TCCS - Các lễ hội truyền thống không chỉ đơn thuần là những sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà còn chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn, trở thành nguồn lực, động lực quan trọng để Ninh Bình phát triển loại hình kinh tế di sản, như du lịch văn hóa, tâm linh, các ngành dịch vụ và công nghiệp sáng tạo…

Ninh Bình trong không gian mới là sự hội tụ của các miền di sản tiêu biểu của khu vực đồng bằng Bắc Bộ và cả nước. Từ xa xưa, đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của cư dân nơi đây rất phong phú, đa sắc màu với hệ thống lễ hội truyền thống lâu đời rất phong phú về số lượng và đa dạng về loại hình gắn với bản sắc riêng của từng cộng đồng.  Trong thời gian qua, Ninh Bình đã rất chú trọng gắn bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển kinh tế địa phương. Di sản văn hóa nói chung, các lễ hội truyền thống nói riêng đã được sử dụng, phát huy giá trị trong nhiều hoạt động kinh tế mang lại lợi ích mọi mặt cho đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế di sản đặt ra nhiều thách thức liên quan đến cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo tồn, giữ gìn di sản; sự phối hợp và phân chia lợi ích giữa các chủ thể trong quá trình phát triển…

Vai trò của lễ hội với phát triển kinh tế di sản

Lễ hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi kết tinh các giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng… thể hiện niềm tin, khát vọng hướng đến những điều chân – thiện – mỹ, được cộng đồng thừa nhận, giữ gìn và lưu truyền qua nhiều thế hệ, trở thành tài sản chung của cả cộng đồng. Lễ hội còn bao gồm một tổ hợp các hoạt động, các thực hành văn hóa đặc sắc, hấp dẫn, lôi cuốn những người tham dự. Lễ hội thường được diễn ra trong không gian của các khu di tích lịch sử - văn hóa, các làng nghề truyền thống, gắn với hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu… Đó là cơ sở để lễ hội trở thành nguồn vốn, trở thành động lực thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế di sản, các ngành công nghiệp văn hóa di sản:

Một là, lễ hội trở thành nguồn tư liệu sáng tạo để xây dựng thành sản phẩm du lịch văn hóa - du lịch lễ hội, du lịch tâm linh, tín ngưỡng, du lịch di sản mang bản sắc riêng thu hút du khách thập phương, góp phần xây dựng thương hiệu du lịch địa phương, quốc gia.

Hai là, không gian lễ hội được khai thác, phát huy trở thành môi trường trung gian - không gian sáng tạo thúc đẩy phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, tạo động lực phát triển cho các ngành công nghiệp văn hóa như: Thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, triển lãm…

Ba là, các lễ hội còn trở thành phương tiện, truyền thông quảng bá, xúc tiến quảng bá rộng rãi du lịch, vùng đất, văn hóa, con người địa phương.

Theo thống kê sơ bộ, sau khi sáp nhập, tỉnh Ninh Bình sở hữu 5.071 di tích; trong đó, 1.106 di tích đã được Nhà nước xếp hạng với 8 di tích quốc gia đặc biệt, 264 di tích cấp quốc gia và 834 di tích cấp tỉnh. Ninh Bình là địa phương duy nhất ở Việt Nam và Đông Nam Á sở hữu 1 di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới - Quần thể danh thắng Tràng An và là cái nôi của Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Về lễ hội truyền thống, các địa phương trong tỉnh trước khi sáp nhập đều là những vùng đất giàu truyền thống sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của người dân rất giàu có, phong phú, đa dạng, nhiều sắc màu. Điều này được thể hiện khá rõ qua mật độ ken dày của các lễ hội truyền thống, theo thống kê, toàn tỉnh có khoảng 750 lễ hội truyền thống được duy trì, tổ chức định kì hằng năm.

Hệ thống di sản lễ hội truyển thống của tỉnh Ninh Bình cùng hòa quyện tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu, kết tinh, phản ánh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; chứa đựng niềm tin, mong muốn, khát vọng hướng đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc và những điều nhân văn. Đồng thời, các lễ hội đã phản ánh đời sống tinh thần rất phóng phú của cư dân gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Các lễ hội không chỉ là sinh hoạt văn hóa, tâm linh mà còn là những “không gian văn hóa”, những "bảo tàng sống", nơi lưu giữ lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, các loại hình nghệ thuật, diễn xướng, thực hành nghi lễ và trí tuệ dân gian…Trong bối cảnh hiện nay, các giá trị đó của lễ hội đã được chuyển hóa thành các lợi ích kinh tế, tạo ra động lực thúc đẩy quá trình phát triển bền vững của địa phương.

