TCCSĐT- Ngày 7-4-2012, tại thành phố Cần Thơ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ tổ chức Hội nghị “Tổng kết công tác xây dựng và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2006-2010 và định hướng phát triển giai đoạn 2011-2015”. Đồng chí Hoàng Trung Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm đến dự và chủ trì Hội nghị.

Tham dự Hội nghị còn có đại diện các bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông - Vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương, Lao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo, Thông tin và Truyền thông, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và lãnh đạo 24 tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) trong cả nước.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước hiện có 4 vùng KTTĐ chiếm 27,42% diện tích và 51,27% dân số cả nước. Đó là: vùng KTTĐ Bắc Bộ với 7 tỉnh, thành (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên); vùng KTTĐ miền Trung với 5 tỉnh, thành (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định); vùng KTTĐ phía Nam với 8 tỉnh, thành (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang) và vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long với 4 tỉnh, thành (thành phố Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau).

Trong giai đoạn 2006-2010, các vùng KTTĐ đã phát triển khá toàn diện, có tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn bình quân cả nước, vươn lên trở thành trung tâm kinh tế của vùng, lãnh thổ, là đầu mối giao lưu trong nước và quốc tế, tạo động lực cho sự phát triển cả nước.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của các vùng KTTĐ trong giai đoạn này đạt 10,98%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo ra nhiều sản phẩm chủ lực cho phát triển chung của cả nước; thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 34,6 triệu đồng, gấp 1,36 lần so với bình quân cả nước; tổng vốn đầu tư xã hội đạt 2.684 nghìn tỉ đồng; tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 280 tỉ USD, chiếm 89,9% cả nước...

Cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và mạng lưới kết cấu hạ tầng liên vùng được tăng cường đầu tư cả về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực, đáp ứng cơ bản yêu cầu phát triển, hợp tác.

Đến nay, nhiều trục giao thông đường bộ huyết mạch có tính liên vùng đã được xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp; nhiều sân bay lớn như: Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và nhiều cảng biển, cảng nước sâu trong các vùng KTTĐ đã được xây dựng, nâng cấp; xây dựng 157 khu công nghiệp, hình thành và phát triển 8 khu kinh tế ven biển; 90% hộ dân được cấp nước sạch, 100% số xã và vùng nông thôn có điện sử dụng.

Các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội phát triển khá, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, góp phần bảo vệ môi trường.

Giai đoạn 2006-2010, các vùng KTTĐ đã tạo việc làm mới cho 5,47 triệu lao động, chiếm 67,87% cả nước; tỷ lệ hộ nghèo giảm 2-3%/năm, đến năm 2010 còn bình quân khoảng 10% (cả nước 14,2%).

Trong công tác điều phối phát triển giai đoạn 2006-2010, các bộ, ngành và các địa phương trong vùng KTTĐ đã chú trọng giải quyết các vấn đề liên vùng về giao thông, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, cấp thoát nước, đào tạo nghề…

Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều đại biểu tại Hội nghị, bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các vùng KTTĐ thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể là:

- Mặc dù có sự phát triển kinh tế năng động nhưng các vùng KTTĐ vẫn chưa tạo ra sự tăng tốc và khả năng cạnh tranh, chủ yếu vẫn dựa vào nhân tố phát triển theo chiều rộng, chất lượng và hiệu quả thấp; sức tác động lan tỏa của các vùng KTTĐ đến các địa phương khác còn hạn chế

- Cơ cấu lao động chuyển dịch khá nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chất lượng lao động thấp, tỷ lệ thất nghiệp còn cao...

- Kết cấu hạ tầng tuy có cải thiện đáng kể nhưng chưa đồng bộ, chưa hợp lý, đang trong tình trạng ngày càng quá tải, hạn chế sự gắn kết phát triển liên vùng. Tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm nguồn nước và xử lý chất thải rắn đang là vấn đề “nóng” ở các vùng KTTĐ.

- Xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao còn chậm; công tác đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng; quản lý nhà nước trong liên kết đào tạo còn nhiều bất cập, chất lượng nguồn nhân lực thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

- Trong công tác chỉ đạo, điều phối, ban chỉ đạo chưa có quy định cụ thể để bảo đảm nguồn lực thực hiện các quyết định đặc biệt trong đầu tư phát triển; trong mỗi vùng KTTĐ thiếu vai trò “nhạc trưởng” chỉ đạo kết nối việc phối hợp giữa các địa phương trong vùng và các bộ, ngành Trung ương.

Một số nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại được Hội nghị xác định là: Do mong muốn phát triển nhanh để tránh tụt hậu nên một số mục tiêu phát triển vùng đề ra thiếu tính thực tế, vượt khả năng thực hiện; chưa tạo được mối liên kết cần thiết trong phát triển giữa các vùng KTTĐ với các vùng khác; thiếu sự phân công hợp tác, đầu tư trùng lắp gây lãng phí và làm giảm sức cạnh tranh; một số địa phương trong các vùng KTTĐ ban hành các cơ chế, chính sách theo kiểu “xé rào” đã gây ra sự phát triển chồng chéo; nguồn vốn cho đầu tư phát triển chưa đáp ứng yêu cầu quy hoạch phát triển các vùng KTTĐ (mới đáp ứng khoảng 30%), hiệu quả đầu tư thấp…

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải biểu dương những nỗ lực và kết quả mà các các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành đã đạt được trong hoạt động điều phối, phối hợp chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội ở 4 vùng KTTĐ thời gian qua. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các vùng KTTĐ nhìn chung vẫn chưa có những sản phẩm có tính đột phá, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao; hiệu quả đầu tư còn thấp; chất lượng quy hoạch, công tác quản lý và thực hiện quy hoạch còn nhiều yếu kém; trong công tác điều phối, các bộ, ngành địa phương tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn lúng túng, hiệu quả chưa cao…

Trong giai đoạn 2011-2015, các địa phương trong các vùng KTTĐ cần  bám sát mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra là: ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó, phải đặc biệt quan tâm đến việc phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và các địa phương trong các vùng KTTĐ để bảo đảm các hoạt động mang tính kết nối cao; từng vùng, từng địa phương phải thường xuyên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội.

Về các nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2011-2015, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu các bộ, ngành và các địa phương quan tâm rà soát, điều chỉnh quy hoạch và chỉ đạo thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp với quy hoạch phát triển các vùng KTTĐ sẽ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong thời gian tới. Song song đó, cần quan tâm xây dựng, ban hành các cơ chế đặc thù ưu đãi cho các vùng KTTĐ; tập trung tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu doanh nghiệp, tập trung đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… để các vùng KTTĐ xứng đáng là đầu tàu phát triển kinh tế cả nước.

Hội nghị đã xác định mục tiêu tổng quát phát triển các vùng KTTĐ giai đoạn 2011 -2015 là: “Kiên trì quan điểm xây dựng các vùng KTTĐ đảm nhận vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, tận dụng tối đa năng lực hiện có về kết cấu hạ tầng, khoa học – công nghệ, các khu kinh tế, khu công nghiệp, cơ sở dịch vụ, lao động kỹ thuật… để có tốc độ tăng trưởng GDP cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng của cả nước và lôi kéo, hỗ trợ các vùng khác, nhất là các vùng có điều kiện khó khăn cùng phát triển, nhằm đưa nước ta vào hạng các quốc gia phát triển trong khu vực ASEAN”.

Một số chỉ tiêu cụ thể giai đoạn 2011-2015:

- Tốc độ tăng trưởng GDP của 4 vùng KTTĐ đạt bình quân 9-10%/năm, gấp 1,3 -1,4 lần tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước.

 - Nâng tỷ trọng GDP của các vùng KTTĐ so với cả nước từ 67% năm 2010 lên 75% vào năm 2015; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 khoảng 3.000 USD/người, gấp 1,5 lần so với bình quân cả nước.

- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nâng cao chất lượng giao thông - vận tải trên cơ sở cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống cảng biển, đường sắt, đường ô tô, đường thủy, đường hàng không…

- Đẩy mạnh tốc độ đô thị hoá, xây dựng đô thị thành các trung tâm phát triển, thúc đẩy tăng trưởng; phấn đấu giải quyết việc làm mới cho khoảng 5,5 triệu lao động (cả nước 7,9 triệu lao động), tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015 đạt 62% (cả nước 55%).

- Tăng cường sự chỉ đạo, điều phối, phối hợp của các bộ, ngành và các địa phương trong công tác quy hoạch; huy động vốn đầu tư và thực hiện các dự án mang tính đột phá, các ngành công nghiệp then chốt, các dự án công trình hạ tầng đầu mối, có tính thúc đẩy liên kết vùng, liên quan đến nhiều địa phương; rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư mang tính đặc thù cho từng vùng KTTĐ; phát triển mạnh đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sử dụng lao động; thiết lập hệ thống và cung cấp thông tin hỗ trợ phát triển; phối hợp ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường./.