Phát triển kinh tế di sản trong mối quan hệ với củng cố quốc phòng, an ninh - Từ thực tiễn Ninh Bình
TCCS - Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phải “gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng - an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Có thể thấy đây là cách tiếp cậy tổng thể mô hình phát triển đất nước, trong đó chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại như một quan điểm mang tính chiến lược, lâu dài. Ở tầm quốc gia, mối quan hệ biện chứng này ngày càng được cụ thể hóa trong các chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển vùng và địa phương, nhất là tại những khu vực hội tụ đồng thời lợi thế về tài nguyên di sản và vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh như tỉnh Ninh Bình.
Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế di sản gắn với an ninh, quốc phòng
Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế di sản gắn với an ninh, quốc phòng
Di sản văn hóa là tài sản của thế hệ trước trao truyền cho thế hệ sau tạo nên sự liền mạch văn hóa, theo hướng tích lũy làm cho văn hóa của cộng đồng, dân tộc ngày càng giầu có thêm. Theo điều 1, Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001:“Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(1)”. Di sản văn hóa gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.
Kinh tế di sản là hoạt động khai thác, phân phối, tiêu dùng, phát huy giá trị di sản (văn hóa và thiên nhiên, vật thể và phi vật thể) nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử, xã hội và môi trường của di sản đó(2).
Phát triển kinh tế di sản là quá trình có chủ đích và có quản trị nhằm mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động khai thác - phân phối - tiêu dùng - phát huy giá trị di sản (văn hóa/thiên nhiên; vật thể/phi vật thể), thông qua tổ chức chuỗi giá trị và hệ sinh thái ngành liên quan để tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng; đồng thời bảo đảm bảo tồn lâu dài, duy trì tính xác thực, toàn vẹn, phân phối lợi ích hài hòa và giảm thiểu tác động tiêu cực đến văn hóa - lịch sử - xã hội và môi trường của di sản.
Từ cách hiểu đó có thể khẳng định: “phát triển” trong kinh tế di sản không thể đo bằng những cú hích ngắn hạn (một mùa lễ hội đông khách, một đợt doanh thu tăng mạnh) hay bằng các hoạt động rời rạc. Phát triển chỉ trở thành hiện thực khi di sản được vận hành như một hệ thống, có thiết kế, có tiêu chuẩn, có cơ chế phản hồi và có vòng quay tái đầu tư. Nói cách khác, kinh tế di sản không thể dừng ở bán vé, dịch vụ tự phát hay lễ hội mùa vụ; nó phải được tổ chức thành một chuỗi giá trị có logic rõ ràng: (i) nhận diện - lượng giá giá trị (xác định “cái gì là cốt lõi”, giá trị nào có thể chuyển hóa thành trải nghiệm); (ii) thiết kế sản phẩm/dịch vụ (kể chuyện, diễn giải, sáng tạo nhưng không làm sai lệch bản chất); (iii) phân phối và tiếp cận thị trường (kênh bán, truyền thông, liên kết vùng, quản trị thương hiệu điểm đến); (iv) tiêu dùng và quản trị trải nghiệm (dịch vụ, sức chứa, an toàn, chất lượng cảm nhận); (v) tái đầu tư cho bảo tồn và sinh kế cộng đồng.
Trong chuỗi giá trị ấy, vai trò của các chủ thể phải được đặt đúng vị trí, ở đó nhà nước là bên kiến tạo thể chế, quy hoạch, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát bảo tồn; thị trường cung cấp vốn, công nghệ và động lực đổi mới để nâng chất lượng sản phẩm; cộng đồng là chủ thể văn hóa, người giữ ký ức, thực hành và bảo đảm tính liên tục của di sản, còn giới khoa học - chuyên gia bảo đảm nền tảng tri thức, chuẩn mực chuyên môn và tính đúng đắn của mọi can thiệp (để “phát huy” không trượt thành “biến dạng”).
Vì vậy, nội dung phát triển kinh tế di sản có thể hệ thống hóa như một cấu trúc liên hoàn, trong đó các hợp phần vừa tạo giá trị kinh tế, vừa tái sản xuất năng lực bảo tồn và củng cố bản sắc, bao gồm:
(1) Công nghiệp công nghệ bảo tồn di sản là “nền tảng kỹ thuật” của toàn bộ hệ thống: từ nghiên cứu khoa học, vật liệu, quy trình - công nghệ tu bổ đến tiêu chuẩn phục dựng, nhằm phục hồi và bảo vệ di sản vật thể, đồng thời hình thành năng lực sản xuất chuyên môn, tạo việc làm và giá trị kinh tế đi kèm.
(2) Kinh tế du lịch di sản giữ vai trò tạo dòng tiền và lan tỏa, thúc đẩy hạ tầng và việc làm. Tuy nhiên, điều kiện bắt buộc là quản trị cân bằng giữa bảo tồn và khai thác bền vững, kiểm soát vấn đề quá tải lượng khách để không gây tổn hại cảnh quan, tính nguyên gốc và bản sắc địa phương.
(3) Kinh tế giáo dục về di sản là hợp phần “tái tạo năng lực”, vừa bồi dưỡng nguồn nhân lực bảo tồn - quản trị, vừa hình thành “thị trường tri thức” thông qua đào tạo, học liệu, nội dung truyền dạy, qua đó nâng chất lượng nhân lực và nâng cấp nhận thức cộng đồng về giá trị di sản.
(4) Kinh tế bảo tàng về di sản vận hành như “đầu mối diễn giải và kết nối”. Trên thực tế bảo tàng không chỉ lưu giữ mà còn kể chuyện và tổ chức trải nghiệm, tạo nguồn thu từ vé, sự kiện và dịch vụ, đồng thời ứng dụng công nghệ số để tăng tương tác và liên kết với du lịch - giáo dục - truyền thông nhằm hình thành chuỗi giá trị bền vững.
(5) Kinh tế truyền thông về di sản đóng vai trò “hạ tầng mềm” của phát triển: sản xuất nội dung, chiến dịch truyền thông số, định hình chuẩn mực bảo vệ di sản và nuôi dưỡng niềm tự hào, đồng thời tạo ra hệ sinh thái việc làm và giá trị mới trong nền kinh tế số.
(6) Kinh tế tài chính về di sản là cơ chế bảo đảm tính bền vững dài hạn: bao gồm huy động và quản trị nguồn lực (ngân sách, quỹ, tài trợ, PPP, đóng góp cộng đồng…), cùng thiết kế công cụ phí, giá hợp lý để vừa bảo đảm tiếp cận công bằng, vừa đủ nguồn lực tái đầu tư với yêu cầu then chốt là sự minh bạch và trách nhiệm giải trình.
