Phát triển các khu công nghiệp - Kết quả và những hạn chế cần khắc phục
Thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ban hành luật và các chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với nhiều ưu đãi, khuyến khích. Cùng với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là các chính sách khuyến khích đầu tư trong nước. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư về tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục hành chính,… các khu công nghiệp đã được thành lập trên hầu hết các tỉnh, thành phố cả nước. Đến nay, các khu công nghiệp trên cả nước đã thu hút được trên 4.770 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đã đăng ký hơn 70,3 tỷ USD, vốn đầu tư đã thực hiện đạt 36,2 tỷ USD, bằng 52% vốn đầu tư đã đăng ký; và trên 5.210 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 464.500 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 250.000 tỷ đồng, bằng 53% tổng vốn đăng ký. Các khu công nghiệp, khu kinh tế cả nước đã thu hút trên 2,6 triệu lao động cả trực tiếp và gián tiếp.
Có thể thấy, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và sự nỗ lực trong công tác quản lý, điều hành, tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đã đạt được các kết quả tích cực, có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế trên các phương diện tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu, thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm và tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội. Các các khu công nghiệp trên cả nước đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đưa nước ta từ nước nghèo, kém phát triển trở thành nước có thu nhập trung bình thấp của thế giới.
Đóng góp từ sự phát triển của các khu công nghiệp đối với nền kinh tế là rất quan trọng, tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan những hạn chế, đặc biệt, là những tác động tiêu cực của quá trình này đến sinh kế người dân để tìm biện pháp khắc phục, bảo đảm sự phát triển bền vững nền kinh tế đất nước.
Một là, quy mô phát triển khu công nghiệp chưa phù hợp với định hướng phát triển chung và điều kiện để phát triển các khu công nghiệp chưa được chuẩn bị chu đáo, làm giảm hiệu quả phát triển khu công nghiệp.
Quy hoạch phát triển khu công nghiệp mang tính định hướng về bố trí không gian công nghiệp trên cơ sở các định hướng lớn về phát triển các ngành, lĩnh vực trên phạm toàn quốc, địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển các khu công nghiệp của mỗi địa phương (từ quy hoạch đến triển khai thực tiễn) thời gian qua chủ yếu xuất phát từ thực tế nhu cầu thu hút đầu tư của địa phương và của doanh nghiệp, chưa thực sự dựa trên nhu cầu và khả năng phát triển (với những điều kiện nhất định) theo quy hoạch/định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực có liên quan. Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp chưa gắn với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội (chưa chú trọng gắn việc xây dựng quy hoạch chi tiết từng khu công nghiệp với quy hoạch nhà ở, công trình công cộng phục vụ đời sống người lao động làm việc trong khu công nghiệp),… là một ví dụ. Điều này ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển khu công nghiệp. Việc triển khai đầu tư phát triển các khu công nghiệp nhiều khi cũng không đồng bộ với đầu tư phát triển các dự án/công trình thuộc những ngành nghề khác có liên quan, làm giảm hiệu quả của các khu công nghiệp.
Công tác chuẩn bị cho sự hình thành các khu công nghiệp cũng bộc lộ nhiều yếu kém, thể hiện trên các phương diện: thiếu cán bộ quản lý có năng lực, thiếu đội ngũ lao động lành nghề phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp, thiếu sự chuẩn bị về nội dung mời gọi các nhà đầu tư. Hầu như khu công nghiệp nào cũng gặp phải vấn đề này, đặc biệt là những khu công nghiệp do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp theo quy hoạch được duyệt chưa được giám sát chặt chẽ, dẫn tới việc các địa phương và chủ đầu tư xây dựng khu công nghiệp không tuân thủ quy hoạch hoặc không thực hiện đầy đủ các hạng mục công trình theo quy hoạch (như hệ thống xử lý nước thải, chất thải,...).
Hai là, các khu công nghiệp vẫn chưa được kết nối với các cụm liên kết trong sản xuất công nghiệp, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn. Định hướng ngành nghề của các khu công nghiệp được xác định tương đối giống nhau (chế biến nông sản, may mặc, cơ khí, điện tử...) và đa dạng trong mỗi khu công nghiệp, tính chuyên môn hóa ít được chú trọng, đồng thời, khi thu hút đầu tư chưa quan tâm đúng mức tới việc tạo điều kiện hình thành các cụm liên kết,… Do vậy, khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất, sẽ có những sản phẩm giống nhau, dẫn đến sự cạnh tranh không cần thiết, có thể dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh, trong khi các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn lại chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp.
