Quảng Ninh nỗ lực thu hút FDI để phát triển ngành công nghiệp chế biến - chế tạo
TCCS - Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu, Quảng Ninh đang chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế từ dựa nhiều vào tài nguyên khoáng sản sang phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng cao. Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực này được xác định là một trong những đòn bẩy quan trọng để tạo việc làm, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và tích hợp vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với Quảng Ninh, thu hút FDI, đặc biệt vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, là yếu tố then chốt giúp chuyển đổi mô hình kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển ổn định và bền vững.
Vai trò của FDI đối với phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Một là, thu hút FDI góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho phát triển công nghiệp. Công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) là lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn để xây dựng nhà máy, dây chuyền sản xuất, phòng thí nghiệm, hệ thống kiểm định, kho bãi… Trong khi nguồn lực ngân sách và vốn doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, FDI trở thành “đòn bẩy” quan trọng giúp mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh của nền sản xuất. Thu hút FDI cũng tạo điều kiện để các địa phương như Quảng Ninh phát triển công nghiệp theo mô hình giá trị cao thay vì dựa vào khai khoáng.
Hai là, thu hút FDI là kênh quan trọng để các quốc gia, khu vực, vùng, miền được tiếp cận công nghệ, kỹ thuật và tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, thu hút FDI là kênh quan trọng để một nền kinh tế tiếp cận công nghệ hiện đại (như công nghệ tự động hóa, ứng dụng AI trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng robot công nghiệp), hệ thống quản trị sản xuất tinh gọn, tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng (ISO, HACCP…), bảo vệ môi trường và an toàn lao động. Những công nghệ này giúp ngành CBCT tăng năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm và từng bước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ba là, nguồn vốn FDI sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa đối với doanh nghiệp trong nước. Một dự án FDI quy mô lớn tạo ra nhiều tác động lan tỏa, góp phần hình thành mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ ở các địa phương, gia tăng nhu cầu về dịch vụ logistics, vận tải, bảo trì, sửa chữa, thiết kế kỹ thuật, sản xuất linh kiện. Khuyến khích doanh nghiệp trong nước nâng cấp công nghệ và quản trị để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư FDI. Nhờ đó, cấu trúc công nghiệp được đầu tư, hoàn thiện, giảm phụ thuộc nhập khẩu và tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Bốn là, tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ngành CBCT thường tạo ra số lượng việc làm lớn và ổn định, đặc biệt là kỹ thuật viên, công nhân lành nghề và kỹ sư chuyên môn. Quan trọng hơn, vốn FDI sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển các chương trình đào tạo nghề, chuyển giao kỹ năng, hình thành đội ngũ chuyên gia kỹ thuật chất lượng cao tại địa phương. Đặc biệt, từ việc đầu tư vốn FDI cho các doanh nghiệp sẽ góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao động, từ đó tạo sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội.
Năm là, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Nguồn vốn đầu tư FDI sẽ góp phần thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ khai khoáng truyền thống sang công nghiệp chế tạo mang lại giá trị cao. Dòng vốn FDI tiếp tục giữ vai trò then chốt trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững của Việt Nam trong các năm 2024 và 2025. Cụ thể, năm 2024, tổng vốn FDI đăng ký đạt khoảng 38,23 tỷ USD, trong đó vốn giải ngân lên tới 25,35 tỷ USD - mức cao nhất từ trước đến nay. Đặc biệt, nguồn vốn FDI tập trung vào các lĩnh vực như công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chất bán dẫn, điện tử và công nghệ xanh, hỗ trợ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này phù hợp với mục tiêu phát triển dài hạn của Việt Nam và định hướng của các tỉnh như Quảng Ninh.
Sáu là, góp phần tăng thu ngân sách, xuất khẩu và nâng năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngành CBCT có giá trị gia tăng cao, đóng góp lớn vào thu ngân sách (thuế TNDN, VAT, thuế xuất nhập khẩu), tăng kim ngạch xuất khẩu (điện tử, linh kiện, cơ khí chính xác…), cải thiện cán cân thương mại. Đặc biệt là nâng cao vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị khu vực. FDI chính là lực kéo thúc đẩy Việt Nam trở thành “công xưởng mới” của khu vực.
Có thể thấy rằng, ngành CBCT là “xương sống” của công nghiệp hóa hiện đại. Hầu hết các quốc gia công nghiệp thành công (như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản) đều dựa vào ngành CBCT làm trung tâm tăng trưởng. Đây là ngành có khả năng lan tỏa mạnh sang các ngành khác, tạo động lực đổi mới sáng tạo, đóng vai trò mũi nhọn trong xuất khẩu. Ngành CBCT còn đáp ứng xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.
Sau đại dịch COVID-19 và xung đột địa chính trị, doanh nghiệp FDI có xu hướng dịch chuyển sản xuất ra khỏi một số thị trường rủi ro, tìm kiếm thị trường mới có hạ tầng tốt, chi phí hợp lý, chính trị ổn định. Việt Nam, trong đó có Quảng Ninh đang nằm trong “tâm điểm” của dòng dịch chuyển này, nhằm thu hút nhà đầu tư công nghệ cao, tạo động lực để địa phương chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Đối với Quảng Ninh, yêu cầu bảo vệ môi trường khiến mô hình tăng trưởng cũ không còn phù hợp, do đó phát triển ngành CBCT là hướng đi giúp chuyển sang mô hình kinh tế xanh, bền vững. Việc thu hút FDI vào ngành công nghiệp CBCT không chỉ đóng vai trò bổ sung vốn, công nghệ và tạo việc làm, mà quan trọng hơn là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng dài hạn. Đây là điều kiện cốt lõi để Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng đạt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng mạnh mẽ.
Thực tiễn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh thời gian qua
Giai đoạn 2020 - 2025, lĩnh vực công nghiệp CBCT của tỉnh thu hút khoảng 8,98 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó 6,74 tỷ USD là vốn FDI. Điều đó minh chứng cho hiệu quả chính sách thu hút có chọn lọc và tiềm năng cạnh tranh của ngành trên địa bàn. Quảng Ninh đã thu hút những nhà đầu tư công nghiệp quy mô và thương hiệu quốc tế. Ví dụ, Tập đoàn Foxconn (đơn vị sản xuất điện tử lớn toàn cầu) đã được cấp phép mở rộng đầu tư tại Quảng Ninh cho các dự án sản xuất thiết bị thông minh và linh kiện với quy mô hàng trăm triệu USD. Bên cạnh đó, các khu công nghiệp lớn như DEEP C Quảng Ninh liên tục thu hút dự án mới (trong đó có dự án về kim loại, nhựa, linh kiện) với tổng vốn lớn, góp phần mở rộng kết cấu hạ tầng sản xuất và quỹ đất sẵn sàng cho nhà đầu tư.
Ngành CBCT được xác định là một trong những ngành trọng điểm trong chiến lược phát triển công nghiệp với định hướng rõ ràng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp phụ trợ nhằm tăng giá trị sản xuất, nâng cao công nghiệp chủ lực. Quảng Ninh từ một tỉnh truyền thống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên khoáng sản, du lịch, đang chuyển dần sang mô hình công nghiệp CBCT với đóng góp lớn từ vốn FDI và trở thành điểm sáng thu hút đầu tư trong cả nước.
Trong tháng 11 và 11 tháng năm 2025, nhiều lĩnh vực của tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, sản xuất công nghiệp ghi nhận những tín hiệu khả quan khi chỉ số sản xuất toàn ngành tăng hơn 13% so với tháng 10-2025 và tăng trên 17% so với cùng kỳ năm 2024. Đáng chú ý, nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng với mức tăng 33,75% sau 11 tháng, nhiều sản phẩm chủ lực đáp ứng tiến độ kịch bản tăng trưởng. Ngành khai khoáng và sản xuất điện, hai trụ cột truyền thống cũng duy trì ổn định. Sản lượng than khai thác đạt gần 40 triệu tấn (tăng hơn 4% so với cùng kỳ); sản lượng điện sản xuất đạt hơn 31,5 tỷ kWh (tăng trên 6% so với cùng kỳ).
Đến nay, tỉnh đã thu hút được 73 dự án đầu tư mới trong lĩnh vực chế biến, chế tạo. Đồng thời, phê duyệt điều chỉnh tăng vốn cho 40 lượt dự án, với tổng vốn đầu tư thu hút đạt gần 209.000 tỷ đồng; trong đó vốn FDI đạt khoảng hơn 6,6 tỷ USD. Đến hết tháng 8/2025, toàn tỉnh có hơn 1.000 doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh có mức tăng trưởng hơn 32% so cùng kỳ năm 2024. Có 10/14 sản phẩm cơ bản đạt và vượt tiến độ kế hoạch 9 tháng, như: Vải dệt kim (tăng 70,4%), tivi (tăng 34,8%), loa và tai nghe (tăng 19%), tấm quang năng (tăng 36,5%), tấm sàn vinyl tiles (tăng 13,5%) và xe các loại (tăng 16,3%)… Quảng Ninh đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 thu hút hàng chục tỷ USD FDI, thể hiện quyết tâm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao quy mô và chất lượng vốn đầu tư.
Tuy nhiên, việc thu hút FDI cho phát triển ngành CBCT gặp nhiều thách thức và rào cản. Đó là: (i) sự cạnh tranh giữa các địa phương: Các địa phương như Bắc Ninh, Hải Phòng… đều mạnh về công nghiệp điện tử, chế tạo, do đó, Quảng Ninh phải tìm ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt (ví dụ: cảng biển, logistic, ưu đãi cho công nghệ xanh) mới có thể thu hút đầu tư. (ii) Nguồn nhân lực chất lượng cao: Để thu hút FDI công nghệ cao, cần đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật cần phải được đào tạo bài bản và xây dựng các chương trình hợp tác đào tạo nghề với doanh nghiệp. (ii) Yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Nhà đầu tư chất lượng cao đòi hỏi tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt, do đó tỉnh cần bảo đảm các yêu cầu về quy hoạch, xử lý chất thải, nguồn nước và giám sát môi trường. (iv) Hạ tầng kỹ thuật - năng lượng. Cần sắp xếp và bảo đảm sự ổn định của hạ tầng điện, chuỗi cung ứng phụ trợ, hạ tầng logistic...
Giải pháp thu hút FDI nhằm phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
Thời gian tới, để tăng cường hiệu quả thu hút FDI vào phát triển ngành công nghiệp CBCT, tỉnh Quảng Ninh cần chú trọng một số giải pháp sau:
Một là, tiếp tục thực thi chiến lược thu hút có chọn lọc, ưu tiên dự án có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thân thiện môi trường và có liên kết chuỗi cung ứng. Hoàn thiện hạ tầng cho sản xuất, trong đó chú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng logistics, cảng biển, điện và khu công nghiệp xanh; cung cấp quỹ đất sạch, công khai, minh bạch và có cơ chế ưu đãi đối với nhà đầu tư để bảo đảm thuận lợi cho dự án hoạt động.
Hai là, tập trung phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp. Cần tăng cường phối hợp với trường nghề, đại học và doanh nghiệp FDI để xây dựng chương trình đào tạo thực hành, học nghề chuyên sâu cho ngành điện tử, cơ khí chính xác, tự động hóa.
Ba là, xây dựng chuỗi cung ứng nội địa, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị của nhà đầu tư FDI thông qua chính sách liên kết, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính, giảm nhập khẩu linh kiện.
Bốn là, bảo đảm tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền vững. Cần thực hiện quy hoạch công nghiệp theo mô hình “công nghiệp xanh”, kinh tế tuần hoàn. Áp dụng tiêu chuẩn đánh giá ESG trong xét duyệt dự án để vừa thu hút đầu tư, vừa bảo vệ môi trường bền vững.
Quảng Ninh đang ở giai đoạn chuyển đổi chiến lược, cần tranh thủ tận dụng vị trí địa lý, hạ tầng khu kinh tế và chính sách chọn lọc để thu hút FDI vào công nghiệp CBCT. Tuy nhiên để biến dòng vốn thành tăng trưởng bền vững, Quảng Ninh cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, và kiên định tiêu chí thu hút nhà đầu tư chất lượng cao, thân thiện môi trường. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ giúp ngành công nghiệp CBCT trở thành trụ cột kinh tế mới, góp phần đưa Quảng Ninh thành cực tăng trưởng công nghiệp phía Bắc, nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực./.
Quảng Ninh thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045  (01/12/2025)
Mô hình phát triển bền vững tỉnh Quảng Ninh: Hài hòa công nghiệp - du lịch - dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao  (30/11/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm