Kinh tế thế giới năm 2010 và những thách thức năm 2011
TCCS - Kinh tế thế giới năm 2010 được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng mạnh hơn dự kiến với 4,8%, cao hơn nhiều so với mức -0,6% vào năm 2009, song đây là sự phục hồi không đồng đều. Các nền kinh tế đang phát triển tăng trưởng trở lại nhanh hơn, còn các nước phát triển vẫn đang chậm chạp ra khỏi suy thoái kinh tế toàn cầu. Dự báo, trong năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ chậm hơn do các nền kinh tế chủ chốt vẫn còn gặp nhiều trở ngại.
Kinh tế các nước đang phát triển
Năm 2010, tiêu dùng và đầu tư là những nhân tố góp phần thúc đẩy nền kinh tế các nước đang phát triển tiếp tục đà tăng trưởng mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng GDP ở những nước này đạt 7,1%, cao hơn nhiều so với mức 2,5% năm 2009. Trong đó, theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), châu Á đi đầu trong tiến trình phục hồi kinh tế với mức tăng GDP là 9,4%, trở thành động lực của sự tăng trưởng kinh tế thế giới.
Hầu hết các nền kinh tế khu vực, trải dài từ tiểu lục địa Ấn Độ tới Ô-xtrây-li-a đều tăng trưởng trên mức trước khi xảy ra khủng hoảng. Khu vực ASEAN tăng 7,4%, cao hơn 6,1% so với mức tăng 1,3% năm 2009; các nền kinh tế Đông á đạt kết quả khả quan với mức tăng 8,6%. Ấn Độ - nền kinh tế mở cửa ít hơn so với các nước láng giềng và nhờ đó ít bị ảnh hưởng hơn, hầu như không giảm tốc, đạt 9,1%, mức tăng cao nhất trong ba năm qua. Nền kinh tế Trung Quốc không chỉ giữ vững tốc độ tăng trưởng 10,3%, mà còn hỗ trợ các nền kinh tế khác, trong đó có Ô-xtrây-li-a, cùng “cất cánh”.
Châu Á có được những kết quả này là nhờ: Thứ nhất, sau khi thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực 1997 - 1998, hầu hết các nền kinh tế trong khu vực đều đạt thặng dư thương mại lớn. Vào thời điểm ngân hàng Li-men Bra-dơ (Lehman Brothers) sụp đổ và thị trường tín dụng “đóng băng” vào năm 2008, các nước châu á đã chiếm được hơn 60% dự trữ ngoại hối toàn cầu, kịp thời vực dậy hệ thống ngân hàng yếu kém, trong đó có một số ngân hàng trước đó một thập niên còn đứng bên bờ vực sụp đổ. Châu Á đã có thể thoát khỏi sự lệ thuộc vào thị trường tín dụng quốc tế bằng cách cân đối sự giảm sút của nhu cầu bên ngoài thông qua mở rộng thị trường trong nước. Thứ hai, xuất khẩu của khu vực châu Á sang các nước không thuộc nhóm G3 (Mỹ, EU và Nhật Bản) cũng tăng lên. Một số nhà kinh tế cho rằng, đây là biểu hiện của một xu hướng tăng trưởng lâu dài của thương mại Nam - Nam. Theo IMF, nếu chu kỳ kinh doanh tại các nền kinh tế đang nổi đi ngược lại với các nền kinh tế phát triển thì sự gia tăng xuất khẩu vào các thị trường đang phát triển sẽ giúp châu á tăng cường khả năng miễn dịch với các cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ phương Tây. Thứ ba, sự trỗi dậy thực sự của tiêu dùng nội địa. Trong khoảng một năm qua, nhập khẩu của hầu hết các nền kinh tế khu vực đã tăng mạnh hơn xuất khẩu. Tại Trung Quốc, doanh số xe hơi tăng khoảng 7 lần so với cách đây 10 năm. Doanh số bán điện thoại di động ở ấn Độ đã tăng 250 lần. Tầng lớp trung lưu gia tăng tiêu dùng, mặc dù trong một số trường hợp, tốc độ tăng trưởng của tiêu dùng vẫn không bằng tốc độ tăng đầu tư. Tuy nhiên, tính chung cả khu vực, tiêu dùng nội địa đang tạo ra một thị trường ngày càng lớn. Thứ tư, nhân tố Trung Quốc. Theo Giáo sư E.Pra-sát (E.Prasad) thuộc Đại học Coóc-neo (Cornell), Trung Quốc đang là lực đẩy cho các nền kinh tế châu Á cũng như một số nền kinh tế sản xuất hàng hóa và phát triển. Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản đang đổ xô vào Trung Quốc để khai thác một thị trường khổng lồ về nguyên liệu chế tạo, thiết bị công nghiệp nặng, linh kiện, phụ kiện và hàng tiêu dùng. Trong khi đó, Ô-xtrây-li-a, ấn Độ, In-đô-nê-xi-a và một số nước khác là nhà cung cấp nguyên vật liệu thô cho Trung Quốc. Chỉ một thập niên trước đây, các nền kinh tế Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản là động lực dẫn dắt sự tăng trưởng của kinh tế thế giới nhưng nay, thế giới đang chứng kiến sự đảo chiều mối quan hệ này. Hiện nay, các nước đang phát triển lại nhìn vào tăng trưởng của Trung Quốc cùng với sự tham gia của các nền kinh tế mới nổi lớn khác như yếu tố dẫn dắt tăng trưởng thế giới.
Các nước Mỹ La-tinh đang khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế. Khu vực này đang thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu với tốc độ nhanh hơn nhiều so với mong đợi. Nhờ xuất khẩu gia tăng, thị trường việc làm hồi phục, tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ La-tinh đạt 5,7% (năm 2009 là -2,5%). Trong đó, Pa-ra-goay đạt mức cao nhất với 9%, tiếp theo là Pê-ru: 8,3%, Bra-xin và ác-hen-ti-na đều đạt 7,5%. Tuy vậy, IMF cũng khuyến cáo khu vực này cần áp dụng các biện pháp mạnh hơn nữa để kiểm soát các nguồn vốn đầu tư nước ngoài - nhân tố đang làm tái xuất hiện nguy cơ tăng trưởng nóng và ảnh hưởng tới tính cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu của khu vực.
Kinh tế châu Phi đã lấy lại đà tăng trưởng. Tốc độ tăng GDP đạt 5% năm 2010. Đặc biệt là sự năng động của các nền kinh tế tập trung chủ yếu ở phía Đông của châu lục và khu vực nói tiếng Anh với tăng trưởng bình quân khoảng 6,8%, mức cao nhất kể từ năm 1995. IMF đánh giá, châu Phi là châu lục đạt mức tăng trưởng GDP cao, dù mức tăng trưởng này chưa đủ để đưa châu Phi ra khỏi đói nghèo, song vượt xa so mức tăng trưởng 2,9% của năm 2009. Các nước châu Phi đã đối phó tốt với cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, kể cả các nước nghèo nhất nhờ chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước cộng với nhiều khoản nợ công được xóa bỏ. Các nhà kinh tế nhận định rằng, có bốn yếu tố then chốt giúp châu Phi duy trì được tăng trưởng lâu dài và ổn định, đó là: đẩy mạnh quá trình hội nhập khu vực; xây dựng chiến lược quy hoạch nhằm phát huy khả năng của khu vực kinh tế tư nhân; đa dạng hóa nền kinh tế theo ngành và theo khu vực địa lý; huy động tối đa nguồn lực cho sự phát triển.
Kinh tế các nước công nghiệp phát triển
Các nền kinh tế công nghiệp đang bắt đầu phục hồi, nhưng với tốc độ rất chậm chạp. Tăng trưởng kinh tế của các nước trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đạt 2,7%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trước khủng hoảng. Nền kinh tế Mỹ chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 2,6% vào năm 2010. IMF nhận định, nguyên nhân chính là do tiêu dùng cá nhân sụt giảm mạnh. Chi cho tiêu dùng bị cản trở bởi tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, nhu cầu tiết kiệm nhiều hơn, thắt chặt tín dụng và sự nghèo đi của các hộ gia đình, sự sụt giảm của giá nhà đất. Trong khi đó, thâm hụt ngân sách liên bang lên đến mức kỷ lục: 1.470 tỉ USD trong năm tài chính, trở thành mối đe dọa thực sự đối với kinh tế nước này. Mặc dù nước Mỹ biện minh về chính sách “đồng USD mạnh”, nhưng đồng USD đã mất khoảng một phần ba giá trị so với các đồng tiền chính trong giỏ tiền tệ từ đầu năm 2002 tới nay. Bên cạnh đó, nhằm vực dậy nền kinh tế, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) vẫn duy trì lãi suất đồng USD ở mức thấp kỷ lục 0% - 0,25%, quyết định thực hiện chính sách nới lỏng định lượng thứ hai (QE2), bơm 600 tỉ USD vào nền kinh tế để kích thích hoạt động kinh tế, giảm nguy cơ giảm phát, duy trì sự phục hồi kinh tế hiện mong manh và giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Đà phục hồi kinh tế Nhật Bản sau khủng hoảng cũng chững lại. Giảm phát triền miên hơn 20 tháng liên tiếp đang đè nặng lên kinh tế nước này. GDP tăng 2,8% năm 2010, sau khi giảm 5,2% năm 2009. Đồng yên tăng giá 14% trong năm nay so với USD đã khiến chi phí nhập khẩu thấp, làm tình trạng giảm phát thêm trầm trọng. Văn phòng nội các Nhật Bản nhấn mạnh, nền kinh tế đang đối mặt với xuất khẩu yếu, sản lượng công nghiệp thấp trong bối cảnh thị trường lo ngại giá đồng yên tăng lên mức cao nhất so với đồng USD trong hơn 15 năm qua, ảnh hưởng tiêu cực tới xuất khẩu. Thủ tướng Nhật Bản N.Kan đã đưa ra gói kích thích kinh tế 5.000 tỉ yên (61,3 tỉ USD), tập trung vào các lĩnh vực: việc làm, tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội, khuyến khích các nền kinh tế trong khu vực tăng trưởng, theo dõi chặt chẽ các động thái trên thị trường ngoại hối, can thiệp khi cần thiết để ngăn chặn đà tăng giá mạnh mẽ của đồng yên, giảm thiểu những thiệt hại cho nền kinh tế dựa vào xuất khẩu. Chính phủ cũng thông qua các kế hoạch cải cách thuế trong năm tài khóa 2011, mở đường cho việc giảm thuế thu nhập của công ty để kích thích nền kinh tế, đánh thuế về môi trường nhằm đối phó với hiện tượng biến đổi khí hậu.
Quá trình phục hồi kinh tế của Liên minh châu Âu (EU) cũng chậm lại với tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, chỉ đạt 1,7% năm 2010. Sự tăng trưởng kinh tế không đồng đều của các nền kinh tế trong EU không chỉ phản ánh những tác động dai dẳng của khủng hoảng, mà còn phản ánh sự xơ cứng trong cơ cấu tại các thị trường lao động, sản phẩm và dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực đồng tiền chung châu Âu vẫn ở mức cao (chiếm hơn 10% lực lượng lao động).
Một thực trạng nữa, đó là sự phân cực đang ngày càng rõ nét trong EU. Trong lúc kinh tế Ai-len lâm nguy và các nước trong nhóm PIGS (Bồ Đào Nha, I-ta-li-a, Hy Lạp, Tây Ban Nha) điêu đứng về tài chính, thì nền kinh tế Đức vẫn là điểm sáng trong bức tranh tối màu của kinh tế EU. Kinh tế Đức đang phục hồi nhanh chóng, đạt mức tăng trưởng 3,7%. Đây là kết quả của việc kim ngạch thương mại nước này tăng đáng kể, trong đó xuất khẩu đạt 703,2 tỉ ơ-rô (tăng 19%) và nhập khẩu đạt 589,2 tỉ ơ-rô (tăng 19,4%); niềm tin đầu tư và tiêu dùng tăng lên; tỷ lệ thất nghiệp được kiềm chế ở mức dưới 7%; thị trường nhà đất sôi động và tăng trưởng 9%; lạm phát được kiềm chế ở mức 1,2%, thấp hơn so với mức quy định 2% của khu vực đồng tiền chung châu Âu. Kinh tế Đức đóng vai trò “đầu tàu chủ chốt” của EU, vì vậy sẽ là nhân tố kéo toàn bộ “con tàu kinh tế” EU vượt dốc và tiến tới phục hồi, phát triển. Nền kinh tế Pháp, đứng thứ hai tại EU, đã thoát khỏi sự tăng trưởng âm và đạt tốc độ tăng trưởng GDP 1,5%, nhờ các chính sách kích thích nền kinh tế và hỗ trợ tiêu dùng, sức mua của các hộ gia đình đều tăng, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp chế biến.
Với ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, vượt qua kết quả kinh tế ảm đạm của năm 2009, năm 2010, kinh tế Nga đạt GDP 4%. Tổng thống Nga Đ.Mét-vê-đép tuyên bố, kinh tế Nga đã bình ổn sau khi trải qua cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong một thập niên qua. Chi tiêu của chính phủ, nhu cầu của người tiêu dùng và tiền cho vay từ các ngân hàng tăng trở lại, kích thích sự phục hồi kinh tế. Nga đã khôi phục nguồn vốn đầu tư trong khu vực tư nhân, hoạt động kinh tế tích cực, tỷ lệ lạm phát hạ, giảm thiểu rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng.
Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế của Nga lưu ý rằng, không nên "quá tự hào" trước sự đánh giá cao của dư luận về nền kinh tế nước này. Nga cũng chưa thành công trong việc chuyển đổi mô hình kinh tế trong những năm qua, cho đến nay, nền kinh tế Nga vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dầu mỏ. Thất nghiệp là một trong những vấn đề nan giải và phức tạp nhất trong đời sống xã hội của Nga năm 2010. Cơ cấu kinh tế đang cần được tích cực chuyển dịch, cũng như môi trường đầu tư trong nước cần được tiếp tục cải thiện. Hiện nay, Nga đang dành ít nhất 50% ngân sách tiết kiệm cho chiến dịch hiện đại hóa ngành sản xuất để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh mới, mang lại hàng triệu việc làm, phát triển nhu cầu đổi mới của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thách thức đối với kinh tế thế giới năm 2011
Do những nền kinh tế hàng đầu thế giới: Mỹ, EU và Nhật Bản vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, trong khi Trung Quốc còn quá phụ thuộc vào xuất khẩu, năm 2011, tăng trưởng kinh tế thế giới, được dự báo sẽ chậm hơn. Theo nhận định của IMF và OECD, tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới ước đạt 4,2% năm 2011 và 4,6% năm 2012. Trong đó, kinh tế các nước OECD tăng trưởng tương ứng khoảng 2,3% và 2,8%. Nền kinh tế Mỹ - nền kinh tế hàng đầu thế giới có thể phải mất khoảng 5 - 6 năm nữa mới hoàn toàn phục hồi như trước khủng hoảng với GDP tăng 2,5%, thất nghiệp vẫn ở mức cao, hơn 9% năm 2011 và gần 8% năm 2012. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản thấp hơn nhiều so với năm 2010, chỉ đạt 1,5% do nhu cầu của thế giới đối với hàng xuất khẩu của Nhật Bản giảm sút. Kinh tế của EU tăng trưởng chậm, 1,6% năm 2011 và 2% năm 2012. Kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu tăng trưởng 1,5% do tác động của việc thực thi chính sách “thắt lưng, buộc bụng” ở nhiều nước thành viên. Sự suy giảm kinh tế sẽ thể hiện rõ rệt nhất ở Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đức đạt 2,2%, của Pháp là 1,6%.
Tại các nước đang phát triển, tiêu dùng và đầu tư tiếp tục là những nhân tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Châu á vẫn dẫn đầu đà phục hồi kinh tế thế giới nhờ thương mại toàn cầu hồi phục và các gói kích cầu nội địa mạnh mẽ. Tuy nhiên, do nhu cầu tại các nền kinh tế phát triển suy giảm, tăng trưởng GDP châu á ước đạt 6,6% năm 2011. Trong đó, kinh tế Trung Quốc vẫn duy trì ở mức tăng trưởng hơn 10%. Lạm phát tăng cao, nợ chính phủ và “bong bóng” tài sản phình to sẽ là những thách thức lớn mà chính phủ Trung Quốc phải đối mặt trong năm 2011. Tăng trưởng GDP của ấn Độ là 7,5%.
Kinh tế Mỹ La-tinh năm 2011 không mấy khả quan, GDP chỉ đạt 3,6%. Tăng trưởng kinh tế tại châu Phi tiếp tục được duy trì ở mức cao với mức 4,5% nhờ giá dầu mỏ tăng cao và nhu cầu nguyên liệu thô gia tăng ở Trung Quốc.
Tựu trung, có thể nhận định rằng, trong năm 2011, nền kinh tế thế giới đang phục hồi với tốc độ tăng trưởng dương ở các nền kinh tế, khu vực, châu lục. Tuy nhiên, những nguy cơ tiềm ẩn đe dọa sự phục hồi bền vững của nền kinh tế cũng không hề nhỏ.
Thứ nhất, sự bất ổn về tài chính.
IMF cảnh báo, những bất ổn trong khu vực tài chính vẫn là hiểm họa tiềm tàng trong tiến trình phục hồi kinh tế thế giới. Hệ thống tài chính vẫn rất dễ bị tổn thương, các nguy cơ về cung cấp tài chính cho các ngân hàng và chính phủ rất lớn, trong khi những cải cách trong lĩnh vực này chưa được hoàn tất. Hệ thống ngân hàng trên thế giới phải đối mặt với nhiều tổn thương về cơ cấu. Các ngân hàng Mỹ phải vật lộn với những khiếm khuyết trong thị trường bất động sản, còn phía châu Âu thì đối phó với chi phí tài trợ cao do nguy cơ nợ công tăng. Khoản tái tài trợ trên 4.000 tỉ USD trong hai năm tới là yếu tố mà các ngân hàng thế giới phải tính đến, trong đó, chính phủ các nước dự kiến tăng phát hành trái phiếu chính phủ. Những nhân tố này cho thấy hệ thống ngân hàng đang đối mặt với các cơn sốc tiềm tàng về tài trợ và các thị trường trái phiếu chính phủ. Tài trợ và nguồn vốn bị hạn chế nếu không được giải quyết có thể phá hoại sự phục hồi tín dụng.
Thứ hai, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch gia tăng.
Do những căng thẳng xung quanh vấn đề tỷ giá hối đoái, nền kinh tế thế giới đang đứng trước nguy cơ bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng. Ông P. La-my, Tổng Giám đốc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng, mặc dù tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2010 đạt 13,5% - mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay, song, những bất đồng về tiền tệ có thể đe dọa hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, ảnh hưởng lớn đến sự phục hồi kinh tế toàn cầu. Theo đó, các quốc gia thành viên phải đối mặt với một loạt thách thức như: sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ trước thực trạng mất cân đối của kinh tế thế giới; tính thống nhất trong chính sách thương mại của các nước thành viên lỏng lẻo hơn do nạn thất nghiệp gia tăng; xuất hiện các biện pháp hạn chế hoặc làm mất cân đối trao đổi thương mại và đầu tư trên thế giới...
Thứ ba, nợ công tăng cao.
Nợ công của nhiều nước trên thế giới đang phình to, sau khi các chính phủ đổ hàng nghìn tỉ USD vào các gói kích thích kinh tế. Tại các nước phát triển và các nền kinh tế mới nổi nhóm G20, nợ công tăng lên mức kỷ lục: hơn 98% GDP năm 2010 và sẽ tăng tới 115% GDP vào năm 2015. Con số này tại các nước có thu nhập ở mức giữa sẽ là 13% trong giai đoạn 2010 - 2015. Trong khi đóng góp của những nước này trong tổng GDP của thế giới giảm tương ứng từ 74% xuống còn 54%. Nợ công của Mỹ tăng cao gấp hai lần trong vòng bảy năm qua, lên mức hơn 14.000 tỉ USD, chiếm hơn 62% GDP; tại Nhật Bản con số này là hơn 200% GDP. Cuộc khủng hoảng nợ công, trong đó, Hy Lạp - quốc gia có mức nợ công cao nhất khu vực đồng tiền chung châu Âu là 144% GDP năm 2010 đang tàn phá “ngôi nhà chung châu Âu”. Tổng nợ công của EU có thể lên tới 100% GDP vào năm 2014.
Thứ tư, nguy cơ "bong bóng" bất động sản tại nhiều nước.
Trong bối cảnh kinh tế Mỹ, châu Âu và Nhật Bản vẫn tăng trưởng yếu, FED và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) tìm cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế để gia tăng thanh khoản, tuy nhiên lãi suất tại các nước này vẫn ở mức thấp kỷ lục, do vậy, lượng tiền nói trên sẽ đổ sang các nền kinh tế đang nổi có lãi suất cao hơn. Các quốc gia đang nổi như Bra-xin, Trung Quốc và ấn Độ trở thành những "thiên đường" thu hút mạnh dòng đầu tư. Dòng tiền mặt ồ ạt đổ vào các nền kinh tế đang phát triển này có nguy cơ làm gia tăng những bất đồng tiền tệ vốn đã rất căng thẳng hiện nay, có nguy cơ dẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế tiếp theo. Không những thế, nó có thể còn gây ra tình trạng “bong bóng” bất động sản, tăng giá tiền tệ, từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh của hoạt động xuất khẩu. Ngoài ra, do phần lớn dòng tiền "nóng" được dành cho các hoạt động đầu tư ngắn hạn hay cho vay ngân hàng, vì vậy, nếu bất ngờ xảy ra những biến động tài chính tại các nền kinh tế này, dòng tiền trên có thể đảo chiều bất cứ lúc nào và khi đó "bong bóng" sẽ vỡ.