Ba là, hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn chưa đồng bộ, thiếu cơ chế vận hành hợp lý làm giảm khả năng cũng như hiệu quả phát triển khu công nghiệp.
Do các công trình hạ tầng đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, lợi ích kinh tế trực tiếp không lớn, thời gian xây dựng kéo dài,… làm giảm tính đồng bộ (về không gian và thời gian) dẫn đến làm giảm hiệu quả của hệ thống hạ tầng, trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các khu công nghiệp. Hơn nữa nhiều hạng mục đầu tư vượt khỏi không gian của một địa phương, song thiếu sự phối hợp giữa các địa phương cũng làm giảm hiệu quả và tính động bộ theo quy mô quốc gia, làm giảm tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Bốn là, công tác tái định cư và khả năng sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất tại khu vực quy hoạch phát triển khu công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn.
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn, phức tạp; hiệu quả sử dụng đất khu công nghiệp chưa cao. Ngoài các khu công nghiệp thuận lợi trong việc giải phóng mặt bằng, một số khu vực khác gặp nhiều khó khăn; từ đó ảnh hưởng đến tiến độ triển khai, thu hút đầu tư thấp vì nhiều lý do chủ quan và khách quan như: sự chậm trễ trong việc phổ biến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tới người dân nên dẫn đến những khiếu kiện, tranh chấp về đất đai ảnh hưởng tới tiến độ đền bù giải phóng mặt bằng và tiến độ chung của dự án; hoặc do sự chồng chéo trong xây dựng quy hoạch (quy hoạch điện, giao thông,…) dẫn đến sự lúng túng giữa các cơ quan trong việc triển khai thực hiện quy hoạch khu công nghiệp.
Những dự án triển khai chậm để đất thu hồi bị bỏ hoang hóa không những không tạo điều kiện cho nông dân chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp, mà còn biến họ thành những người thất nghiệp và thu nhập bất ổn định.
Nông dân mất đất, không có việc làm, thiếu việc làm nguyên nhân chủ yếu không phải do thu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp, vì hoạt động của các khu công nghiệp đã tạo ra số việc làm đáng kể, khoảng 2,6 triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp. Nguyên nhân chính là các khu công nghiệp và đô thị đòi hỏi lao động trẻ tuổi, có trình độ chuyên môn kỹ thuật, mà phần lớn nông dân các vùng bị thu hồi đất không đáp ứng được. Các doanh nghiệp thường chỉ tuyển dụng lao động trẻ đã tốt nghiệp trung học phổ thông, và có trình độ đào tạo chuyên môn, tức là chỉ khoảng 17,8 % số lao động.
Công tác tái định cư và tình hình đời sống người dân sau khi bị thu hồi đất tại khu vực quy hoạch phát triển khu công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Người dân sau thu hồi đất thường gặp phải tình trạng thiếu đất sản xuất, cuộc sống không ổn định,... Đặc biệt, một bộ phận người dân sau khi bị thu hồi đất không tìm được việc làm phù hợp hoặc chưa nhận được giúp đỡ của chính quyền địa phương. Do thiếu quỹ đất sản xuất nông nghiệp nên xuất hiện tình trạng người dân đem tiền đền bù gửi tiết kiệm, xây nhà hoặc mua sắm tài sản không sinh lời và không tạo được công ăn việc làm, khiến một số hộ dân dần dần lâm vào hoàn cảnh khó khăn.
Năm là, vấn đề lao động trong khu công nghiệp. Việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp khu công nghiệp đang gặp mâu thuẫn, đó là thiếu lao động kỹ thuật, có tay nghề trong khi số lao động cần tạo công ăn việc làm còn rất dư thừa. Để giải quyết tình trạng này, các chủ doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động từ nơi khác đến, phải tổ chức đào tạo người lao động để đáp ứng yêu cầu công việc. Điều này vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp vừa là yếu tố phát sinh những vấn đề phức tạp cho chính quyền địa phương từ việc di cư lao động từ địa phương này sang địa phương khác làm việc trong khu công nghiệp.
Tình trạng chung ở phần lớn các khu công nghiệp trong cả nước là chưa giải quyết được vấn đề nhà ở cho công nhân, chưa định hướng rõ và ban hành được cơ chế, chính sách đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe và môi trường sống (vệ sinh, an ninh trật tự, an sinh xã hội…) của người lao động. Lao động ngoại tỉnh thường thuê nhà ở khu vực xung quanh khu công nghiệp để cư trú với điều kiện sống tạm bợ, hết sức khó khăn. Do quy mô đầu tư lớn, vốn đầu tư đòi hỏi nhiều, thu hồi vốn chậm, hiệu quả đầu tư thấp, nên rất ít doanh nghiệp tham gia xây dựng nhà ở cho công nhân.
Nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp chưa nghiêm túc trong việc thực hiện các chính sách, pháp luật về lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; và tính hình thức đối với các vấn đề về ký kết hợp đồng lao động, kéo dài thời gian thử việc, thời gian làm việc nhiều, xử lý kỷ luật, sa thải công nhân một cách tuỳ tiện; chính sách tiền lương chậm thay đổi,... Tất cả đều ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện sống và khả năng sinh kế của người người lao động và gia đình họ.
Sáu là, công tác bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp chưa được cải thiện và nhiều khu công nghiệp chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy định.
Khu công nghiệp là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp thuộc các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, cũng là nơi thải ra môi trường các loại chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải nguy hại. Việc thu gom và vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi từng nhà máy, việc xử lý rác thải nhiều nơi chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu về phân loại rác thải theo mức độ nguy hại. Các loại rác thải công nghiệp nguy hại chưa được xử lý triệt để. Đặc biệt tại các nhà máy sản xuất bao bì, hoá chất, nhựa…, lượng chất thải rắn chủ yếu là nhựa, hoá chất rắn, chất dẻo, cao su… là những chất khó phân huỷ, gây độc hại cho môi trường nước mặt, nước ngầm và đất nhưng chưa được quản lý, phân loại và xử lý triệt để. Ngoài ra, còn phải kể đến một lượng lớn rác thải xây dựng được thải ra trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và xây dựng nhà xưởng để sản xuất của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp cũng chưa được xử lý đồng bộ.
Bảy là, khung pháp lý còn có những bất cập, quản lý nhà nước tuy đã có chuyển biến nhưng còn lúng túng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển các khu công nghiệp và đời sống dân sinh.
Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14-3-2008 của Chính phủ thay thế cho Nghị định 36/CP ngày 24-04-1997 và một số văn bản quy định về Khu công nghiệp là một bước tiến lớn trong tiến trình hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển các khu công nghiệp. Tuy nhiên, còn một số hạn chế ảnh hưởng đến thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào các khu công nghiệp, cụ thể như:
- Chính sách phát triển khu công nghiệp nhằm tạo môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước chậm được đổi mới cho phù hợp với tình hình mới.
- Chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mang tính bảo hộ đối với doanh nghiệp trong nước, chưa thực sự tạo môi trường đầu tư bình đẳng cho khu vực trong và ngoài nước.
- Sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với chủ đầu tư kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và người dân còn chưa tốt dẫn đến người dân bị thu hồi đất chưa được đền bù thoả đáng, hoặc chậm được phổ biến quy hoạch, chính sách đền bù gây khiếu kiện kéo dài.
- Thủ tục cấp phép đầu tư còn nhiều vấn đề bất cập, chưa thực sự phát huy nguyên tắc một cửa, một đầu mối trong khu công nghiệp là Ban Quản lý khu công nghiệp, thể hiện ở chỗ doanh nghiệp còn phải tới làm việc với các cơ quan khác như đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư,…
- Đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy quản lý khu công nghiệp nhiều nơi còn chưa ngang tầm về trình độ, năng lực quản lý, chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn phát sinh tại địa phương./.
Thường trực Ban Bí thư làm việc với Ban Nội chính Trung ương  (18/03/2015)
Thủ tướng mong muốn Australia hỗ trợ Việt Nam phát triển hạ tầng  (18/03/2015)
Sáng kiến của Việt Nam được đánh giá cao tại Hội nghị ADMM 9  (18/03/2015)
Trước thềm IPU-132: Thảo luận về vai trò của Nghị viện trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển sau năm 2015  (18/03/2015)
Ngân hàng Thế giới cam kết đồng hành cùng Việt Nam tăng cường y tế cơ sở  (18/03/2015)
Australia và Việt Nam chia sẻ lợi ích trong duy trì hòa bình  (18/03/2015)
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xây dựng chính quyền số - Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu và gợi mở cho Việt Nam
- Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm