TCCSĐT - Tiền Giang là cửa ngõ giao thương quan trọng về nông - thủy sản hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Với diện tích đất tự nhiên trên 248.400 héc-ta, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 77%, là điều kiện để Tiền Giang trở thành tỉnh trọng điểm về sản xuất lương thực, thực phẩm, trong đó lúa gạo có vị trí hết sức quan trọng đối với đời sống kinh tế của người nông dân tỉnh Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung.


Nhận diện lợi thế và thực trạng

Đối với tỉnh Tiền Giang, lúa là cây lương thực trọng điểm của tỉnh, thích ứng hầu hết các vùng đất trên địa bàn, sản lượng hằng năm khoảng 1,3 triệu tấn, năng suất bình quân 53 tạ/héc-ta. Năm 2009, tuy gặp nhiều khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu tác động, song sản lượng lương thực xuất khẩu của tỉnh vẫn đạt được hơn 137.000 tấn, với kim ngạch xuất khẩu hơn 53 triệu USD. Là tỉnh góp phần quan trọng để vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành khu vực xuất khẩu gạo lớn nhất cả nước (hằng năm chiếm khoảng 90% sản lượng cả nước) đến thị trường chủ yếu là các nước châu Á (chiếm khoảng 70%).

Theo số liệu tổng hợp của Ủy ban nhân dân tỉnh, trong 5 năm qua (2006-2010), Tiền Giang đã tham gia xuất khẩu khoảng 865.000 tấn gạo, tổng kim ngạch khoảng 338 triệu USD. Với vị thế này, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn quan tâm, tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung và sản xuất lúa, gạo nói riêng, do đó các lĩnh vực: kết cấu hạ tầng, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến… được chú trọng, góp phần tạo nền tảng cho kinh tế lúa gạo phát triển ổn định, bảo đảm an ninh lương thực cũng như xuất khẩu.

Theo dự báo của các chuyên gia, trong thời gian tới phát triển kinh tế lúa, gạo sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức, đáng chú ý nhất là diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp; năng suất cây lương thực, trong đó có lúa sẽ tăng chậm; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp và gây thiệt hại ngày càng lớn. Chính vì vậy, cùng với việc chỉ đạo triển khai các chương trình thực hiện hằng năm đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng nói chung, tỉnh Tiền Giang đã chủ động xây dựng “Chương trình phát triển lúa, gạo của tỉnh giai đoạn 2011- 2015” là một chủ trương rất đúng đắn, kịp thời.

Thời gian qua, tỉnh không ngừng đẩy mạnh công tác nghiên cứu và triển khai áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; bước đầu thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất đem lại hiệu quả cao, giảm sức lao động, tăng năng suất và lợi nhuận. Đáng chú ý là nhiều tiến bộ kỹ thuật tiếp tục được ứng dụng và chuyển giao vào sản xuất thông qua các chương trình giống, khuyến nông; bảo vệ thực vật; “3 giảm, 3 tăng”; dự án sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GlobalGAP với mô hình “sử dụng công nghệ sinh thái để quản lý rầy nâu và bệnh virút trên lúa”,… góp phần tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, hạ giá thành sản xuất lúa gạo. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp không ngừng được củng cố và hoàn thiện, nhất là hệ thống thủy lợi; làm tốt công tác quản lý dịch hại, khống chế được bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, khắc phục hậu quả thiên tai. Hoạch định đúng hướng phát triển kinh tế lúa, gạo theo hướng an toàn, chất lượng. Bên cạnh đó, nông dân Tiền Giang có trình độ thâm canh cao, cần cù, chịu khó và nhạy bén trong việc tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.

Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp đã triển khai 49 đề tài, dự án về: nhân rộng kết quả nghiên cứu của đề tài ứng dụng công nghệ sinh học phục tráng giống nếp bè đặc sản tại Tiền Giang; phát triển vùng lúa chất lượng cao an toàn tại Mỹ Thành Nam - Cai Lậy; xây dựng mô hình sản xuất giống lúa xác nhận để nâng cao chất lượng và độ đồng đều sản phẩm lúa gạo huyện Gò Công Đông... Theo đó, hình thành vùng chuyên canh nếp bè với giống được phục tráng; tỉ lệ nông hộ sử dụng giống chất lượng cao, đặc sản chiếm 80 - 85%; hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông hộ vùng dự án tăng so với canh tác giống lúa thường, trong đó lúa chất lượng cao tăng 25 - 30%, lúa thơm, lúa đặc sản và nếp bè tăng 1,5 - 2 lần so với lúa thường, góp phần tăng giá trị sản lượng trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Đáng chú ý, hiện nay, tỉnh Tiền Giang có 7 đơn vị tham gia sản xuất và cung ứng lúa giống có chất lượng cao, đặc biệt, Tiền Giang đã và đang rất chú trọng thực hiện chương trình sản xuất lúa đạt tiêu chuẩn GAP… đó là những điều kiện thuận lợi, và cũng là nền tảng cho lúa gạo của Tiền Giang phát triển bền vững hơn trong thời gian tới.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, chiến lược phát triển lúa gạo của tỉnh vẫn còn không ít khó khăn cần tập trung khắc phục, đó là: công tác triển khai thực hiện quy hoạch còn chậm; diện tích sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chưa nhiều; sản xuất theo tiêu chuẩn GAP vẫn gặp khó khăn trong tiêu thụ; thị trường nông sản bất ổn; ý thức của nông dân và người tiêu dùng về sản phẩm an toàn chưa cao; điều đáng lo ngại đó là diện tích đất trồng lúa giai đoạn 2006 - 2010 có xu hướng giảm. Điều kiện thời tiết thất thường, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng nhất định đến năng suất lúa; thiếu các giống lúa chống chịu với các dịch hại và điều kiện khó khăn do biến đổi khí hậu. Hệ thống kho để bảo quản, tồn trữ chưa bảo đảm yêu cầu, hệ thống chế biến và công nghệ chưa đồng bộ nên tổn thất trong khâu thu hoạch và sau thu hoạch lúa còn cao. Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chưa quan tâm đến xây dựng, công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa và thương hiệu hàng hóa lưu thông trên thị trường. Tổ chức sản xuất còn nhỏ lẻ, sự liên kết “4 nhà” (Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp) còn lúng túng; sản xuất chưa gắn với thị trường, sự liên kết trong sản xuất – chế biến – tiêu thụ thiếu chặt chẽ. Hình thức tiêu thụ lúa, gạo thông qua hợp đồng còn nhiều bất cập, giá bán không cao nên hiệu quả thấp, vì thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản trong và ngoài nước thường xuyên biến động, ngày càng cạnh tranh gay gắt; nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO thì yêu cầu về chất lượng hàng hoá nông sản, an toàn vệ sinh thực phẩm rất khắt khe, trong khi chất lượng nông sản hàng hoá của ta thấp, giá thành cao, an toàn vệ sinh thực phẩm chưa bảo đảm, là thách thức khi hội nhập kinh tế thế giới và khu vực. Mặt bằng về trình độ sản xuất, kỹ năng và kỹ thuật chưa cao, thiếu đồng đều (kiến thức chuyên môn, tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, sản xuất theo tiêu chuẩn GAP) dẫn đến chênh lệch năng suất giữa các hộ trồng lúa với nhau. Tình trạng độc canh cây lúa đã ảnh hưởng rất lớn đến sự cạn kiệt dưỡng chất, sinh ra nhiều độc chất, ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng đối với lúa gạo trong những năm tới. Tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn ngày càng trầm trọng do các chất thải từ sản xuất, sinh hoạt, nhất là trong các dự án thuỷ lợi khép kín gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất… Vốn đầu tư cho nông nghiệp, nhất là đầu tư các lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hoá thấp, không đồng bộ.

Dự báo thị trường và mục tiêu thực hiện

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) dự báo: nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nông sản trên thế giới ngày càng cao do mức tăng trưởng kinh tế và dân số toàn cầu đến năm 2015 là rất lớn. Vì vậy, thị trường xuất khẩu hàng hóa nông sản có nhiều triển vọng, ngoài thị trường truyền thống, các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, các nước công nghiệp mới châu Á đang có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các sản phẩm nông sản của Việt Nam. Trong khi, thị trường xuất khẩu gạo thời gian tới được đánh giá rất triển vọng vì nhiều nước trên thế giới đang đều có xu hướng chuyển đất nông nghiệp để phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp nên dự kiến trong thời gian tới giá gạo sẽ tăng. Châu Á (Philippine, Trung Quốc, Indonesia, Iran, Iraq) vẫn tiếp tục là thị trường chủ yếu của gạo nước ta, và cạnh tranh với hàng xuất khẩu gạo của Việt Nam chủ yếu là gạo Thái Lan. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, gạo thuộc nhóm sản phẩm có năng lực cạnh tranh khá, thực tế vừa qua sản phẩm này đã chứng tỏ có năng lực cạnh tranh và triển vọng trong tương lai khá rõ nét đối với tỉnh Tiền Giang.

