-3 sẽ được dùng để tạo ra phản ứng tổng hợp nhiệt hạch có điều khiển. Tại Hội nghị lần thứ 3 về nghiên cứu và khai thác Mặt Trăng được tổ chức ở Mat-xcơ-va năm 1998, hai nhà khoa học Mỹ đã đọc một bản tham luận đầy ấn tượng mang tựa đề "Mặt Trăng - Vùng Vịnh trong thế kỷ XXI", với hàm ý là các mỏ chứa chất Heli-3 trên Mặt Trăng sẽ là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho loài người trên Trái Đất giống như dầu mỏ của Vùng Vịnh hiện nay.

Hiện tại, chi phí để chuyên chở 1kg trọng lượng trên quãng đường từ Trái Đất lên Mặt Trăng và từ Mặt Trăng về Trái Đất vào khoảng 20 nghìn - 40 nghìn USD. Để chuyển 1 tấn Heli-3, cần phải chuyển 2-5 tấn vật liệu đi kèm. Để chuyển 1 tấn Heli-3 từ Mặt Trăng về Trái Đất sẽ phải cần tới 100 triệu USD. Thoạt nhìn có thể thấy đây là con số quá lớn, nhưng thực ra nó chỉ chiếm 1% giá năng lượng mà 1 tấn Heli-3 có thể tạo ra trên Trái Đất. Để tổ chức khai thác Heli-3 trên Mặt Trăng ở quy mô công nghiệp, cần phải phát triển nhiều ngành công nghiệp trên Mặt Trăng. Chi phí để nghiên cứu và phát triển công nghệ này, theo ước tính của các nhà khoa học, vào khoảng 15 tỉ USD nhưng sau đó, lợi nhuận thu được sẽ là con số khổng lồ.

Hiện nay, dầu mỏ và khí đốt chiếm tới 60-80% cán cân năng lượng thế giới. Theo dự báo, với mức độ tiêu thụ như lúc này, dầu mỏ sẽ cạn kiệt vào cuối thế kỷ XXI, thậm chí, một số chuyên gia còn dự báo dầu mỏ sẽ cạn kiệt vào năm 2050 - năm mà dân số thế giới sẽ tăng gấp đôi.

Nếu mức độ tiêu thụ năng lượng tính theo đầu người ở các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ ngang bằng với mức độ tiêu thụ năng lượng ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, thì mức độ tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới có thể tăng 5-8 lần. Theo các chuyên gia, hiện có nhiều nguồn năng lượng thay thế, nhưng tổng cộng lại, không có khả năng hoàn toàn thay thế dầu mỏ và khí đốt.

Trong tương lai, dù các nguồn năng lượng thay thế có lớn đến mức độ nào đi nữa thì việc giải quyết căn bản vấn đề năng lượng của nhân loại chỉ có thể thực hiện được bằng cách sử dụng năng lượng hạt nhân. Nhưng năng lượng hạt nhân do các nhà máy điện nguyên tử hiện nay cung cấp bị hạn chế bởi khối lượng chất thải phóng xạ quá lớn. Việc phát triển hàng loạt nhà máy điện nguyên tử tiềm ẩn những hậu quả chưa thể lường hết được đối với môi trường sinh thái. Để hạn chế hậu quả đó phải sử dụng năng lượng tổng hợp nhiệt hạch, trong đó, công nghệ tổng hợp nhiệt hạch có triển vọng nhất, sạch nhất và an toàn nhất là sử dụng Heli-3. Theo khẳng định của các nhà khoa học, phản ứng tổng hợp nhiệt hạch trên cơ sở Heli-3 là một nguồn năng lượng thay thế dầu mỏ và khí đốt không có đối thủ cạnh tranh. Trong tương lai không xa, công nghệ phản ứng tổng hợp nhiệt hạch dựa trên nguyên tử Heli-3 sẽ tạo ra một nguồn năng lượng gần như vô hạn.