(7) Kinh tế thương hiệu về di sản” là việc biến giá trị văn hóa của di sản thành lợi thế cạnh tranh của địa phương. Khi thương hiệu di sản được xây dựng tốt, các sản phẩm và dịch vụ gắn với di sản (du lịch, thủ công, ẩm thực…) sẽ bán được giá cao hơn, tạo niềm tin cho du khách và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, thương hiệu chỉ bền vững khi dựa trên bảo tồn đúng cách và diễn giải đúng giá trị di sản. Nếu chạy theo quảng bá quá mức hoặc “làm màu”, thương hiệu sẽ trở nên hời hợt và làm mất bản sắc thật của di sản.
(8) Kinh tế di sản số mở rộng không gian phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số, như số hóa, nền tảng phân phối nội dung, trải nghiệm số (tour ảo, thư viện số…) giúp mở rộng tiếp cận, giảm rủi ro mất mát và tạo thêm không gian thương mại - giáo dục - sáng tạo, đồng thời hỗ trợ quản trị và bảo tồn hiệu quả hơn.
Ngoài các nội dung “trực tiếp” trên thì phát triển kinh tế di sản còn phụ thuộc vào nhóm nội dung gián tiếp mang tính điều kiện nền, đó là nhận thức và năng lực hoạch định chính sách; hoàn thiện thể chế - pháp luật liên ngành; quy hoạch - hạ tầng và quản trị sức chứa; cơ chế huy động nguồn lực/PPP và phân phối lợi ích; phát triển nguồn nhân lực và năng lực cộng đồng; bảo đảm an ninh, rật tự, an toàn xã hội; quản trị rủi ro thương mại hóa để giữ “di sản thật”; hợp tác quốc tế và chuẩn hóa; cùng hạ tầng chuyển đổi số (dữ liệu - nền tảng - hệ sinh thái đổi mới). Các yếu tố này không tạo sản phẩm ngay lập tức nhưng quyết định khả năng vận hành chuỗi giá trị di sản bền vững, giảm xung đột lợi ích và bảo đảm tái đầu tư cho công tác bảo tồn lâu dài.
Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế di sản gắn với quốc phòng, an ninh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng vai trò của văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, là động lực, là sức mạnh nội sinh trong phát triển bền vững đất nước. Trong phát triển văn hóa trọng tâm là bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm về phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế di sản nói riêng vì vậy không tách rời, mà nằm trong một hệ quan điểm nhất quán: “kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược “xây dựng” và “bảo vệ” Tổ quốc, gắn phát triển kinh tế - xã hội (trong đó có văn hóa/di sản như một nguồn lực) với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa”. Qua các kỳ đại hội, yêu cầu gắn kinh tế với quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực theo hướng “vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ quốc” được xác lập như một nguyên tắc xuyên suốt trong đường lối phát triển thời kỳ mới.
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng cho thấy phát triển kinh tế di sản không phải là “đẩy mạnh phát triển du lịch” theo nghĩa giản đơn, mà là xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn - phát huy di sản với phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước’, trong nhiệm vụ thứ 4, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch. Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một. Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam(3)”. Quan điểm trên đã khẳng định vai trò quan trọng của di sản văn hóa, khẳng định di sản vừa là tài sản văn hóa vô giá, là cơ sở để gắn kết cộng đồng, vừa là nguồn lực nội sinh, tạo nền tảng tinh thần và sức mạnh mềm, qua đó góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, một cấu phần cốt lõi của quốc phòng, an ninh trong điều kiện mở cửa, hội nhập. Định hướng đó tiếp tục được bổ sung, phát triển khi Đảng nhấn mạnh văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững, đồng thời đặt nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa và đặt ra yêu cầu phải có cơ chế giải quyết hài hòa giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế - xã hội.
Văn kiện Đại hội XIII, Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và ngược lại(1). Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh tinh thần nhất quán “gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên(4)”. Đặc biệt, trong yêu cầu gắn kết phát triển với quốc phòng, an ninh, Đảng ta đặt ra định hướng quản trị theo hướng thể chế hóa và lồng ghép ngay từ đầu, trong đó các chiến lược, quy hoạch, dự án phát triển phải tính đến yếu tố quốc phòng - an ninh từ khâu lập, thẩm định đến triển khai. Cơ quan lập quy hoạch các cấp cần lấy ý kiến cơ quan quốc phòng theo quy định. Điều này có ý nghĩa trực tiếp với kinh tế di sản, bởi di sản thường gắn với không gian lãnh thổ đặc thù (cảnh quan, vùng lõi – vùng đệm, khu vực biên giới, hải đảo), hạ tầng du lịch và dòng người tập trung, cùng các sự kiện văn hóa quy mô lớn. Nếu thiếu lồng ghép quốc phòng - an ninh sẽ dễ phát sinh rủi ro về trật tự xã hội, an ninh văn hóa - tư tưởng, thậm chí bị lợi dụng trong môi trường giao lưu, hội nhập để tác động tiêu cực.
Ở chiều ngược lại, quan điểm của Đảng cũng nhấn mạnh vai trò “mở đường” của công tác an ninh cho phát triển. Đó là bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa – tư tưởng tạo dựng môi trường ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại, đồng thời không được vì mục tiêu quản lý an ninh mà kìm hãm phát triển. Với kinh tế di sản, điều này có nghĩa là phải quản trị rủi ro (chống xuyên tạc lịch sử, thương mại hóa cực đoan làm biến dạng bản sắc, lợi dụng hợp tác để gây ảnh hưởng xấu đến con người, môi trường xã hội), nhưng vẫn bảo đảm không gian sáng tạo, không gian thị trường và hợp tác quốc tế đúng định hướng.
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế di sản với củng cố an ninh, quốc phòng
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế di sản và củng cố quốc phòng, an ninh là quan hệ hai chiều, biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó kinh tế di sản tạo ra nguồn lực vật chất - tinh thần để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, gia tăng niềm tự hào dân tộc, tạo nguồn sinh kế cho người dân, ngược lại, quốc phòng - an ninh vững chắc tạo “môi trường ổn định” để di sản được bảo tồn, phát huy và khai thác phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ phát triển bền vững đất nước theo đúng định hướng của Đảng. Mối quan hệ này tác động qua lại được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, kinh tế di sản củng cố “thế trận lòng dân” và an ninh văn hóa - tư tưởng
Ở chiều thứ nhất, kinh tế di sản không chỉ tạo tăng trưởng, mà còn củng cố an ninh văn hóa - tư tưởng thông qua việc nuôi dưỡng bản sắc, niềm tự hào và sự gắn kết cộng đồng, trách nhiệm công dân. Trên phương diện an ninh, đây là nền tảng bền vững của “lòng dân”: xã hội gắn kết thì sẽ có sức đề kháng tốt chống lại những luận điệu xuyên tạc, cực đoan hóa và xung đột lợi ích.