Trước một loạt những thách thức tiếp tục đặt ra đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong năm 2011, các thể chế tài chính quốc tế cũng như các nhóm kinh tế thế giới đã đưa ra một số giải pháp.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), trước mắt, chính phủ các nước cần nỗ lực tập trung vào các chính sách tái cấu trúc. Hội nghị thượng đỉnh ASEM vào tháng 10-2010 cũng đã ra Tuyên bố Brúc-xen mang tên “Thực hiện quản lý kinh tế toàn cầu hữu hiệu hơn”, theo đó, các nước cần đi theo con đường phát triển bền vững hơn, trước hết, khuyến khích tiêu dùng và đầu tư, bởi đó là động cơ tăng trưởng kinh tế và tăng thêm việc làm; hai là, phải xúc tiến thương mại, xóa bỏ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch dưới bất cứ hình thức nào, nhanh chóng xóa bỏ hình thức thuế quan vốn có và hàng rào thương mại phi thuế quan; ba là, đổi mới sản phẩm, dịch vụ và công nghệ sản xuất, nhất là chuyển đổi kinh tế sang loại hình thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng.
Còn IMF cho rằng, các nền kinh tế công nghiệp phát triển và đang phát triển phải có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa, nhất là trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa hai khu vực vẫn còn khác biệt lớn. Điều quan trọng ở đây không phải là tập trung gỡ bỏ dần các biện pháp tài khóa, mà là xây dựng kế hoạch trung hạn nhằm ổn định tình hình nợ. Các nền kinh tế phát triển cần cải tổ các khu vực tài chính, bình thường hóa các điều kiện tín dụng, thúc đẩy tái cân bằng trong nước; xây dựng và thực hiện các kế hoạch củng cố tài chính trung hạn đáng tin cậy để phục hồi lòng tin, nhằm tăng nhu cầu tiêu dùng tư nhân.
OECD nhận định, chính phủ các nước cần xiết chặt kiểm soát khu vực tài chính công, đồng thời tăng cường phối hợp các chính sách kinh tế để tạo đà cho sự phục hồi vững chắc. Chính phủ các nước khu vực đồng tiền chung châu Âu cần đẩy mạnh việc thắt chặt ngân sách trong năm 2011, ngay cả khi điều này sẽ kìm hãm đà tăng trưởng, đồng thời thực thi các biện pháp bảo đảm các khoản thâm hụt lớn sẽ được loại bỏ. Đặc biệt, các mức lãi suất hiện đang được giữ ở mức thấp kỷ lục để hỗ trợ kinh tế, cần bắt đầu được tăng lên sau năm 2011.
Nhóm G20 hướng tới việc thúc đẩy thiết lập các hệ thống hối đoái dựa trên thị trường nhiều hơn, tăng cường sự linh hoạt về tỷ giá hối đoái sao cho phù hợp với những nguyên tắc kinh tế cơ bản và ngăn chặn việc phá giá đồng nội tệ vì mục đích cạnh tranh. G20 cam kết hạn chế thực hiện các hoạt động thương mại mang tính bảo hộ dưới mọi hình thức, công nhận tầm quan trọng của việc kết thúc nhanh chóng vòng đàm phán Đô-ha về tự do hóa thương mại toàn cầu, tăng cường hợp tác nhằm giảm thiểu sự mất cân bằng thương mại và duy trì mức độ mất cân bằng vừa phải.
EU tính tới việc thiết lập một mô hình và cơ chế vận hành mới. Hội nghị thượng đỉnh EU đã nhất trí sửa đổi một số hạn chế trong Hiệp ước Li-xbon nhằm tạo ra một cơ chế cứu trợ thường trực đối với các nước thành viên trong trường hợp gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính; thông qua quy định mới về tài chính với các biện pháp đặc biệt quan trọng chống khủng hoảng, các nguyên tắc tăng cường quản lý kinh tế theo ba hướng: thành lập quỹ ổn định thường xuyên của khu vực đồng tiền chung châu Âu; áp dụng cơ chế mới theo dõi các xu hướng khủng hoảng trong nền kinh tế EU; thực hiện các biện pháp chống vi phạm ngân sách EU.../.
Tám mươi mốt năm Đảng thể hiện trách nhiệm lịch sử trước dân tộc  (16/02/2011)
Bác Hồ viết lịch sử và chúc Tết bằng thơ  (16/02/2011)
Lễ hội truyền thống ở nước ta  (16/02/2011)
Bước đi nhỏ trên chặng đường dài  (16/02/2011)
Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma nhìn lại nửa chặng đường  (16/02/2011)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm