Đắc Nông đẩy mạnh khuyến nông, khuyến ngư

Trần Xuân Hiền
10:15, ngày 18-08-2008

Là một tỉnh miền núi có diện tích tự nhiên lớn, trên 80% dân số là nông dân, nhưng đời sống của đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đắc Nông còn gặp nhiều khó khăn. Bằng nỗ lực vượt khó, những năm gần đây, Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc tỉnh Đắc Nông đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chương trình xóa đói giảm nghèo, hướng đến một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững, xây dựng nông thôn mới tiến bộ, trước hết là từ chủ trương đẩy mạnh thực hiện khuyến nông, khuyến ngư.

Trên cơ sở điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương, nhất là từ nhận thức vị trí, vai trò quan trọng của sản xuất nông nghiệp đối với đời sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh, những năm gần đây, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Nông đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư một cách toàn diện, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trên một đơn vị diện tích, từng bước giảm nghèo, thiết thực cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Nhờ coi trọng công tác phát triển hệ thống khuyến nông, khuyến ngư từ tỉnh đến thôn, bon, buôn, đến nay toàn tỉnh đã có 70/71 xã, phường, thị trấn có cán bộ khuyến nông; 87,5% số thôn, bon, buôn có cộng tác viên khuyến nông; 100% bon, buôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận với công tác này. Hệ thống khuyến nông toàn tỉnh đã đi vào hoạt động ổn định, đồng bộ và hiệu quả.
 
Để chủ trương này đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả, tỉnh chỉ đạo các ban, ngành, trước hết là ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của tỉnh tập trung triển khai công tác xây dựng mô hình trình diễn về nông nghiệp, coi đây là giải pháp trọng tâm để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi. Nhiều chương trình và mô hình trình diễn đã được tiến hành và khuyến khích nông dân áp dụng vào sản xuất, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao như: chương trình đưa lúa lai vào vùng khó khăn; cải tạo và thâm canh cây cà phê; trồng thâm canh cây ca cao, cây ngô lai, đậu đỗ; sản xuất rau, củ, quả an toàn; cải tạo đàn bò; trồng cỏ sả, cỏ VA-06 để chăn nuôi; chăn nuôi gia cầm; nuôi thâm canh cá nước ngọt; xây dựng các mô hình nông - lâm kết hợp, canh tác bền vững trên đất dốc chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái; các chương trình trồng tre lấy măng, trồng keo lai, v.v..

Thông qua thực hiện khuyến nông, khuyến ngư, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã xây dựng được chiến lược về giống cây trồng, vật nuôi phù hợp. Cùng với việc xây dựng và triển khai các chương trình khuyến nông, trong đó có nhiều mô hình trình diễn được chuyển giao đến nông dân, việc tiếp nhận các tiến bộ kỹ thuật mới từ các viện, trường, doanh nghiệp cũng được tiến hành thường xuyên nhằm khảo nghiệm, xác định các giống cây trồng, vật nuôi thích hợp cho từng vùng, từng địa phương. Những năm gần đây, nhiều cây trồng, vật nuôi với giống năng suất cao đã được khảo nghiệm và ứng dụng vào sản xuất như các giống ngô lai C919, 3Q; các giống lúa lai Nhị ưu 838, Nghi hương 2308; giống bò lai Sin; các giống cỏ sả, cỏ VA-06, v.v.. bước đầu đã thích ứng với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của tỉnh, đang từng bước được triển khai trên diện rộng.

Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức làm công tác khuyến nông, khuyến ngư của tỉnh ngày càng được củng cố, phát triển về số lượng, nâng cao về trình độ nghiệp vụ; được bố trí đúng ngành, nghề đào tạo, bảo đảm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đến nay, toàn tỉnh có 120 cán bộ khuyến nông, trong đó có 35,5% cán bộ có trình độ đại học, 8,26% có trình độ cao đẳng; được bố trí từ tỉnh đến các xã, phường, thị trấn (với 100% số huyện, thị trong tỉnh đều có trạm khuyến nông), chưa kể 622 cộng tác viên khuyến nông ở các thôn, buôn, bon, giúp cho bà con nông dân nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là cập nhật được những kiến thức về khoa học - kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất để nâng cao năng suất, giá trị cây trồng, vật nuôi. Từ năm 2006 đến nay, tỉnh đã tổ chức đào tạo nghiệp vụ khuyến nông cho 168 khuyến nông viên; mở 24 lớp tập huấn cho 648 khuyến nông viên và cộng tác viên khuyến nông ở cơ sở; mở 71 lớp tập huấn về công tác khuyến nông, khuyến ngư, thu hút 11.537 nông dân tham gia, trong đó có trên 6.000 lượt người là đồng bào các dân tộc thiểu số.

Cùng với triển khai hoạt động thực tiễn, công tác tuyên truyền về khuyến nông, khuyến ngư được tỉnh quan tâm, chú trọng. Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh đã xây dựng chuyên mục “Khuyến nông, khuyến ngư” phát sóng trên đài tỉnh và đài phát thanh - truyền hình các huyện, thị. Thời gian qua, đã in ấn và xuất bản 6 số tập san khuyến nông, 12 loại tờ tài liệu bướm kịp thời hướng dẫn bà con nông dân khắc phục lũ lụt, chống hạn, phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; hướng dẫn tiêu độc khử trùng, tiêm phòng dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, v.v..

Công tác khuyến nông, khuyến ngư ở Đắc Nông đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, trong đó có sự bố trí mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Qua đó, góp phần làm tăng giá trị sản xuất (từ 16,8 triệu đồng lên 20,3 triệu đồng/ha canh tác), duy trì tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp bình quân hàng năm là 6,1%; giảm tỷ lệ đói nghèo từ 33,73% trước đây xuống còn dưới 14% hiện nay (theo chuẩn mới); riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ trên 64% (năm 2007) xuống còn 47% hiện nay và đang phấn đấu đến năm 2010 sẽ đạt tỷ lệ hộ nghèo ngang với mức bình quân chung của cả nước.

Phát huy những kết quả đạt được trong công tác “hai khuyến”, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Nông xác định trong thời gian tới sẽ tiếp tục chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

Một là, chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 08, ngày 24-7-2006 của Tỉnh ủy “Về phát triển khuyến nông, khuyến ngư giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020”, nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác khuyến nông, khuyến ngư; trên cơ sở đó xây dựng chương trình hành động và kế hoạch cụ thể để triển khai có hiệu quả công tác này, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Hai là, tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ khuyến nông, điều chỉnh phụ cấp cho khuyến nông viên và cộng tác viên cơ sở. Tập trung xây dựng các mô hình khuyến nông, khuyến ngư phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, làm cơ sở cho việc khuyến cáo nhân rộng mô hình sản xuất trên toàn địa bàn, nhất là ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa của tỉnh.

Ba là, mở rộng liên kết với các trung tâm nghiên cứu, các viện, trường để tiếp nhận các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời huy động mọi nguồn lực phục vụ cho việc chuyển giao nhanh các tiến bộ đó đến người nông dân. Phát huy mối liên kết chặt chẽ và làm tốt vai trò cầu nối, xúc tác mối quan hệ “4 nhà” (nhà nông - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - nhà nước) trong sản xuất nông nghiệp.

Bốn là, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh như giao thông nông thôn, củng cố, phát triển hệ thống thủy lợi; đầu tư cho chương trình phát triển giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên nhằm phát huy thế mạnh của từng vùng.

Năm là, đẩy mạnh việc chuyển giao các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp; đẩy nhanh quá trình xã hội hóa công tác khuyến nông, khuyến ngư; tạo môi trường thuận lợi cho nông dân có cơ hội tiếp cận các nguồn lực tín dụng, khoa học - công nghệ, thị trường, v.v.. để có thể đạt năng suất, sản lượng, chất lượng và nâng cao giá trị các sản phẩm nông - ngư nghiệp.

Sáu là, tiếp tục duy trì và thực hiện đa dạng hoá các hình thức thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và giúp nông dân thấy được lợi ích thiết thực của công tác khuyến nông, khuyến ngư cũng như nắm bắt kịp thời các tiến bộ khoa học - kỹ thuậtvề nông nghiệp để ứng dụng nhanh chóng và hiệu quả vào quá trình sản xuất./.