Thứ hai, kinh tế di sản góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thông qua sinh kế và ổn định xã hội
Trật tự, an toàn xã hội là “trạng thái xã hội bình yên… có trật tự, kỷ cương”, bao gồm bảo đảm an ninh xã hội, phòng chống tội phạm, trật tự công cộng, an toàn giao thông, bài trừ tệ nạn, bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế di sản giúp tạo việc làm, mở thêm nhiều dịch vụ, phát triển hệ sinh thái kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, du lịch, chuỗi logictic, tạo ra dòng thu nhập tại chỗ cho người dân địa phương. Khi lĩnh vực kinh tế di sản được quản trị tốt, phân phối lợi ích hợp lý sẽ góp phần làm giảm áp lực thất nghiệp và tệ nạn xã hội, qua đó hỗ trợ vấn đề an ninh, trật tự xã hội phát triển theo đúng “kỷ cương, bình yên”. Có thể thấy, kinh tế di sản càng phát triển thì nhu cầu bảo đảm an ninh, an toàn càng trở thành một hợp phần quản trị bắt buộc chứ không phải “phần việc phát sinh”.
Thứ ba, quốc phòng - an ninh tạo môi trường ổn định để kinh tế di sản phát triển bền vững
Ở chiều ngược lại, khi quốc phòng - an ninh được giữ vững, xã hội ổn định và môi trường đầu tư trở nên đáng tin cậy hơn. Đó là nền tảng để dòng vốn, dòng khách du lịch, các hoạt động hợp tác – giao lưu và thị trường văn hóa vận hành thông suốt, lâu dài. Nhà nước vì thế có điều kiện ban hành và thực thi chính sách, pháp luật một cách nhất quán, giúp phát triển kinh tế di sản đi đúng hướng, khai thác có kiểm soát, bảo tồn có trách nhiệm, tăng trưởng gắn với an ninh, an toàn xã hội. Nói cách khác, ổn định là “điều kiện đủ” để kinh tế di sản cất cánh, còn kinh tế di sản phát triển đúng hướng lại góp phần củng cố trật tự, đồng thuận và an ninh xã hội, hai yếu tố này tác động qua lại, nâng đỡ lẫn nhau.
Thứ tư, lồng ghép quốc phòng, an ninh trong quy hoạch và hạ tầng di sản
Không gian di sản không chỉ là “điểm đến”, mà là một hệ sinh thái có vùng lõi, vùng đệm, có giao thông, dịch vụ, và những dòng người tập trung theo mùa, theo sự kiện. Vì thế, phát triển kinh tế di sản muốn bền vững phải được thiết kế ngay từ đầu theo nguyên tắc lồng ghép quốc phòng, an ninh vào chiến lược, quy hoạch và từng dự án cụ thể. Điều này đòi hỏi tỉnh khi triển khai dự án cần tiến hành xuyên suốt các khâu từ lập quy hoạch - thẩm định - tổ chức thực hiện. Trong đó, cơ quan quy hoạch phải lấy ý kiến cơ quan quốc phòng, đồng thời bảo đảm phương án phát triển gắn với thế trận khu vực phòng thủ. Mặt khác, với các công trình dân dụng, giao thông và hạ tầng kỹ thuật quanh di sản cần được xây dựng theo tư duy “hữu dụng kép”, tức là vừa phục vụ phát triển dân sinh du lịch trong thời bình, nhưng vừa có khả năng chuyển đổi để đáp ứng yêu cầu quốc phòng an ninh khi cần. Nhìn như vậy, đầu tư hạ tầng du lịch - dịch vụ không chỉ là bài toán tăng trưởng, mà còn là bài toán an ninh không gian và an toàn hệ thống, để phát triển nhanh nhưng không tạo ra “điểm yếu chiến lược”.
Thứ năm, có cơ chế huy động sức mạnh toàn dân, nền tảng chung của an ninh và bảo tồn - phát huy di sản.
Kinh tế di sản chỉ phát triển bền vững khi cộng đồng được đặt đúng vị trí “chủ thể di sản”, an ninh quốc gia cũng chỉ vững chắc khi dựa vào thế trận lòng dân. Sức mạnh toàn dân là sức mạnh tổng hợp. Do vậy phải làm sao vừa tạo được sự đồng thuận xã hội, vừa giúp bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng, đồng thời vừa trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển kinh tế - xã hội. Từ yêu cầu đó cho thấy mô hình phù hợp nhất là đồng quản trị. Trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế và điều phối, doanh nghiệp đầu tư và đổi mới, cộng đồng thực hành di sản và hưởng lợi công bằng, lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh, an toàn, còn giới khoa học có trách nhiệm bảo đảm tính khoa học và tính xác thực trong bảo tồn, diễn giải di sản. Khi các chủ thể cùng đứng trong một cấu trúc phối hợp, di sản mới vừa “sống” trong đời sống kinh tế, vừa “vững” trong nền tảng quốc phòng, an ninh.
Tiềm năng, thực trạng phát triển kinh tế di sản ở Ninh Bình trong mối quan hệ với bảo đảm quốc phòng, an ninh ở Ninh Bình
Nguồn lực di sản và vị trí chiến lược của Ninh Bình
Sau thời điểm sáp nhập tháng 7 năm 2025, tỉnh Ninh Bình bước sang một không gian tăng trưởng mới, hình thành các vành đai dịch vụ - du lịch - công nghiệp văn hóa, đồng thời nâng cấp năng lực điều phối liên vùng. Với không gian phát triển mở rộng khoảng 4.000 km², quy mô dân số trên 4,4 triệu người, cùng vị trí địa chiến lược nằm ở cửa ngõ phía Nam của Hà Nội, vùng giao thoa các không gian địa lý - văn hóa, nơi kết nối các tuyến cao tốc, đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ và các hướng liên kết ven biển đã tạo điều kiện mở ra thị trường phát triển nhanh cho chuỗi sản phẩm văn hóa - du lịch - dịch vụ sáng tạo. Trên nền “mặt bằng chiến lược” ấy, nguồn lực di sản chính là lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Vốn là vùng đất cổ có bề dày lịch sử văn hóa, nơi các lớp trầm tích văn hóa – lịch sử kết tinh chồng lớp lên nhau hình thành hệ thống di sản dày đặc, từ các dấu ấn cố đô đến không gian tín ngưỡng – lễ hội – làng nghề cùng kho tàng tri thức dân gian bản địa. Kể từ sau sát nhập, sức mạnh của Ninh Bình mới không chỉ là phép cộng địa giới, mà là khả năng liên kết – cộng hưởng nguồn lực từ ba không gian di sản của Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Quy mô đó mở ra một cấu trúc sản phẩm liên hoàn “đa vùng” (tâm linh–sinh thái–biển–làng nghề), tạo điều kiện hình thành tuyến trải nghiệm dài ngày và tăng chi tiêu, thay vì khai thác manh mún theo từng điểm đến.
