TCCS - Với nỗ lực, quyết tâm của các cấp ủy, chính quyền đưa Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 16-11-2020, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vào cuộc sống, những năm qua, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã có những phát triển vượt bậc, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng bền vững. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang trở thành động lực tăng trưởng mới, mở ra triển vọng đưa Quảng Ninh vươn mình, trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại của khu vực phía Bắc.

Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Quảng Ninh đã xác định công nghiệp chế biến, chế tạo là một trong ba trụ cột tăng trưởng mới, có ý nghĩa chiến lược đối với việc tái cấu trúc nền kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác than và tài nguyên khoáng sản, tạo động lực bền vững cho phát triển. Trên cơ sở đó, ngày 16-11-2020, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU, về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030. Đây là nghị quyết quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của tỉnh trong việc nắm bắt xu thế phát triển, tận dụng thời cơ từ làn sóng dịch chuyển đầu tư quốc tế, phát huy lợi thế vị trí địa - kinh tế, hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô và chất lượng hàng đầu khu vực phía Bắc.

Sau gần 5 năm triển khai, Nghị quyết 01-NQ/TU đã đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của toàn hệ thống chính trị, tạo đà cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp. Việc thực hiện Nghị quyết được gắn với nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư FDI thế hệ mới, trọng điểm là các dự án chế biến, chế tạo công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh. Những kết quả đạt được đã khẳng định tính đúng đắn, kịp thời trong chủ trương của Đảng bộ tỉnh, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.

Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 23%/năm, là động lực tăng trưởng chính trong cả nhiệm kỳ. Tổng vốn thu hút FDI giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 9,77 tỷ USD, cao gấp 5,1 lần so với giai đoạn 2016 - 2020, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm trên 68,5%.(1). Kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi và tăng trưởng sản xuất công nghiệp, mà quan trọng hơn, đã khẳng định định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đang đi đúng hướng: Từ nền kinh tế phụ thuộc vào khai khoáng, dần chuyển sang dựa vào công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ chất lượng cao.

Công tác thu hút đầu tư đạt nhiều kết quả nổi bật. Trong giai đoạn 2020 -  2025, tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo ước đạt gần 9 tỷ USD, trong đó có hơn 6 tỷ USD là vốn FDI(2). Các dự án quy mô lớn, công nghệ cao liên tục được triển khai, tiêu biểu như Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng tại khu công nghiệp Việt Hưng, Cụm nhà máy sợi Texhong tại khu công nghiệp Hải Hà, các dự án sản xuất điện tử, quang năng, thiết bị công nghệ tại khu công nghiệp Đông Mai, Cái Lân. Sự hiện diện của các dự án này không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GRDP và xuất khẩu, mà còn có tác động lan tỏa, kéo theo sự phát triển của hạ tầng công nghiệp, dịch vụ hậu cần, đào tạo lao động, thúc đẩy hình thành chuỗi giá trị mới.

Nhiều sản phẩm đã đạt mức tăng trưởng cao trong năm 2025. Trong chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh, có 7/14 sản phẩm cơ bản đạt và vượt tiến độ kịch bản tăng trưởng: Thân mũ đạt 84,3%; Loa, tai nghe đạt 86,7%; Bột mỳ các loại đạt 83,4%; Sợi bông cotton đạt 79,5%; Tấm sàn Vinil Tines đạt 84,1%; Vòng tay thông minh đạt 82,5%; Tấm silic đạt 84,7%...(3)

Tỉnh Quảng Ninh luôn nỗ lực thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng phát triển kinh tế, ưu tiên các ngành có tính nền tảng, mũi nhọn, có hàm lượng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Tạo đột phá trong thu hút có chọn lọc nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các khu công nghiệp, khu kinh tế, ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, sạch, quản trị hiện đại, có quy mô lớn, giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao, kết nối với chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; tăng nhanh quy mô, tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tập trung vào công nghiệp bán dẫn, ô tô, thiết bị năng lượng tái tạo, công nghiệp đường sắt… Quảng Ninh đặt mục tiêu đưa lĩnh vực này trở thành trụ cột chính trong phát triển kinh tế, xây dựng Quảng Ninh trở thành một trong những trung tâm chế biến, chế tạo công nghệ cao. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp tại Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, Đặc khu Vân Đồn, Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái và tăng cường hợp tác thu hút đầu tư, phát triển sản xuất.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm. Hằng năm, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này đóng góp hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng thu nội địa. Ngành đã tạo việc làm ổn định cho hàng chục nghìn lao động, trong đó nhiều doanh nghiệp FDI sử dụng từ 10.000 đến 20.000 lao động(4), góp phần quan trọng cải thiện đời sống người dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo và hình thành tầng lớp công nhân công nghiệp mới. Đây là minh chứng sinh động cho vai trò xã hội to lớn của công nghiệp chế biến, chế tạo, không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn trực tiếp thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương.

Bên cạnh những thành tựu nổi bật, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh còn đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Hạ tầng một số khu công nghiệp, khu kinh tế chưa được hoàn thiện đồng bộ, quỹ đất sạch gặp nhiều hạn chế, giải phóng mặt bằng nhiều nơi còn khó khăn... Đây cũng là rào cản lớn trong việc đón nhận các dự án, ngân sách đầu tư mới có quy mô lớn. Cùng với đó là điểm nghẽn về nguồn nhân lực. Mặc dù lực lượng lao động dồi dào, song chất lượng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu của các doanh nghiệp công nghệ cao. Kỹ năng ngoại ngữ, tin học, kỹ thuật vận hành dây chuyền hiện đại còn hạn chế, dẫn đến nhiều doanh nghiệp phải tuyển dụng chuyên gia nước ngoài, hoặc phải đào tạo lại với chi phí lớn. Việc liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, chưa hình thành được hệ sinh thái nhân lực công nghiệp bài bản.

Bên cạnh đó là sự thiếu vắng của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ quy mô lớn. Dù có nhiều dự án FDI nhưng phần lớn tập trung vào khâu lắp ráp, gia công, giá trị gia tăng chưa cao, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp. Các doanh nghiệp trong nước còn yếu về năng lực tài chính, công nghệ và quản trị, khó tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây cũng là thách thức cần sớm khắc phục để Quảng Ninh trở thành trung tâm chế biến, chế tạo có vị thế lớn trong nước.

Ngoài ra, vấn đề môi trường và phát triển bền vững cũng đang là một thử thách đối với các doanh nghiệp trong tỉnh. Sự phát triển nhanh của công nghiệp chế biến, chế tạo nếu không gắn với công nghệ xanh, quản lý chặt chẽ môi trường sẽ tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển xanh, bền vững mà Quảng Ninh đã kiên định theo đuổi. Do vậy, cần phải có những cơ chế, chính sách chặt chẽ để kiểm soát, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế.

Để phát huy thành tựu, hóa giải những thách thức, tiếp tục hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 01-NQ/TU, tỉnh Quảng Ninh đã xác định rõ các định hướng, giải pháp cho giai đoạn 2025 - 2030, cụ thể là:

Thứ nhất, tỉnh Quảng Ninh cần kiên định mục tiêu phát triển nhanh đi đôi với phát triển bền vững. Mọi dự án đầu tư vào lĩnh vực chế biến, chế tạo đều phải được lựa chọn kỹ lưỡng, ưu tiên công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, có giá trị gia tăng cao, có khả năng lan tỏa đến các ngành, lĩnh vực khác.

Thứ hai, tiếp tục cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh. Quảng Ninh nhiều năm liền đứng trong nhóm đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI). Tỉnh sẽ tiếp tục phân cấp, phân quyền, rút ngắn thủ tục, đồng hành cùng doanh nghiệp. Tạo môi trường thuận lợi nhất, minh bạch nhất, để doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài.

Thứ ba, chú trọng phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Quảng Ninh đã đi trước một bước khi đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng giao thông, như cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, cầu Cửa Lục 3, sân bay Vân Đồn, hệ thống cảng biển nước sâu. Trong giai đoạn tới, tỉnh sẽ tiếp tục phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế, bảo đảm quỹ đất sạch, đồng thời chú trọng hạ tầng xã hội, như nhà ở, trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí phục vụ người lao động. Đây là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân lao động, nhất là lao động chất lượng cao.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có đội ngũ lao động được đào tạo tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại. Để làm được điều đó, Quảng Ninh tăng cường liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, nhà nước và doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo nhân lực quản lý, nhân lực nghiên cứu và phát triển để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp địa phương.

Thứ năm, hình thành hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ với các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu cho các ngành ô tô, điện tử, dệt may, năng lượng tái tạo. Qua đó, nâng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Thứ sáu, thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp sạch. Tỉnh khuyến khích các dự án áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái chế, xử lý chất thải hiện đại, tận dụng phụ phẩm để sản xuất sản phẩm mới. Tăng cường giám sát môi trường, kiên quyết không chấp nhận dự án có nguy cơ gây ô nhiễm, đi ngược với định hướng phát triển bền vững.

Thứ bảy, chú trọng công tác quy hoạch, giám sát, đánh giá và điều chỉnh chính sách. Quảng Ninh đã hoàn thành Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó xác định rõ các vùng công nghiệp, các ngành ưu tiên phát triển. Trên cơ sở đó, tỉnh sẽ theo dõi sát sao tiến độ từng dự án, từng sản phẩm chủ lực, kịp thời tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh chính sách phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế.

Tỉnh tập trung phát triển kinh tế, chuyển dịch tích cực theo hướng bền vững hơn, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo. Mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt trên 18%. Quảng Ninh cũng sẵn sàng tâm thế tạo quỹ đất sạch, mặt bằng sản xuất để thu hút các dự án đầu tư phát triển, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, phát triển khoa học công nghệ, dịch vụ...

Những kết quả nổi bật trong giai đoạn vừa qua đã minh chứng cho tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết 01-NQ/TU, khẳng định ý chí, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh. Chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với truyền thống đoàn kết, sáng tạo, quyết tâm chính trị cao và sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, Quảng Ninh sẽ sớm hoàn thành mục tiêu đề ra, đưa công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, trở thành trụ cột vững chắc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh và đất nước./.

------------------------------

(1), (2) Xem: Thái Bình: "Đột phá từ Nghị quyết 01", Báo Quảng Ninh điện tử, ngày 25-9-2025, https://baoquangninh.vn/dot-pha-tu-nghi-quyet-01-3375463.html
(3) Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2025.