TCCS - Những năm qua, nhờ tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế và sử dụng đất có hiệu quả, kinh tế - xã hội của huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, phát triển vượt bậc; quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa trên địa bàn không những diễn ra với tốc độ nhanh chóng mà còn kéo theo kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh; bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, đời sống nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc ngày càng nâng lên, tạo đà cho huyện tăng tốc phát triển mạnh trong những năm tiếp theo.

Chư Sê là huyện miền núi, cửa ngõ phía nam của tỉnh Gia Lai, có diện tích tự nhiên trên 135 ngàn héc-ta, trong đó đất nông - lâm nghiệp là 103 ngàn héc-ta, đất phi nông nghiệp là 11 ngàn héc-ta và đất chưa sử dụng khoảng 21 ngàn héc-ta.

Khi mới thành lập (17-8-1981), huyện có 12 xã với 53 ngàn người, trên 70% là đồng bào dân tộc thiểu số, 80% số hộ đói nghèo và mù chữ, kết cấu hạ tầng hầu như chưa có; đồng bào sống chủ yếu dựa vào trồng lúa rẫy theo kiểu “phát, đốt, chọc, tỉa”, du canh du cư, tự cung tự cấp; giao thông cách trở, đi lại khó khăn; hệ thống điện lưới chưa có, đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn; an ninh chính trị rất phức tạp...

Với đặc điểm tình hình trên, những năm qua, nhất là 5 năm gần đây, Chư Sê tập trung mọi nguồn lực khai thác các lợi thế và tiềm năng, nhất là lợi thế về giao thông và đất đai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi và khởi sắc, hình thành các khu sản xuất kinh doanh, dịch vụ tập trung, sản xuất hàng hóa phát triển. Đảng bộ và chính quyền huyện tích cực lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra các giải pháp phù hợp, sát đúng với điều kiện của từng vùng, xóa bỏ tình trạng du canh du cư, tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia tạo điều kiện kinh tế địa phương ngày càng phát triển.

Đến nay, cả huyện đã chuyển đổi hơn 5.000 ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất chưa sử dụng sang đất phi nông nghiệp để xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện, hệ thống truyền tải điện 500 kV, 220 kV, xây dựng các nhà máy chế biến, các cơ sở sản xuất kinh doanh. Riêng trong 4 năm (2005 - 2009), thực hiện chủ trương thu hút đầu tư của tỉnh Gia Lai, huyện đã xúc tiến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất. Kết quả đã tiến hành đo đạc và giao đất cho 268 tổ chức với diện tích 807 ha để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; cho 27 tổ chức và cá nhân thuê trên 3.500 ha đất để sản xuất, xây dựng nhà máy, trong đó có 8 tổ chức sản xuất nông - lâm nghiệp, dịch vụ chế biến; thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng 94 ha đất ở cho 797 hộ gia đình để xây dựng các công trình phúc lợi, công cộng, xây dựng khu dân cư mới; chuyển đổi 119 ha đất lâm nghiệp cho 19 doanh nghiệp của các Công ty cổ phần Khoáng sản Hoàng Anh Gia Lai, Công ty Tập đoàn Đức Long, Công ty Xi-măng Gia Lai, Ia Ly,... đầu tư khai thác, chế biến khoáng sản phục vụ xây dựng dân dụng và xuất khẩu. Ngoài ra huyện còn chuyển đổi 737 ha đất nông nghiệp và đất vườn sang đất ở tạo điều kiện cho nhân dân tách hộ chuyển đổi ngành nghề mở cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm vừa tăng thu cho ngân sách từ việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, vừa sử dụng quỹ đất có hiệu quả do sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ đem lại trên đơn vị diện tích, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa trên địa bàn.

Cùng với quá trình lãnh đạo, chỉ đạo sớm xác định cơ cấu kinh tế, thực hiện việc phân vùng quy hoạch, bố trí sản xuất, huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển,... huyện còn thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kịp thời, đúng với quy hoạch cho các tổ chức và nhân dân trong huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển mục đích sử dụng đất theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa. Đến cuối năm 2009, huyện đã cấp được 30.764 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với 31.210 ha cho hộ gia đình và cá nhân. Trong đó đất ở 3.029 ha, đất nông nghiệp 28.180 ha chiếm 75% so với tổng diện tích được đo đạc.

Để tăng nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, ngoài nguồn vốn huy động từ nội lực, huyện còn tạo điều kiện thuận lợi, mời gọi các ngân hàng thương mại mở chi nhánh, hoạt động tín dụng giúp nhân dân vay vốn đầu tư sản xuất. Đến nay, đã có 6 ngân hàng thương mại hoạt động trên địa bàn với tổng dư nợ bình quân trong 5 năm là 2.567 tỉ đồng (tăng 16,2 lần so với năm 2005). Tổng huy động vốn đạt 625 tỉ đồng (tăng 14,5 lần so với năm 2005), tỷ lệ nợ xấu hằng năm đều ở mức quy định. Mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhân dân là cộng đồng trách nhiệm, là bạn đồng hành vì sự phát triển của doanh nghiệp, vì sự tiến bộ, giàu có của nông dân và sự phồn vinh của địa phương. Trong 5 năm (2004 - 2009), tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng lên 1.192 tỉ đồng, trong đó vốn của nhân dân và các doanh nghiệp đầu tư trên 520 tỉ đồng.

Nhìn chung, việc chuyển đổi hướng sản xuất của huyện trong những năm qua là thành công. Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 21,5% (2005) lên 28% (2009), ước thực hiện năm 2010 là 30%; ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 17,9% (2005) lên 22% (2009), ước thực hiện năm 2010 là 25%; ngành nông nghiệp giảm từ 61% (2006) xuống còn 50% (2009) và ước thực hiện năm 2010 giảm còn 45%. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2005 - 2010) đạt 12,5%, dự kiến năm 2010 sẽ đạt 14,5%; thu nhập bình quân đầu người đạt 11,5 triệu đồng/ năm. Cuối năm 2007, ở Chư Sê đã hình thành 2 trung tâm kinh tế - xã hội ở 2 thị trấn, xuất hiện nhiều ngành nghề mới như sản xuất chế biến tiêu đỏ, sửa chữa, lắp ráp xe ô-tô vận tải nhẹ, sản xuất cơ khí, kẽm gai, lưới B40, cán tole, chế biến bông xơ, cao-su,cà-phê, phân vi sinh, gỗ tinh chế, đá xây dựng, bê-tông nhựa... với tổng giá trị sản xuất hằng năm trên 800 tỉ đồng. Đến nay, trên địa bàn huyện có 1.518 cơ sở sản xuất công nghiệp thương mại và dịch vụ, trong đó có 12 nhà máy lớn của Tập đoàn Công nghiệp Cao-su Việt Nam, Tổng Công ty Cà-phê Việt Nam, Tổng Công ty Bông Việt Nam và Công ty cổ phần Dịch vụ Phú Nhuận (Thành phố Hồ Chí Minh).

Đối với sản xuất nông nghiệp, từ chỗ chỉ có vài trăm héc-ta cà-phê của nông trường Ia Rông cũ không hiệu quả, đến nay đã có trên 1 vạn héc-ta cao-su, 1,2 vạn héc-ta cà-phê và trên 3.000 ha cây hồ tiêu có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Nhiều loại cây ngắn ngày có năng suất, giá trị cao góp phần xóa đói, giảm nghèo như ngô lai, lạc, bông vải được nhân dân phát triển mạnh ở hầu hết các xã trong huyện, trở thành vùng chuyên canh lạc, vùng sản xuất ngô và bông trọng điểm của tỉnh vào những năm 90.

Về kết cấu hạ tầng, toàn huyện có 65 công trình thủy lợi lớn nhỏ, bảo đảm nước tưới cho gần 1,5 vạn héc-ta cà-phê, hồ tiêu, lúa 2 vụ và rau màu; lưới điện quốc gia đã đến 90% thôn làng với 95% hộ dùng điện sản xuất, sinh hoạt, hệ thống điện thoại và In-tơ-net được phủ sóng đến 95% xã, thị trấn, hầu hết các tuyến đường liên xã đều được nhựa hóa, đi lại thuận lợi. Các trạm khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y được đầu tư xây dựng và hoạt động có hiệu quả, triển khai kịp thời các chương trình hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, ứng dụng công nghệ mới đến với nông dân, các khu thương mại, dịch vụ được quy hoạch và đầu tư xây dựng nhanh chóng, tất cả các xã đều có trường mẫu giáo, trường tiểu học và phổ thông cơ sở. Từ một huyện có trên 80% số dân mù chữ, đến nay Chư Sê đã được công nhận phổ cập trung học cơ sở. Toàn huyện có 4 trường phổ thông trung học, 22 trạm y tế, 1 bệnh viện đa khoa và 2 phòng khám khu vực, bảo đảm công tác khám, phòng và chữa bệnh cho nhân dân. Tỷ lệ hộ đói nghèo khi mới thành lập huyện chiếm trên 80%, năm 2005 giảm xuống còn 31,5% và chỉ còn 12,9% năm 2009. Thu ngân sách trên địa bàn trong 5 năm (2005 - 2009) đạt trên 725 tỉ đồng, đứng thứ 2 tỉnh Gia lai, sau thành phố Pleiku...

Từ thực tiễn những năm qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

1 - Trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, biết khai thác các lợi thế và tiềm năng, nhất là tiềm năng đất đai, hạ tầng giao thông, thủy lợi, địa hình, khí hậu để quy hoạch bố trí cây trồng vật nuôi một cách thích hợp, ví dụ như hồ tiêu Chư Sê nổi tiếng có chất lượng cao là ngoài yếu tố về đất bazan, còn nhờ vào địa hình (độ cao so với mực nước biển), chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm, đây là lợi thế mà các nơi khác không thể có được.

2 - Xác định đúng cơ cấu kinh tế và có giải pháp thật cụ thể nhằm chuyển dịch dần theo hướng tiến bộ, phát triển bền vững. Đây là cơ sở để các ngành xây dựng cơ cấu nội bộ và đề ra nhiệm vụ, kế hoạch của từng ngành, lĩnh vực để thực hiện. Cụ thể như Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng Chi cục Thuế xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai hằng năm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, nhanh nhất cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư xây dựng nhà máy, kho tàng bảo đảm cho sản xuất kinh doanh dịch vụ phát triển.

3 - Việc tính toán xác định giá đất phải sát với giá thị trường và khả năng thực hiện. Đồng thời phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích để tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân. Nếu xác định giá đất quá cao thì nhân dân khó thực hiện các nghĩa vụ tài chính, ngược lại giá quá thấp thì khó khăn cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, sẽ làm chậm quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và thu hút đầu tư.

4 - Việc bồi thường, giải tỏa thu hồi đất phải trên quan điểm “lấy dân làm gốc”, nhân dân phải được hưởng lợi từ các công trình được đầu tư, được bảo đảm đất sản xuất, đất ở và việc làm cho các thành viên trong hộ khi di dời. Kinh nghiệm cho thấy, việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với đất nơi ở mới phải tiến hành đồng thời với việc chi trả tiền bồi thường đất bị thu hồi nơi cũ, và phải tương ứng để nhân dân có khả năng thực hiện, cần ưu tiên giao đủ đất ở không qua đấu giá cho các thành viên là con của chủ hộ chưa có đất ở khi đất của họ bị thu hồi, phải di dời đến nơi ở mới.

5 - Thực hiện công tác bồi thường, thu hồi đất phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, sự phối hợp tuyên truyền của hệ thống chính trị và quản lý điều hành nhất quán, đồng bộ của UBND huyện, nhất là việc tham mưu một cách chính xác, khách quan và kịp thời của các thành viên Hội đồng bồi thường đất đai tài sản huyện. Thành công lớn nhất của huyện trong những năm qua là việc thực hiện đền bù, di dời 23 làng đồng bào dân tộc thiểu số của một xã với gần 3.000 ha của 2.500 hộ, với trên 1.500 mồ mả để làm hồ chứa nước Ayun Hạ, xây dựng thủy điện Hmun và thủy điện Ayun Hạ, bồi thường, giải phóng mặt bằng hơn 300 ha đất nông nghiệp để xây dựng hồ chứa nước IaRing.

Phát huy những kết quả đã đạt được, trong những năm tới, huyện tiếp tục quy hoạch, xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai hằng năm phù hợp để chuyển mục đích sử dụng phục vụ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Tập trung huy động mọi nguồn lực để xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông đô thị, lưới điện, viễn thông, nước sạch, vệ sinh môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, không để quy hoạch bị phá vỡ hoặc đầu tư chồng chéo, gây lãng phí và kéo dài làm ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Kiện toàn bộ máy các cơ quan chức năng, bố trí cán bộ có tâm, đủ tầm, để chủ động tham mưu, đề xuất và quyết định đưa ra các giải pháp đồng bộ cả về kỹ thuật, kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong công tác bồi thường, giải tỏa thu hồi đất phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Phát huy dân chủ, công khai hóa đồng thời đề cao quyền và trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện trước cấp trên và nhân dân địa phương.