Hiện này trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có trên 5.071 di tích đã kiểm kê, 1.106 di tích xếp hạng (gồm 01 di sản thế giới; 10 di tích quốc gia đặc biệt; 264 di tích quốc gia; 832 di tích cấp tỉnh), cùng 40 di sản phi vật thể cấp quốc gia, 01 di sản ghi danh đại diện của nhân loại, và 17 hiện vật, nhóm hiện vật là Bảo vật quốc gia(5). Từ những số liệu trên cho thấy Ninh Bình không chỉ có “điểm đến” đơn lẻ, mà có một hệ sinh thái di sản đủ độ dày để tổ chức các chuỗi giá trị kinh tế di sản như: tham quan - trải nghiệm, giáo dục di sản, lưu trú, ẩm thực, thủ công truyền thống, trình diễn – sự kiện, sáng tạo nội dung…
Từ góc độ kinh tế di sản gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, ý nghĩa chiến lược của sáp nhập nằm ở chỗ: (i) mở rộng không gian để tổ chức lại nguồn lực và nâng sức cạnh tranh vùng; (ii) biến di sản thành sức mạnh mềm củng cố đồng thuận xã hội, bồi đắp bản sắc – nền tảng ổn định cho phát triển bền vững; (iii) tận dụng vị trí “cửa ngõ” và mạng kết nối để vừa phát triển dịch vụ–du lịch, vừa tăng năng lực điều hành, quản trị rủi ro, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong các mùa cao điểm. Với tinh thần đổi mới “không mặc áo mới cho tư duy cũ” cũng đặt ra yêu cầu đổi mới quản trị, quy hoạch và huy động nguồn lực để sáp nhập thực sự tạo đà bứt phá cho Ninh Bình.
Có thể nói, vị trí chiến lược của tỉnh sau sáp nhập đã tạo ra “trục mở” về kết nối và thị trường. Thêm vào đó, nguồn lực di sản quy mô lớn, đa dạng tạo ra “vốn gốc” để hình thành chuỗi giá trị. Và khi những yếu tố thuận lợi trên được dẫn dắt bằng tư duy quản trị mới, Ninh Bình có đầy đủ điều kiện để chuyển hóa thành công nguồn di sản thành động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố “thế trận lòng dân” và năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong một cấu trúc phát triển bền vững.
Thực trạng phát triển kinh tế di sản trong mối quan hệ với bảo đảm quốc phòng, an ninh ở Ninh Bình
Những thành tựu đạt được
Thứ nhất, phát triển kinh tế di sản gắn với du lịch cộng đồng theo hướng “đồng quản trị” và chia sẻ lợi ích
Trong cấu trúc kinh tế di sản của Ninh Bình, du lịch cộng đồng nổi lên như một cơ chế chuyển hóa trực tiếp “vốn di sản” (cảnh quan sông nước, đa dạng sinh học, di tích - lễ hội, tri thức bản địa) thành dòng tiền, việc làm và năng lực tự bảo vệ di sản. Điểm đáng chú ý là mô hình này không phát triển theo logic tự phát thuần túy, mà được “hậu thuẫn” bởi một khung chính sách tương đối rõ, qua đó định hình hướng đi “đồng quản trị” và chia sẻ lợi ích.
Du lịch cộng đồng ở Ninh Bình xuất hiện sớm từ năm 2005 tại xã Gia Vân (Gia Viễn), nơi người dân cung cấp lưu trú tại nhà phục vụ khách tham quan Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long. Từ “điểm khởi phát” này, mô hình lan tỏa ra nhiều địa bàn nhờ tác động cộng hưởng của (i) tăng trưởng khách du lịch; (ii) lợi thế di sản–sinh thái; và (iii) hệ thống chính sách của tỉnh.
Đặc điểm của mô hình du lịch cộng đồng là người dân chính là chủ thể, đóng vai trò nóng cốt, cung cấp các dịch vụ cho du khách, dưới sự hỗ trợ của chính quyền, sự phối hợp liên kết của các đơn vị lữ hành và các bên liên quan. Trong thời gian qua, huyện Gia Viễn đã có nhiều chính sách phát triển du lịch cộng đồng dựa trên lợi thế về di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên và nghệ thuật ẩm thực đặc sắc của địa phương. Nhiều phong trào văn hóa, văn nghệ được quan tâm, các câu lạc bộ nghệ thuật ra đời gắn với định hướng du lịch cộng đồng và phát triển kinh tế. Người dân đã biết khai thác truyền thống văn hóa, tận dụng các phương tiện thô sơ như xe trâu, xe bò, thuyền nan, vừa vận chuyển du khách vừa “kể chuyện” cho du khách mỗi khi đến các địa danh. Đến các điểm du lịch cộng đồng, du khách còn được hòa mình vào thiên nhiên, trải nghiệm cuộc sống nhà nông, tham gia vào đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân như cấy lúa, trồng trọt, chăn nuôi… hay tham gia các lễ hội cộng đồng, thưởng thức chương trình nghệ thuật (hát chèo, múa vũ điệu cờ lau, kéo trống)…
Từ thành công của mô hình du lịch xã Gia Vân, đến nay, loại hình du lịch này được nhân rộng ra nhiều địa bàn khác, trong đó có Hoa Lư và Nho Quan. Thực tế vận hành mô hình du lịch cộng đồng tại Hoa Lư và Nho Quan cho thấy một logic phát triển có tính định hướng rõ ràng, đó là khai thác “vốn di sản” để tạo sinh kế, nhưng không đánh đổi bản sắc và sự phát triển bền vững. Phát triển kinh tế di sản gắn với du lịch cộng đồng sẽ lấy cộng đồng làm chủ thể, đồng thời dùng cơ chế chính sách–đào tạo–xúc tiến như đòn bẩy để hình thành thị trường dịch vụ có chất lượng. Trường hợp mô hình ở Hoa Lư, lợi thế cạnh tranh nằm ở “cụm” tài nguyên di sản–cảnh quan có sức hút quốc tế (đặc biệt Tràng An – Di sản thế giới UNESCO). Điểm đáng chú ý là du lịch cộng đồng không vận hành theo kiểu tự phát, mà được đặt trong một khung quản lý phát triển bền vững, định vị du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và tổ chức lại năng lực cộng đồng theo hướng chuyên nghiệp hóa. Nhờ hỗ trợ tập huấn và xúc tiến, người dân tham gia nhiều hơn với trên 100 hộ kinh doanh homestay, đầu tư gần 1.000 phòng, qua đó mở rộng cơ hội việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương. Tuy nhiên, giá trị cốt lõi của mô hình không chỉ nằm ở “tăng phòng, tăng khách”, mà ở cách kéo dài chuỗi giá trị: từ lưu trú–ẩm thực–trải nghiệm sang tiêu thụ đặc sản, thủ công (cơm cháy, mây tre đan…), đồng thời “bổ sung nội dung văn hóa” bằng các lớp chèo, hát văn và câu lạc bộ nghệ thuật phục vụ điểm đến. Kết quả là một hệ sinh thái dịch vụ vừa tạo thu nhập trực tiếp cho hộ dân, vừa gia tăng sức hấp dẫn của sản phẩm, thu hút gần 2,5 triệu lượt khách/năm và doanh thu xấp xỉ 1.700 tỷ đồng.