Chiến lược của Mỹ là độc chiếm khoảng không vũ trụ

Theo báo "The Washington Post", ngày 10-10-2006, Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ ký sắc lệnh phê chuẩn "Chính sách vũ trụ quốc gia" - văn kiện đầu tiên xác định các nguyên tắc cơ bản của Mỹ trong khai thác khoảng không vũ trụ và đặt dấu chấm hết đối với việc nghiên cứu soạn thảo các điều luật quốc tế nhằm kiểm soát quá trình chạy đua vũ trang trong vũ trụ. Văn kiện này xác định rõ quyền của Mỹ ngăn chặn "các quốc gia không thân thiện" tiếp cận khoảng không vũ trụ. Theo Oa-sinh-tơn, quyền tự do hành động của Mỹ trong vũ trụ cũng quan trọng như quyền tự do đi lại trên không và trên biển. Bình luận về sắc lệnh của Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ, ông Phơ-re-đơ-rích Giôn (Frederick Jones), đại diện của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ tuyên bố rằng, văn kiện này phản ánh một thực tế là vũ trụ đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống bảo đảm an ninh kinh tế và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Để thực hiện "Chính sách vũ trụ quốc gia", Mỹ đưa ra "Chiến lược vũ trụ quân sự", trong đó xác định 6 nhiệm vụ chủ yếu của Mỹ trong vũ trụ. Một là, liên tục kiểm soát khoảng không vũ trụ và kiểm soát tình hình toàn cầu bằng các phương tiện vũ trụ của Mỹ. Hai là, chủ động bảo đảm cho Mỹ quyền tự do tiếp cận khoảng không vũ trụ để tiến hành các hoạt động quân sự và các hoạt động khác trong vũ trụ, từ vũ trụ và thông qua vũ trụ. Nhiệm vụ này bao gồm ngăn chặn bất kỳ một nỗ lực nào của các đối phương tiềm tàng có ý định gây khó khăn cho Mỹ tiếp cận khoảng không vũ trụ. Ba là, bảo vệ và phòng thủ cho các phương tiện và hệ thống vũ trụ của Mỹ chống lại bất kỳ hành động nào từ phía các phương tiện vũ trụ và các phương tiện khác của đối phương. Bốn là, hệ thống phòng chống tên lửa chiến lược và các công binh chủng khác Mỹ cần phải được bảo đảm bằng các phương tiện phòng thủ vũ trụ. Năm là, triển khai và sử dụng trong chiến đấu các phương tiện vũ trụ phòng thủ và tiến công phi hạt nhân trong vũ trụ và từ vũ trụ; triển khai và sử dụng các phương tiện của hệ thống vũ trụ để chỉ huy và quản lý nhà nước và hoạt động quân sự thời bình cũng như thời chiến. Sáu là, ngăn chặn các đối phương tiềm tàng tiếp cận vào khoảng không vũ trụ nhằm mục đích quân sự, không để cho họ triển khai các phương tiện tiến công trong vũ trụ và sử dụng các phương tiện đó trong vũ trụ và từ vũ trụ để chống lại Mỹ.

Nói chung, chiến lược vũ trụ - quân sự của Mỹ trong Chiến lược an ninh quốc gia nhằm mục đích thực hiện một cách có hiệu quả nhất các nguyên tắc của chính sách hạt nhân cũng như chính sách kiềm chế phi hạt nhân trong các cuộc chiến tranh quy mô toàn cầu, khu vực và cục bộ.

Nga dự kiến đưa người lên sao Hỏa vào năm 2020

Trong hơn nửa thế kỷ, Liên Xô trước đây, nay là Nga, chạy đua với Mỹ nhằm giành ưu thế quân sự trong vũ trụ. Tới năm 1991, khi đã ở đỉnh cao của tiềm lực quân sự, Liên Xô vẫn lạc hậu so với Mỹ trong một số lĩnh vực công nghệ vũ trụ. Liên Xô chỉ chiếm ưu thế so với Mỹ ở 5 lĩnh vực trong số 31 lĩnh vực, trong đó có 2 lĩnh vực là phòng chống tên lửa và các chương trình chống vệ tinh của đối phương có liên quan trực tiếp với vũ trụ. Trong 9 lĩnh vực khác, cả hai nước có khả năng như nhau. Cuộc chạy đua quân sự giữa hai siêu cường, trong đó có chạy đua vũ trụ quân sự, đã dẫn tới chỗ cả hai bên đều nhận thấy phải có sự hợp tác trong lĩnh vực vũ trụ và bắt đầu thực hiện các đề án phối hợp trong vũ trụ. Kết quả là các phi công vũ trụ Nga đã bay lên vũ trụ trên các tàu con thoi của Mỹ, còn các phi công vũ trụ của Mỹ được đến thăm trạm quỹ đạo "Hòa Bình" của Nga. Các công trình nghiên cứu vũ trụ của Nga được sử dụng ở Mỹ và các tên lửa của Nga phóng vệ tinh của Mỹ lên quỹ đạo. Cả hai nước đều tham gia vào các đề án xây dựng sân bay vũ trụ quốc tế trên biển "Sea Launch" và xây dựng trạm vũ trụ quốc tế ISS. Đầu năm 2008, Tổng thống Nga V.Pu-tin đã ký sắc lệnh thành lập Cục hàng không vũ trụ quốc gia của Liên bang Nga, với chức năng giống như Cục hàng không vũ trụ quốc gia của Mỹ, mở đầu những nỗ lực mới của Nga hướng tới cuộc hành trình tiếp tục chinh phục và khai phá con đường đi vào vũ trụ.