Thực trạng khai thác, phát huy giá trị các lễ hội truyền thống trong phát triển kinh tế di sản tỉnh Ninh Bình

Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, tỉnh Ninh Bình luôn đặt văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển, chú trọng xây dựng và phát triển văn hóa, con người địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; xây dựng những chủ trương, chính sách gắn bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống với phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở khai thác tiềm năng lợi thế của địa phương về di sản văn hóa và di sản thiên nhiên với các lĩnh vực kinh tế trọng tâm được lựa chọn như du lịch, các ngành công nghiệp, dịch vụ văn hóa gắn với di sản.

Đối với các lễ hội truyền thống: Các địa phương trong tỉnh đã rà soát, thống kê số lượng các lễ hội, nghiên cứu lịch sử, giá trị văn hóa của các lễ hội, công nhận và đề nghị các cấp có thẩm quyền công nhận và ghi danh các lễ hội truyền thống đủ điều kiện vào danh mục di sản các cấp và xây dựng văn bản hướng dẫn tổ chức các lễ hội theo đúng quy định. Bên cạnh việc chỉ đạo duy trì, tổ chức các lễ hội truyền thống để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của các cộng đồng dân cư địa phương và giữ gìn, bảo tồn văn hóa truyền thống, các địa phương trong tỉnh còn đẩy mạnh khai thác, phát huy giá trị di sản lễ hội truyền thống trong hoạt động phát triển kinh tế địa phương, cụ thể:

Một là, các địa phương đã xây dựng các lễ hội lớn, đặc sắc, tiêu biểu cho văn hóa, con người vùng đất Cố đô và của cả dân tộc thành các sản phẩm du lịch để thu hút du khách như: Lễ hội Hoa Lư, lễ hội Phủ Dầy, Lễ hội đền Trần, Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, Lễ phát lương Đức Thánh Trần Đền Trần Thương … Các sản phẩm du lịch lễ hội được tổ chức bảo đảm phần lễ duy trì và thực hiện các nghi lễ truyền thống mang bản sắc riêng của lễ hội như đối với lễ hội Hoa Lư là các nghi lễ mở cửa đền, rước nước, lễ mộc dục, lễ rước kiệu, lễ tế cửu khúc…; nghi thức cày ruộng ở lễ hội Tịch điền Đọi Sơn; nghi lễ rước Mẫu thỉnh kinh, lễ rước đuốc ở phủ Tiên Hương trong lễ hội Phủ Dầy; nghi lễ phát lương trong Lễ hội Đền Trần Thương… và phần hội duy trì các sinh hoạt văn hóa dân gian, các trò chơi, trò diễn, hình thức diễn xướng dân gian gắn với truyền thống lịch sử, văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng mang bản sắc riêng như: kéo chữ Thái Bình, Cờ lau tập trận trong Lễ hội Hoa Lư; nghi lễ Hầu Bóng và hát chầu văn - đặc trưng của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và Kéo Hoa trượng hội trong lễ hội Phủ Dầy… Bên cạnh đó, để phục vụ nhu cầu của người dân và du khách, các lễ hội hiện nay còn xây dựng và tổ chức các chương trình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật cả dân gian và đương đại với sự biểu diễn của các nghệ nhân dân gian, các nghệ sĩ chuyên nghiệp và cả quần chúng; tổ chức các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, cờ người, tổ tôm điếm… và nhiều sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng. Tất cả cùng góp phần tạo một sinh hoạt văn hóa đặc sắc, hấp dẫn, vui tươi – một sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm lịch sử, văn hóa của người dân và du khách và góp phần tạo nên thương hiệu du lịch của Tỉnh.

Hai là, các địa phương đã khai thác, phát huy giá trị các lễ hội như một kênh thông tin, phương tiện truyền thông, quảng bá vẻ đẹp văn hóa, con người và thương hiệu du lịch của địa phương

Các lễ hội truyền thống được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như Lễ hội Hoa Lư, Lễ hội Phủ Dầy, Lễ hội đền Trần – chùa Phổ Minh, Lễ hội phát lương Đức Thánh Trần đền Trần Thương, lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn… là các sự kiện văn hóa lớn mang tầm quốc gia, tham dự lễ hội có các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành và nhiều tỉnh, thành trong cả nước và có cả các đại biểu quốc tế, các nghệ sĩ, các đoàn nghệ thuật biểu diễn của các địa phương trong cả nước... Trước và trong suốt quá trình diễn ra lễ hội, các hoạt động tuyên truyền quảng bá được diễn ra rất rầm rộ như tổ chức họp báo thông tin, đưa tin trên đài Phát thanh truyền hình quốc gia và tỉnh, các phương tiện truyền thông xã hội, trang thông tin điện tử, pano, aphic... Ví dụ: Chương trình khai mạc lễ hội Hoa Lư các năm thường được truyền hình trực tiếp trên sóng đài truyền hình quốc gia, truyền hình tỉnh và các phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện truyền thông xã hội, có tác động truyền thông quảng bá là rất lớn đến hàng vài chục triệu người trong nước và ngoài nước.

Các lễ hội thường gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng, nhiều di tích được ghi danh là di sản cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt như: Lễ hội Hoa Lư diễn ra trong không gian khu di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư với một quần thể với khoảng hơn 50 di tích và nằm trong quần thể danh thắng Tràng An - Di sản hỗn hợp thế giới; lễ hội Phủ Dầy diễn ra trong khu di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Phủ Dầy với khoảng 20 di tích... và các lễ hội diễn ra trên địa bàn tỉnh - một vùng đất đậm đặc về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể và có nhiều danh lam – thắng cảnh, địa điểm du lịch thiên nhiên nổi tiếng, thu hút khách du lịch. Vì vậy, việc tổ chức lễ hội không chỉ thu hút du khách đến với các lễ hội và khu di tích mà còn thu hút du khách đến với du lịch Ninh Bình, có tác dụng lớn trong việc quảng bá, giới thiệu hình ảnh, thương hiệu du lịch Ninh Bình.

Hiệu quả truyền thông thương hiệu của các lễ hội không chỉ dừng lại ở việc lan truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng mà từ những người tham dự lễ hội, họ chính là những người tuyên truyền, quảng bá hiệu quả nhất về văn hóa, con người Ninh Bình cũng như thương hiệu du lịch Ninh Bình bằng chính những trải nghiệm, ấn tượng và cảm nhận của họ. Vì vậy, việc đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng tổ chức các lễ hội là yêu cầu quan trọng, cấp thiết.

Ba là, các lễ hội được khai thác, trở thành môi trường trung gian – không gian văn hóa sáng tạo thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, tạo động lực thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa

Một bộ phận quan trọng trong hoạt động của các lễ hội là các hoạt động dịch vụ, kinh doanh, buôn bán. Trong không gian diễn ra lễ hội, còn diễn ra các hội chợ trưng bày, buôn bán những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm của các làng nghề truyền thống, sản phẩm OCOP mang bản sắc, đặc trưng văn hóa riêng của địa phương và các gian hàng ẩm thực vùng miền và các hội chợ việc làm, quảng bá, xúc tiến du lịch, thu hút đầu tư. Nhiều lễ hội còn là nơi diễn các triển lãm nghệ thuật, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật… Lễ hội cũng giống như một không gian sáng tạo rộng lớn, nơi khơi nguồn, lan tỏa sự sáng tạo, kết nối các nghệ sĩ, nhà sáng tạo, các doanh nghiệp, nhà sản xuất, nhà đầu tư và khán giả, du khách, người tiêu dùng với nhau, góp phần tạo nên hệ sinh thái sáng tạo để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.  

Sức hút từ sản phẩm du lịch lễ hội trên địa bàn tỉnh Ninh Bình là khá lớn, mỗi dịp lễ hội Hoa Lư, số lượng du khách trong nước và quốc tế tham dự lên đến hơn nửa triệu người; trung bình mỗi năm lễ hội phát lương Đức Thánh Trần đền Trần Thương thu hút từ 20.000 đến 30.000 lượt khách; Lễ hội Phủ Dầy mỗi năm đã thu hút khoảng 1.5 triệu lượt du khách về du xuân, lễ Mẫu, chơi hội… Kéo theo đó là sự gia tăng về số lượng du khách đến các điểm du lịch khác trên địa bàn và sự phát triển của các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch như lưu trú, ăn uống, đồ lưu niệm, các dịch vụ vui chơi, giải trí… trên địa bàn, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và còn các tác động đến các ngành công nghiệp văn hóa di sản, như sản xuất thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, triển lãm… mà chưa được thống kê.

Tuy nhiên, việc khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa lễ hội truyền thống trong phát triển kinh tế địa phương tại tỉnh Ninh Bình cũng phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức:  1- Nguy cơ thương mại hóa quá mức dẫn đến mất đi bản sắc riêng; nguy cơ đứt gãy truyền thống, khi mà các nghi lễ truyền thống trong lễ hội chủ yếu được thực hiện và được lưu giữ bởi những người cao tuổi trong cộng đồng, nếu không tổ chức truyền dạy, trao truyền giữa các thế hệ sẽ dẫn đến sự đứt gãy truyền thống.  2- Còn thiếu sự gắn kết giữa các di tích lịch sử, văn hóa và các lễ hội. Các cơ quan chức năng chưa quan tâm đúng mức đến việc tuyên truyền, giới thiệu về giá trị văn hóa, ý nghĩa tâm linh của các di tích lịch sử - văn hóa gắn với lễ hội cho du khách; chưa tính toán, đo lường mức độ chịu đựng và sức chứa của các di tích, có nguy cơ làm tổn hại đến cảnh quan môi trường và các di tích..

Một số kinh nghiệm, giải pháp khai thác, phát huy giá trị lễ hội truyền thống với phát triển kinh tế di sản từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình

Để khai thác, phát huy giá trị của nguồn vốn di sản văn hóa lễ hội truyền thống trong phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Bình, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:  

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá di sản trên các phương tiện thông tin đại chúng, các hội chợ xúc tiến thương mại du lịch trong nước và ngoài nước, biên soạn sách ảnh, bản đồ và cẩm nang lễ hội… nhằm giới thiệu mục đích, ý nghĩa, giá trị của lễ hội gắn với các di tích lịch sử - văn hóa và các nhân vật, danh nhân được thờ phụng, tôn vinh và các phong tục, tập quán, những thực hành nghi lễ tốt đẹp và các sinh hoạt văn hóa đặc sắc mang bản sắc riêng trong các lễ hội. Đồng thời, tuyên truyền, vận động, thuyết phục người dân và du khách thực hiện nếp sống văn minh nơi ở diễn ra lễ hội.

Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học làm rõ các giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tâm linh, tín ngưỡng; quy trình, cách thức thực hành các nghi lễ, các sinh hoạt văn hóa truyền thống mang bản sắc riêng của từng lễ hội, nghiên cứu phục dựng các nghi lễ quan trọng đã bị mai một, từ đó xây dựng kịch bản chi tiết cho từng lễ hội phục vụ công tác tổ chức và bảo tồn, lưu truyền cho các thế hệ sau. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của người cao tuổi trong cộng đồng trong việc đóng góp ý kiến xây dựng kịch bản lễ hội, và tổ chức truyền dạy, trao truyền cho các thế hệ trẻ, để nối tiếp mạch nguồn di sản của dân tộc. Thường xuyên thực hiện tu bổ, tôn tạo các công trình di tích lịch sử - văn hóa gắn với lễ hội. Cần có sự tính toán sức chứa và lựa chọn các sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật phù hợp được tổ chức ở đây để bảo đảm không ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường và không làm mất tính tôn nghiêm của khu di tích. Ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn, giữ gìn di sản văn hóa.

Thứ ba, đổi mới nội dung, cách thức tổ chức lễ hội để tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách. Bên cạnh việc cần duy trì thực hiện nghi lễ, các sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của từng lễ hội, cần nghiên cứu xây thêm nhiều các sản phẩm, dịch vụ văn hóa trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa của dân tộc như các buổi biểu diễn nghệ thuật, các trò chơi, trò diễn mà người dân và du khách đều có thể tham gia trải nghiệm, trực tiếp, đa dạng hóa các sản phẩm đồ lưu niệm, ẩm thực vùng miền để phục vụ người dân và du khách chơi hội…

Thứ tư, liên kết với các đơn vị lữ hành xây dựng các tour, tuyến du lịch kết nối giữa lễ hội với các điểm di tích – lịch sử văn hóa và các điểm du lịch trên địa bàn để tăng trải nghiệm cho du khách, đồng thời kéo dài thời gian lưu trú của du khách, tăng doanh thu cho các hoạt động kinh doanh, dịch vụ du lịch.

Thứ năm, đối với các địa phương có số lượng lớn lễ hội truyền thống như tỉnh Ninh Bình cần có phương án tổ chức phù hợp từ tuyên truyền, quảng bá, bố trí nhân lực, vật lực, xây dựng nội dụng, chương trình… để phát huy được giá trị của lễ hội với phát triển kinh tế, địa phương.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản lý và tổ chức lễ hội. Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện các nhiệm vụ được giao; phát hiện xử lý kịp thời và có biện pháp chấn chỉnh những trường hợp vi phạm như các hiện tượng thương mại hóa lễ hội, trần tục hóa lễ hội, các hiện tượng mê tín dị đoan, gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên trong không gian diễn ra lễ hội./.