Tại Nho Quan, mô hình phát triển theo phong cách khác, đó là lấy bản sắc văn hóa Mường làm cốt lõi, gắn với không gian miền núi và các điểm đến sinh thái–tâm linh, đặc biệt là Vườn quốc gia Cúc Phương. Đây là hướng đi có ý nghĩa không chỉ về kinh tế, mà còn về bảo tồn văn hóa sinh động, nơi đó cộng đồng không “trưng bày” văn hóa như một phương tiện phục vụ du lịch, mà chuyển hóa di sản phi vật thể (hát giao duyên, cồng chiêng…) và ẩm thực truyền thống (ốc núi, rượu men lá…) thành trải nghiệm có tính độc bản cùng hình thức lưu trú nhà sàn, dịch vụ gắn hồ–tuyến sinh thái tạo nên sự phù hợp về không gian và phong tục. Từ vài hộ làm đơn lẻ, mạng lưới đã phát triển lên trên 20 hộ tham gia. Ngoài ra, địa phương còn sử dụng công cụ sự kiện (Ngày hội Văn hóa–Thể thao các dân tộc) như một “phương tiện kích cầu” để kéo dòng khách và nâng cao nhận diện thương hiệu điểm đến. Nhờ đó, năm 2022 các khu, điểm du lịch ở Nho Quan đón 120.822 lượt khách, doanh thu ước 14,1 tỷ đồng. Điều quan trọng hơn, mô hình này đã mở ra thêm kênh thu nhập cho đồng bào qua bán sản vật và tour trải nghiệm bản sắc Mường, qua đó tạo động lực gìn giữ di sản văn hóa.
Như vậy, từ những trường hợp trên có thể thấy du lịch cộng đồng ở Ninh Bình không chỉ “tạo sản phẩm” mà đã tạo dòng tiền–việc làm và cơ chế gắn lợi ích với trách nhiệm bảo tồn, qua đó củng cố nền tảng quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội tại điểm đến. Tuy nhiên, để thành tựu này không bị mất đi bởi quá tải và thương mại hóa di sản thì điều kiện then chốt vẫn là quản trị cân bằng bảo tồn–khai thác (chuẩn ứng xử trong không gian di sản, kiểm soát sức chứa, minh bạch chia sẻ lợi ích), coi an ninh, trật tự và an toàn du lịch là một phần của “chất lượng điểm đến” chứ không chỉ là biện pháp hành chính.
Thứ hai, phát triển kinh tế di sản gắn với tổ chức khai thác tốt các hoạt động trưng bày chuyên đề tại Bảo tàng
Trong chuỗi giá trị kinh tế di sản, bảo tàng không chỉ thực hiện chức năng “lưu giữ–giới thiệu”, mà còn là thiết chế tạo giá trị gia tăng thông qua trưng bày, diễn giải, giáo dục trải nghiệm và kết nối tiêu dùng văn hóa, qua đó hình thành nhu cầu trải nghiệm, nâng cao chất lượng chi tiêu và mở rộng các nhóm công chúng (học sinh–sinh viên, gia đình, khách quốc tế, khách MICE). Thực tiễn ở Ninh Bình cho thấy xu hướng rõ nét chuyển từ “trưng bày tĩnh” sang “trưng bày gắn sự kiện–gắn trải nghiệm–liên kết địa phương”, với các chuyên đề, triển lãm tiêu biểu như “Không gian Tết xưa”, “Những làng nghề truyền thống tiêu biểu ở Ninh Bình”, “Kinh đô Hoa Lư – Theo dòng lịch sử”, “Ninh Bình – Dấu ấn một vùng đất cổ”(6)…
Đáng chú ý, trong các đợt cao điểm tuyên truyền gắn với những ngày lễ lớn của đất nước, bảo tàng tăng cường mở cửa, tổ chức tham quan–trải nghiệm, qua đó vừa kích hoạt tiêu dùng văn hóa, vừa củng cố “an ninh văn hóa–tư tưởng” và giáo dục truyền thống. Kết quả, giai đoạn 2021–2025 Bảo tàng đón 242.755 lượt khách (trong đó 2.261 lượt khách quốc tế) đến tham quan, học tập, nghiên cứu. Đây là một dấu hiệu quan trọng cho thấy “không gian bảo tàng” đang được vận hành như một cấu phần của kinh tế di sản địa phương(7).
Thứ ba, phát huy giá trị di sản như một nguồn lực giáo dục truyền thống, qua đó củng cố và tăng cường “thế trận lòng dân”.
Ở Ninh Bình, di sản không chỉ là “điểm đến” của du lịch mà còn là một nguồn lực giáo dục có khả năng định hướng tư tưởng tình cảm và gia tăng niềm từ hào với bản sắc cộng đồng. Thông qua hệ thống bảo tàng, di tích, lễ hội và các hoạt động tuyên truyền văn hóa tại cơ sở (như chiếu phim lưu động, tuyên truyền chuyên đề về lịch sử địa phương, truyền thống cách mạng, lễ hội Hoa Lư…), tỉnh đã tạo ra môi trường học tập giàu trải nghiệm, giúp người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu đúng, có ấn tượng tốt đẹp và tự hào về lịch sử văn hóa quê hương. Khi tri thức lịch sử được “làm sống lại” trong không gian di sản, nó sẽ góp phần nuôi dưỡng ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm và sự gắn kết xã hội. Đây chính là nền tảng quan trọng để tăng cường “thế trận lòng dân” trong bảo đảm quốc phòng, an ninh nhân dân.
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, tỉnh Ninh Bình đã có cách triển khai hiệu quả hướng dẫn liên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học. Điều này cho thấy hướng tiếp cận phù hợp của tỉnh đó là đưa di sản vào trường học theo phương pháp giáo dục trải nghiệm. Nổi bật trong các chương trình này là các cuộc trưng bày chuyên đề “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – Những bằng chứng lịch sử, pháp lý” được tổ chức tại địa phương và các cơ sở giáo dục, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết về chủ quyền biển đảo, đồng thời tăng sức đề kháng trước các thông tin sai lệch. Ngoài ra, các chương trình như “Đưa hiện vật bảo tàng tới trường học”, chuyên đề “Kinh đô Hoa Lư – vang vọng mãi ngàn năm” tại các trường Trung học cơ sở giúp học sinh tiếp cận lịch sử theo cách trực quan, gần gũi, qua đó nâng hiệu quả giáo dục truyền thống.