Từ những dự báo trên, tỉnh Tiền Giang đã đề ra mục tiêu phát triển lúa gạo giai đoạn 2011 - 2015 là sản xuất ổn định, tích cực góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân trồng lúa của tỉnh một cách bền vững. Vì vậy, kế hoạch đến năm 2015 diện tích canh tác lúa của tỉnh khoảng 75.866 héc-ta và dự kiến diện tích gieo trồng năm 2011 là 235.653 héc-ta, năng suất 53,63 tạ/héc-ta và đạt sản lượng 1.263.787 tấn, đến 2015 diện tích gieo trồng 220.200 héc-ta, năng suất 55,85 tạ/héc-ta, sản lượng đạt 1.230.000 tấn và tham gia xuất khẩu mỗi năm từ 200.000 - 250.000 tấn gạo. Phấn đấu đến năm 2015 có vùng lúa nguyên liệu chất lượng cao, đặc sản khoảng 70.000 héc-ta, đạt 80- 90% diện tích canh tác; sử dụng giống cấp nguyên chủng, xác nhận 1, xác nhận 2 từ 60 - 70% diện tích. Tập trung thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng lúa đặc sản, lúa chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng. Đồng thời, đẩy nhanh việc hình thành các vùng sản xuất lúa hàng hóa, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng giá trị và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích. Ở những vùng chịu áp lực của biến đổi khí hậu cần bố trí thời vụ hợp lý để xóa thế độc canh cây lúa, hạn chế tổn thất thấp nhất.

Giải pháp trọng tâm cho chiến lược lúa gạo thời gian tới

Xuất phát từ dự báo tình hình và mục tiêu trên, để chiến lược phát triển lúa gạo của tỉnh đến năm 2015 phát triển đúng chủ trương đã đề ra, Tiền Giang sẽ tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, làm tốt công tác định hướng, bố trí phát triển vùng sản xuất lúa gạo tập trung, ổn định diện tích gieo trồng; áp dụng cơ giới hóa vào các khâu sản xuất và thu hoạch lúa đạt 55- 60% diện tích gieo trồng; chú trọng áp dụng sản xuất lúa theo qui trình GlobalGAP ổn định, bền vững và thân thiện với môi trường.

Hai là, tăng cường nghiên cứu khoa học để chọn, lai tạo các giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp từng vùng sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu; kháng rầy nâu và một số sâu bệnh. Thực hiện có hiệu quả các chương trình khuyến nông theo dự án; tiếp tục triển khai chương trình “3 giảm, 3 tăng”, quản lý dịch hại tổng hợp, phát triển mô hình “sử dụng công nghệ sinh thái để quản lý rầy nâu và bệnh virút trên lúa”.

Ba là, hoàn thiện hệ thống thủy lợi bảo bảo đảm chủ động nước tưới, tiêu và chất lượng nước phục vụ cho gieo trồng bảo đảm ngăn mặn, triều cường trong tình huống biến đổi khí hậu, cũng như phòng chống bão; từng bước điện khí hóa thủy lợi phục vụ cho sản xuất lúa. Thông qua hệ thống quan trắc nước kiểm soát mặn và trữ nước ngọt. Hoàn thiện các hệ thống kênh mương để kiểm soát và chủ động nước tưới.

Bốn là, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ hợp tác trong sản xuất, kinh doanh lúa, gạo gắn với việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP; thành lập mới và củng cố các hợp tác xã để làm đầu mối với doanh nghiệp trong đầu tư, sản xuất, lưu thông phân phối, phát huy tối đa lợi nhuận của chuỗi giá trị cho người nông dân và doanh nghiệp.

Năm là, phát triển vùng nguyên liệu gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến… tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động liên kết “4 nhà”. Xây dựng hệ thống chế biến đạt tiêu chuẩn và các kho trữ lúa đủ lớn trên các vùng nguyên liệu lớn. Hỗ trợ các cơ sở nhỏ, khuyến khích các sản phẩm làm từ lúa, gạo để giải quyết kho thị trường xuất khẩu gạo ổn định.

Sáu là,
phát triển thị trường lúa gạo gắn với việc xây dựng thương hiệu lúa gạo. Vì vậy, cần đa dạng hóa hệ thống cung cấp thông tin thị trường, quảng bá cho vùng trọng điểm lúa của tỉnh để giúp nông dân dự đoán được thị trường, có kế hoạch sản xuất nhằm giảm thiểu rủi ro do hàng hóa dư thừa và rớt giá./.