Về khả năng chiến tranh trong vũ trụ, Tư lệnh Quân chủng vũ trụ Nga, thượng tướng Pô-pốp-kin nhận xét: "Nếu các nước trên thế giới chế tạo và triển khai các phương tiện tiến công vũ trụ thì Nga sẽ phải áp dụng các biện pháp cần thiết vừa có tính phòng thủ, vừa có tính tiến công. Trong những năm 1970-1980, Liên Xô đã thử nghiệm thành công vũ khí chống vệ tinh. Nhưng từ đó đến nay, nước Nga chỉ đấu tranh nhằm giải trừ vũ trang trong vũ trụ". Còn trong lĩnh vực khai thác vũ trụ vào mục đích hoà bình, Nga đã có kế hoạch và chương trình phát triển ngành công nghiệp Mặt Trăng, thậm chí cả chương trình đưa người lên Sao Hoả. Dự báo, đến năm 2020, Nga sẽ đưa người đổ bộ lên "hành tinh đỏ".

Quân chủng vũ trụ của Ấn Độ

Nguyên soái không quân, Tư lệnh không quân Ấn Độ, ông Tơ-va-gi (Tvagi), tuyên bố rằng, Ấn Độ đang bước đầu đặt nền móng để xây dựng Quân chũng vũ trụ nhằm giải quyết các nhiệm vụ trong không gian. Tuyên bố này là tín hiệu chứng tỏ sự ra đời của một cường quốc vũ trụ quân sự mới, thách thức vị thế của Mỹ trong lĩnh vực này. Theo Nguyên soái Tơ-va-gi, sự hiện diện trong vũ trụ là cần thiết không chỉ đối với các lực lượng vũ trang mà là cả Ấn Độ, một quốc gia đang phát triển rất nhanh và không bao lâu nữa sẽ trở thành một nền kinh tế hàng đầu thế giới.

Còn tiến sĩ Vi-khơ-ram Xa-rap-hai - người được mệnh danh là "Cô-rô-lép của Ấn Độ", là người đặt nền móng cho Cục vũ trụ Ấn Độ (ISRO), đã từng xác định các nhiệm vụ chiến lược đầu tiên cho tổ chức này là tạo khả năng cho Ấn Độ hoạt động độc lập trong vũ trụ, tiến hành phóng các khí tài nghiên cứu khoa học và vệ tinh thuộc hệ thống thăm dò Trái Đất từ xa và các tàu vũ trụ bay trên quỹ đạo địa tĩnh phục vụ nhiệm vụ truyền thông. Ấn Độ đã hoàn thành nhiệm vụ phóng tên lửa vũ trụ do họ tự chế tạo PSLV (Polar Satellite Launch Vehicle) vào năm 1997, có khả năng đưa các khí tài vũ trụ lên quỹ đạo thấp xung quanh Trái Đất. Như vậy, Ấn Độ đã có khả năng xây dựng được “cộng đồng” vệ tinh truyền thông riêng. Theo xác nhận của các chuyên gia, Ấn Độ đạt được những thành tựu đó là nhờ sự giúp đỡ của Nga. Tuy nhiên, phải cần một thời gian khá dài nữa Ấn Độ mới có thể sử dụng các biện pháp sức mạnh trong vũ trụ để chống lại các khí tài vũ trụ của đối phương như tiêu diệt tàu vũ trụ bay trên quỹ đạo hoặc đánh chặn đầu đạn tên lửa xuyên lục địa trên đoạn quỹ đạo bay ngoài khí quyển. Năm 2007, với sự giúp đỡ của Nga, Ấn Độ đã phóng vệ tinh sử dụng hệ thống dẫn đường và định vị toàn cầu thuộc hệ thống GLONASS. Ngày 11-6-2008, Ấn Độ tuyên bố thành lập Cơ quan vũ trụ tổng hợp (ISC) nhằm đối phó với các hệ thống vũ trụ của các nước khác, trong đó có cả vũ khí chống vệ tinh, tên lửa đẩy cỡ nhỏ dùng cho hệ thống tác chiến trong vũ trụ.

Trung Quốc lên kế hoạch chinh phục và khai thác Mặt Trăng

Vệ tinh nhân tạo đầu tiên "Đông Phương Hồng" của Trung Quốc được phóng lên quỹ đạo ngày 24-04-1970 bằng tên lửa mang CZ-1 của chính họ. Từ vệ tinh này, Trung Quốc phát đi bản nhạc "Đông Phương Hồng" mà tên gọi đã được đặt cho tên các vệ tinh của Trung Quốc. Trong những năm 1980, Trung Quốc đã phóng 2 vệ tinh "Đông Phương Hồng-2" lên quỹ đạo địa tĩnh, có tính năng không thua kém các vệ tinh thương mại của phương Tây được phóng lên quỹ đạo vào những năm 1960. Đến thời điểm vệ tinh Đông Phương Hồng-2 hết thời hạn sử dụng, Trung Quốc đã phóng 3 vệ tinh truyền thông Đông Phương Hồng-2A cải tiến hơn vào ngày 07-03-1988. Sau đó, Trung Quốc phóng tiếp các vệ tinh "Đông Phương Hồng-3" và "Đông Phương Hồng-4" để truyền trực tiếp tín hiệu mà không cần qua trạm chuyển tiếp trung gian trên mặt đất. Ngày 22-12-1988 và 04-02-1990, Trung Quốc phóng vệ tinh mang tên quốc tế là "Chinasat-1", "Chinasat-2", "Chinasat-3". Đến năm 2010, tổng số các khí tài vũ trụ của Trung Quốc trên quỹ đạo có thể vượt qua con số 100 vệ tinh nhân tạo có công dụng khác nhau. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ đưa hơn 100 vệ tinh lên quỹ đạo vào những năm 2010-2020.

Trung Quốc đã thông qua chương trình hợp tác với Nga trong lĩnh vực vũ trụ cho những năm 2007-2009 với 38 đề án. Hai bên đã bắt đầu công việc chuẩn bị đưa người lên Mặt Trăng. Cách đây hai năm, Trung Quốc đã tuyên bố về kế hoạch chinh phục và khai thác Mặt Trăng. Bước đầu tiên là phóng tàu vũ trụ không người lái lên Mặt Trăng vào năm 2010. Bước tiếp theo sẽ là phóng tàu vũ trụ không người lái lên Sao Hoả. Các chuyên gia cho rằng, công nghiệp và khoa học vũ trụ của Trung Quốc có khả năng tự mình thực hiện những đề án đó. Khả năng tài chính của Trung Quốc, tiềm năng kỹ thuật của Nga với các đề án tàu vũ trụ có người lái và tổ hợp tên lửa mang hạng nặng có độ tin cậy cao cũng như mô hình tàu đổ bộ lên Mặt Trăng của Liên Xô trước đây, có thể đem lại một tương lai sáng sủa cho chương trình vũ trụ của Trung Quốc một khi Nga và Trung Quốc cùng hợp tác với nhau.

Thay lời kết

Theo nhận xét của các nhà khoa học Nga và thế giới, thế kỷ XXI sẽ là “thế kỷ của khoa học vũ trụ” vì chính ngành khoa học này đang tiềm ẩn những khám phá khoa học và công nghệ hoàn toàn mới, có thể làm thay đổi căn bản quan niệm về cuộc sống của con người trên Trái Đất. Loài người đang đứng trước ngưỡng cửa của những phát minh vĩ đại liên quan tới khoa học vũ trụ. Người Nga đang có đề án chế tạo các phương tiện truyền thông với tốc độ vượt xa tốc độ ánh sáng! Nếu hiện nay việc liên lạc với Sao Hoả mất 27 phút thì trong tương lai mối liên lạc đó sẽ gần như tức thời. Người Nga cũng đang trên đường xây dựng các luận thuyết khoa học mới nhằm khai thác "năng lượng đen" và "vật chất đen" trong khoảng không vũ trụ. Thành tựu kỳ vĩ đó sẽ mở ra bước ngoặt có tính chất đột phá cách mạng trong khoa học và công nghệ mà trước đây chỉ có trongchuyện khoa học viễn tưởng.

Trong bối cảnh đó, giữa các cường quốc Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ... đang bắt đầu một cuộc chạy đua mới trong kỷ nguyên vũ trụ. Cuộc chạy đua này sẽ tác động đến sự phát triển của thế giới như thế nào, đưa nhân loại tới đâu, cho đến nay chưa ai có thể dự đoán trước được./.