Mặt khác, từ thực tiễn quản lý Khu di tích lịch sử – văn hóa Cố đô Hoa Lư cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát huy di sản và năng lực quản trị trật tự, an toàn trong không gian tập trung đông người. Trung tâm Bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa Cố đô Hoa Lư đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn, bảo đảm an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường, góp phần nâng chất lượng phục vụ du khách. Theo báo cáo của Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2021–2025, khu di tích cố đô Hoa Lư ước đón 2.318.120 lượt khách (trong đó 1.086.188 lượt khách quốc tế và 1.231.932 lượt khách trong nước), doanh thu ước đạt 41.582.000.000 đồng. Đây là minh chứng cho hiệu quả tổng hợp giữa giáo dục truyền thống, quảng bá hình ảnh địa phương và tăng cường năng lực quản trị xã hội tại không gian di sản.
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế di sản với bảo đảm quốc phòng, an ninh ở Ninh Bình
Một là, tổ chức không gian kinh tế di sản gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Các cụm di sản–du lịch như Tràng An, Tam Cốc – Bích Động, Cúc Phương, Vân Long… vừa giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu du lịch của tỉnh, vừa nằm trong một cấu trúc địa lý có ý nghĩa về phòng thủ, góp phần tạo chiều sâu chiến lược cho khu vực cửa ngõ phía Nam Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch và đầu tư hạ tầng (giao thông kết nối, cơ sở lưu trú, bến thuyền, hệ thống quản lý và điều phối du khách…) cần được thiết kế theo hướng tích hợp công năng dân sự với yêu cầu quốc phòng - an ninh. Cách tiếp cận này giúp hạ tầng phục vụ phát triển trong điều kiện bình thường, đồng thời có thể nhanh chóng chuyển đổi để đáp ứng các nhiệm vụ quốc phòng, cứu hộ - cứu nạn và phòng, chống thiên tai khi phát sinh tình huống.
Đối chiếu mô hình phát triển kinh tế di sản gắn với quốc phòng, an ninh ở Ninh Bình với các tỉnh biên giới phía Bắc, có thể thấy điểm chung là sự tương đồng trong quy hoạch khu kinh tế–quốc phòng và các công trình trọng điểm theo nguyên tắc “phát triển gắn với sẵn sàng”, tối ưu hiệu quả kinh tế trong thời bình nhưng vẫn bảo đảm năng lực huy động, điều phối và bảo vệ không gian trọng yếu khi cần thiết.
Hai là, phát triển kinh tế di sản gắn với bảo đảm an ninh chính trị, an ninh văn hóa và trật tự, an toàn xã hội. Các không gian di sản, lễ hội và cơ sở tín ngưỡng - tôn giáo thường tập trung đông người, có sự tham gia đa dạng của cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội và khách du lịch (trong đó có khách quốc tế). Do đặc điểm “mở” và mật độ tương tác cao, đây là những không gian tiềm ẩn nhạy cảm về an ninh chính trị, an ninh văn hóa và an ninh tôn giáo nếu thiếu cơ chế quản trị phù hợp. Mặt khác, an ninh văn hóa được xem là một cấu phần quan trọng của an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh văn hóa–tư tưởng vì vậy chính là là bảo vệ nền tảng tinh thần của xã hội và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, trật tự, an toàn xã hội vừa là điều kiện tiên quyết, vừa là kết quả phản ánh chất lượng của quá trình phát triển kinh tế di sản theo hướng bền vững. Khi môi trường xã hội an toàn, trải nghiệm du khách được nâng cao, chi phí rủi ro giảm, niềm tin thị trường tăng. Ngược lại, các sự cố an ninh, mất trật tự hoặc khủng hoảng truyền thông có thể nhanh chóng làm suy giảm uy tín điểm đến và hiệu quả khai thác di sản. Trong thực tiễn Ninh Bình, các hoạt động du lịch đường thủy, leo núi, tham quan hang động và lễ hội tín ngưỡng–tôn giáo đặt ra yêu cầu cao đối với công tác bảo đảm an ninh, an toàn du lịch. Điều này đòi hỏi phải tổ chức phòng ngừa và ứng phó rủi ro một cách bài bản, vừa phòng chống tội phạm và tệ nạn, bảo đảm an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy vừa quản lý dòng khách, cũng như chủ động kịch bản ứng phó thiên tai và tai nạn trong không gian di sản.
Ba là, phát triển kinh tế di sản là một cơ chế quan trọng góp phần củng cố “thế trận lòng dân”. Khi người dân địa phương được thụ hưởng trực tiếp và công bằng từ các hoạt động du lịch, dịch vụ và làng nghề gắn với di sản (thông qua việc làm, tăng thu nhập, đa dạng hóa sinh kế), mức độ gắn bó và trách nhiệm của cộng đồng đối với tài nguyên di sản có xu hướng gia tăng. Lợi ích kinh tế được “neo” vào không gian di sản tạo ra động lực để người dân chủ động tham gia bảo vệ môi trường, gìn giữ cảnh quan – giá trị văn hóa, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và tham gia duy trì trật tự, an toàn tại điểm đến. Trong bối cảnh đó, cộng đồng trở thành chủ thể đồng quản trị, phối hợp hiệu quả hơn với chính quyền cơ sở và các lực lượng chức năng trong phòng ngừa rủi ro, xử lý sự cố và bảo đảm an ninh trật tự.
Thực tiễn các mô hình du lịch cộng đồng tại Hoa Lư, Gia Viễn và Nho Quan cho thấy khi cộng đồng được trao quyền tham gia vào quá trình tổ chức dịch vụ và được chia sẻ lợi ích theo cơ chế minh bạch, họ có thể trở thành lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ tài nguyên, giám sát trật tự và hỗ trợ an toàn cho du khách cũng như địa phương. Nói cách khác, kinh tế di sản, nếu được thiết kế theo hướng bao trùm và chia sẻ lợi ích không chỉ tạo giá trị tăng trưởng, mà còn củng cố nền tảng xã hội cho phát triển ổn định và bền vững.
Một số hạn chế, thách thức đặt ra
Một là, sức ép cân bằng giữa bảo tồn và khai thác kinh tế vẫn rất lớn. Khi hoạt động khai thác di sản bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn, điểm đến dễ rơi vào quỹ đạo thương mại hóa quá mức, khi đó tính xác thực và tính toàn vẹn của không gian di sản dễ bị bào mòn, giá trị văn hóa bị “phai nhạt”, trải nghiệm trở nên đồng dạng, thậm chí phát sinh nguy cơ hư hại tài nguyên. Thực tiễn ở Ninh Bình cho thấy một số điểm đến có dấu hiệu quá tải theo mùa, gây áp lực lên hạ tầng tiếp cận, bến bãi, vệ sinh môi trường, năng lực thu gom–xử lý rác thải và chất lượng cảnh quan. Nếu thiếu các công cụ điều tiết dựa trên sức chứa du lịch, cơ chế phân luồng hợp lý và tiêu chuẩn vận hành bền vững, thì “thành công về lượng” có thể nhanh chóng chuyển hóa thành “chi phí dài hạn” đối với công tác bảo tồn và hình ảnh điểm đến.
Đặc biệt, việc thu hút khách và mở rộng hệ sinh thái homestay–dịch vụ nếu tiếp tục vận hành theo quán tính “tăng trưởng theo lượng” sẽ làm ảnh hưởng đến công tác bảo tồn–khai thác, khi đó mùa cao điểm càng dễ quá tải lượng khác, gây áp lực hạ tầng–môi trường–cảnh quan, kéo theo xu hướng thương mại hóa, và cuối cùng làm suy giảm chất lượng trải nghiệm cũng như giá trị di sản.
Hai là, nguy cơ lệch pha giữa phát triển du lịch với bảo đảm an ninh, trật tự vẫn hiện hữu, nhất là khi quy mô thị trường tăng nhanh. Dòng khách lớn và đa dạng có thể kéo theo nhiều rủi ro như tệ nạn xã hội, tình trạng chặt chém, gian lận du lịch, tranh chấp dịch vụ, đồng thời gia tăng nguy cơ tai nạn (đường thủy, leo núi, hang động), cháy nổ và sự cố nơi tập trung đông người. Nếu địa phương ưu tiên “tăng trưởng theo lượng” nhưng thiếu chuẩn an toàn điểm đến và cơ chế kiểm soát rủi ro bài bản, chỉ một vài sự cố cũng có thể bùng phát thành khủng hoảng truyền thông, làm suy giảm niềm tin du khách và tổn hại uy tín địa phương. Về lâu dài, bất ổn trong không gian di sản còn bào mòn đồng thuận xã hội, giảm mức độ hợp tác của cộng đồng, qua đó tác động trực tiếp tới việc củng cố “thế trận lòng dân”.
Cùng với đó, cơ chế “đồng quản trị – chia sẻ lợi ích” trong du lịch cộng đồng tuy đã hình thành nhưng triển khai chưa đồng đều giữa các địa bàn. Năng lực quản trị của hộ kinh doanh và năng lực tổ chức dịch vụ còn chênh lệch, dễ dẫn tới lợi ích tập trung, cạnh tranh thiếu lành mạnh hoặc xu hướng “mất bản sắc”. Khi cảm nhận về công bằng bị suy giảm, động lực của cộng đồng trong việc tham gia bảo vệ di sản và giữ gìn trật tự cũng suy yếu, tạo ra vòng xoáy rủi ro mới cho quản trị điểm đến. Đây chính là những thách thức hiện hữu đang đặt ra đối với công tác quản lý ở địa phương.
Ba là, cơ chế lồng ghép quốc phòng–an ninh (QP–AN) trong quy hoạch không gian di sản ở Ninh Bình chưa thể hiện rõ như một cấu phần có thể “vận hành” trong thực tiễn. Hiện nay, quy hoạch các không gian di sản vẫn chủ yếu được thiết kế theo logic phát triển văn hóa–du lịch, trong khi đó, cách tiếp cận “mục tiêu kép” (vừa thúc đẩy phát triển, vừa bảo đảm năng lực sẵn sàng, huy động và ứng phó) chưa được cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn và quy trình bắt buộc ngay từ khâu thẩm định dự án.
Hạn chế này bộc lộ ở việc thiếu các yêu cầu kỹ thuật và cơ chế điều phối liên ngành đối với ba nhóm nội dung cốt lõi: (i) tiêu chí thiết kế hạ tầng có khả năng chuyển đổi công năng trong tình huống khẩn cấp; (ii) phương án an ninh–an toàn cho không gian tập trung đông người (kiểm soát dòng người, thoát nạn, cứu hộ, thông tin cảnh báo); (iii) quy chế phối hợp liên ngành giữa văn hóa–du lịch với công an, quân sự và lực lượng phòng, chống thiên tai trong các kịch bản rủi ro. Đối với những khu vực có độ nhạy cảm cao về địa hình và nguy cơ thiên tai như ven biển Kim Sơn hoặc vành đai núi đá vôi giáp Thanh Hóa, nhu cầu về một “lớp quy hoạch tích hợp” càng trở nên cấp thiết nhằm nâng sức chống chịu và giảm chi phí rủi ro cho hệ thống điểm đến.
Bên cạnh đó, dù các hoạt động bảo tàng và giáo dục di sản đã góp phần hình thành “cầu trải nghiệm” quan trọng, vẫn còn dư địa để nâng chất theo hướng số hóa nội dung, tăng năng lực diễn giải, củng cố liên kết tour tuyến và xây dựng hệ chỉ báo đo lường hiệu quả theo nhóm công chúng. Việc đồng thời nâng cấp năng lực vận hành QP–AN trong quy hoạch và nâng cao chất lượng chuỗi sản phẩm giáo dục–bảo tàng sẽ giúp hệ sinh thái di sản phát triển bền vững hơn, vừa gia tăng giá trị kinh tế, vừa củng cố nền tảng an toàn và đồng thuận xã hội.
Có thể nói, các thách thức trên có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Nếu quá tải và thương mại hóa quá mức sẽ làm gia tăng áp lực lên môi trường, cơ sở hạ tầng, đồng thời làm tăng rủi ro về vấn đề an ninh trật tự, an toàn xã hội và xung đột lợi ích. Trong khi đó, nếu thiếu cơ chế lồng ghép quốc phòng–an ninh sẽ khiến hệ thống ứng phó với rủi ro trong khai thác kinh tế di sản dễ bị động. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy “tăng trưởng theo lượng” sang “phát triển theo chất”, lấy bảo tồn, an toàn và năng lực chống chịu làm trụ cột của phát triển kinh tế di sản bền vững.
Một số giải pháp phát triển kinh tế di sản gắn với củng cố quốc phòng, an ninh ở Ninh Bình
Một là, nâng cao nhận thức và năng lực hoạch định chính sách
Ninh Bình tiếp tục cụ thể hóa chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Do vậy, việc phát triển kinh tế di sản phải đi đôi với bảo tồn di sản gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, coi đây là tiêu chuẩn bắt buộc khi xây dựng quy hoạch và lựa chọn dự án trong thời gian tới, trước mắt là giai đoạn 2025 - 2035 (tầm nhìn 2045). Theo đó, mọi chương trình ở các không gian trọng điểm (Tràng An - Tam Cốc - Hoa Lư, Bái Đính - Vân Long, Cúc Phương, ven biển Kim Sơn…) cần được thẩm định đồng thời theo ba nhóm tiêu chí: (i) bảo tồn (tính xác thực, toàn vẹn, môi trường); (ii) hiệu quả kinh tế - xã hội (việc làm, thu nhập, phân phối lợi ích); (iii) an ninh, an toàn (trật tự, an toàn du lịch, phòng chống thiên tai, khả năng huy động khi khẩn cấp). Cần tăng cường tổng kết thực tiễn, chuẩn hóa dữ liệu và chỉ số quản trị để Ninh Bình chủ động thiết kế chính sách dựa trên bằng chứng, thay vì chỉ dựa vào tăng trưởng lượng khách.
Hai là, quy hoạch không gian di sản theo hướng tích hợp dân sự - quốc phòng và tăng năng lực ứng phó
Giải pháp trọng tâm là lồng ghép yêu cầu an ninh, an toàn ngay từ khâu quy hoạch và thẩm định dự án. Hạ tầng giao thông, bến thuyền, điểm đón - trả khách, cơ sở lưu trú, trung tâm thông tin - cứu hộ phải được thiết kế theo nguyên tắc “phục vụ phát triển trong điều kiện bình thường nhưng có thể chuyển đổi trong tình huống khẩn cấp” (cứu hộ, cứu nạn, sơ tán, hậu cần, điều phối lực lượng). Với đặc thù Ninh Bình, cần ưu tiên các bài toán rủi ro thường gặp: quản lý quá tải tại tuyến đường thủy Tràng An - Tam Cốc, an toàn leo núi - hang động, và phòng chống thiên tai ở vùng ven biển Kim Sơn. Đồng thời, hình thành các “điểm bảo đảm” an ninh, an toàn tại không gian di sản trên cơ sở phối hợp công an cơ sở, dân quân, kiểm lâm, kiểm ngư và lực lượng cứu hộ, bảo đảm trực chiến theo mùa cao điểm và theo các sự kiện lớn.
Ba là, củng cố mô hình du lịch cộng đồng do người dân làm chủ, gắn lợi ích với trách nhiệm bảo tồn di sản và giữ gìn môi trường, an ninh trật tự
Du lịch cộng đồng cần được phát triển theo hướng đồng quản trị thực chất, tránh tự phát và thương mại hóa. Nhà nước tập trung vào thể chế, tiêu chuẩn và hạ tầng; doanh nghiệp phát triển thị trường, chất lượng dịch vụ; cộng đồng là chủ thể cung cấp dịch vụ và thụ hưởng. Điểm mấu chốt là cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch (quỹ bảo tồn/quỹ cộng đồng, tiêu chí tham gia, công khai nguồn thu - chi từ vé và dịch vụ), để giảm xung đột lợi ích và củng cố đồng thuận xã hội. Song song, cần chuẩn hóa đào tạo cho người dân vùng di sản (chủ homestay, lái đò, hướng dẫn viên) về pháp luật du lịch, an toàn - cứu hộ cơ bản, ứng xử văn minh, phòng, chống gian lận, qua đó nâng năng lực tự quản và hỗ trợ lực lượng chức năng.
Bốn là, nâng chuẩn an ninh, an toàn như một cấu phần của “chất lượng điểm đến”
Trong không gian di sản, an ninh, an toàn không thể xem là biện pháp hành chính bổ sung mà phải là một phần của sản phẩm. Ninh Bình cần vận hành bộ tiêu chí “điểm đến an toàn” theo đặc thù từng loại hình: đường thủy (giám sát tàu thuyền, áo phao, thời tiết, cứu hộ), hang động - leo núi (cảnh báo, phân tuyến, cứu nạn), lễ hội (phân luồng đám đông, PCCC, kiểm soát giá). Cơ chế phối hợp liên ngành giữa quản lý di sản - du lịch với công an, quân sự, y tế, phòng chống thiên tai phải được chuẩn hóa theo kịch bản sự cố (tai nạn, cháy nổ, ngập lụt, tụ tập đông người), đi kèm diễn tập định kỳ và quy trình truyền thông khủng hoảng để bảo vệ uy tín điểm đến.
Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về bảo tồn và quản trị di sản, gắn với bảo vệ an ninh văn hóa
Tràng An là lợi thế đặc biệt để mở rộng hợp tác quốc tế về bảo tồn, du lịch bền vững và chuyển đổi số. Tuy nhiên, hội nhập cần đi kèm quản trị rủi ro: tăng cường thẩm định nội dung diễn giải, sản phẩm du lịch, hoạt động biểu diễn và vật phẩm lưu niệm nhằm bảo vệ an ninh văn hóa - tư tưởng, ngăn chặn yếu tố xuyên tạc lịch sử hoặc các yếu tố gây phản cảm xâm nhập không gian di sản. Cốt lõi là “mở cửa có chọn lọc”, thu hút nguồn lực và tri thức quốc tế nhưng giữ vững bản sắc và ổn định xã hội.
-------------------------------
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr.17.
(2) Quốc hội (2008), Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.11,13.
(3) Đoàn Minh Huấn (2025), Phát triển kinh tế di sản và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc gia, phát hành tháng 7 năm 2025, tr.1.
(4) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, tr.8
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr.17.
(6) Thu Thuỷ, Ninh Bình-khơi nguồn tài nguyên di sản để phát triển du lịch, đăng ngày 10/8/2025, https://sodulich.ninhbinh.gov.vn/vi/tin-tuc-su-kien/ninh-binh-khoi-nguon-tai-nguyen-di-san-de-phat-trien-du-lich-2414.html.
(7) Nổi bật như: Trưng bày chuyên đề: “Không gian Tết xưa” “Một thoáng Thành Nam”; “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt - Bản sắc và giá trị”; “Tết Mậu Thân 1968 - Dấu ấn lịch sử”; “Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt ở đền Lảnh Giang”; “Nghệ thuật Điêu khắc Phật giáo qua bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam”; “95 năm Đảng Cộng sản Việt Nam - Những mốc son lịch sử”; “Hà Nam theo dòng lịch sử”; “Tinh hoa cổ vật Hà Nam”; “100 năm Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2025) - Những dấu ấn Báo chí Hà Nam trong chặng đường xây dựng, phát triển” (Bảo tàng cơ sở 3); Triển lãm “Thành Nam - Từ truyền thống đến hiện đại”, Triển lãm “Thành Nam - Những mốc son lịch sử”, Chợ Tết “Một thoáng Thành Nam” (Bảo tàng cơ sở 2); “Không gian Tết xưa”, “Những làng nghề truyền thống tiêu biểu ở Ninh Bình”, “Kinh đô Hoa Lư - Theo dòng lịch sử”, “Ninh Bình - Dấu ấn một vùng đất cổ” (Bảo tàng cơ sở 1)...- Sở Văn hóa tỉnh Ninh Bình (2025), Báo cáo Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2021-2025, Phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2030, tr.4-5.
(8) Sở Văn hóa tỉnh Ninh Bình (2025), Báo cáo Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2021-2025, Phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2026-2030, tr.4-5.
Đồng lòng, chung sức hiện thực hóa các chiến lược đột phá để Thành phố Hồ Chí Minh vững bước phát triển  (05/11/2025)
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại  (05/11/2025)
Tỉnh Bắc Ninh - Thu hút FDI đứng thứ 2 toàn quốc  (04/11/2025)
Hội nghị bàn giao công tác Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương  (04/11/2025)
- Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng chính sách của Việt Nam
- Phát huy vai trò của báo chí trong truyền thông về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, góp phần nâng cao tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý
- Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người
- Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi học tập, làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng
- Chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai: Tiếp cận từ góc độ lịch sử và văn hóa
-
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm