Ngành dịch vụ hậu cần của Đức: Ưu thế và thách thức trong phát triển

Vũ Nhật Quang Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
16:46, ngày 12-03-2015
TCCSĐT - Bất chấp ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công châu Âu, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Đức đã vượt qua Xinh-ga-po (Singapore) để dành vị trí số một trong số 155 quốc gia về xếp hạng năng lực hậu cần (logistics) do Ngân hàng thế giới (WB) tổ chức và vẫn liên tiếp giữ vị trí số một trong những năm tiếp theo (2011-2014).

Thực trạng phát triển ngành dịch vụ hậu cần của Đức

Do nằm ngay giữa trung tâm châu Âu, cùng với hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển khiến Đức trở thành trung tâm hậu cần và phân phối lý tưởng của khu vực. Hệ thống giao thông vận tải và phân phối hàng hóa của Đức được bảo đảm nhờ vào hệ thống giao thông đường bộ lớn nhất châu Âu, bao gồm cả hệ thống đường sắt và đường cao tốc cũng như hệ thống giao thông đường thủy và đường hàng không với nhiều sân bay lớn như sân bay quốc tế Frankfurt, hệ thống cảng biển và kho vận phục vụ cho ngành vận tải tại Hamburg và Wilhemshaven.

Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho ngành năng lượng và viễn thông của Đức cũng được xếp vào bậc tiên tiến nhất châu Âu. Đức cũng được coi là một trong số không nhiều quốc gia có chiến lược "kinh tế xanh" đầu tiên trên thế giới và đang nỗ lực để trở thành cường quốc công nghiệp đầu tiên trên thế giới sử dụng 100% năng lượng tái tạo. Tập đoàn đường sắt quốc gia của Đức đã tăng thị phần của năng lượng tái tạo vào lượng điện cung cấp cho xe lửa từ 20% (năm 2011) lên 28% năm 2014 và thay thế hoàn toàn bằng năng lượng sạch vào năm 2050.

Với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không cùng nhiều sân bay quốc tế, nhiều cảng biển và kho vận tải thuộc loại lớn nhất châu Âu, kết cấu hạ tầng là lợi thế lớn nhất để Đức củng cố vai trò trọng yếu của dịch vụ hậu cần đối với khu vực.

Doanh thu của ngành hậu cần Đức luôn vượt xa so với doanh thu hậu cần của Anh và Pháp - hai quốc gia cạnh tranh mạnh trong ngành dịch vụ hậu cần với Đức ở châu Âu. Tổng doanh thu của ngành dịch vụ hậu cần Đức ngang bằng doanh thu của 3 quốc gia lớn ở châu Âu. Theo đánh giá của Viện Fraunhofer, doanh thu của ngành dịch vụ hậu cần Đức chiếm 23% (khoảng 730 tỷ euro) ở Tây Âu. Đức cũng là đối tác thương mại châu Âu lớn nhất của Mỹ, khoảng 2.000 công ty Mỹ hiện đang hoạt động tại Đức và hơn 3.000 công ty Đức đang kinh doanh tại Mỹ. Các công ty của Đức là những nhà cung cấp dịch vụ hậu cần lớn nhất thế giới. Ngành công nghiệp hậu cần của Đức trung bình đóng góp tới 7,5% GDP. Trong suốt thập kỷ (2000-2010), dịch vụ hậu cần Đức luôn đạt mức tăng trưởng bền vững (khoảng 5%), vượt xa các nền kinh tế khác của châu Âu. Riêng ngành giao thông vận tải đóng góp tới 44% doanh thu của thị trường hậu cần Đức. Dịch vụ kho và vận chuyển hàng hóa đường thủy chiếm 26%, phần còn lại là đóng góp của dịch vụ hành chính, quản lý chuỗi cung cấp và hoạt động gia công, chế biến…

Kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại và những ngành kinh doanh chính đạt hiệu quả cao đã biến Đức trở thành cơ sở hậu cần hấp dẫn nhất châu Âu. Năm 2011, Trung tâm hậu cần rộng 110.000m2 được xây dựng ở phía Nam nước Đức - là một trong hai trung tâm hậu cần chính được xây dựng mới sau khủng hoảng - đã khẳng định vai trò hàng đầu của Đức tại khu vực châu Âu trong lĩnh vực hậu cần. Vì vậy, các công ty hậu cần toàn cầu đang ngày càng lựa chọn Đức là trung tâm hậu cần, phân phối của châu Âu.

Đức có 250 cảng nội địa được sử dụng cho ngành hậu cần bên thứ ba (The Third Party Logistics)(1). Hầu hết (khoảng ¾) trong số 21 khu vực hậu cần trên toàn bộ lãnh thổ Đức có cảng quốc tế. Trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2010, Đức được đánh giá là quốc gia có kết cấu hạ tầng tốt nhất với mạng lưới đường sắt, đường sông và đường hàng không hiện đại đã tạo điều kiện cho ngành công nghiệp hậu cần Đức đạt doanh thu hơn 200 tỷ euro mỗi năm.

Đức có gần 60.000 doanh nghiệp họat động trong lĩnh vực hậu cần. Lực lượng lao động trong ngành hậu cần chiếm tới 2,7 triệu người (khoảng 7% tổng lực lượng lao động của Đức). Dự báo thập kỷ 2010-2020, lực lượng lao động trong ngành dịch vụ hậu cần của Đức sẽ lên tới 20% số lao động. Hậu cần là lĩnh vực dịch vụ chính tạo nhiều công ăn việc làm nhất của Đức, thu hút phần lớn lao động có trình độ cao. Thêm vào đó, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp được rải đều trong các doanh nghiệp hậu cần. Ngành hậu cần Đức được cung cấp nguồn lực từ các trường đại học có đào tạo chuyên ngành logistics với chất lượng cao. Hệ thống các trường đại học và cao đẳng phủ rộng và trải đều, gần các trung tâm logistics. Trong đó, nổi tiếng nhất là học viện Fraunhofer, trường Đại học Erlangen-Nuremberg - nơi cung cấp các chuyên gia logistics trình độ cao.

Một số thế mạnh ngành dịch vụ hậu cần của Đức

Có thể nhận thấy những thế mạnh của ngành dịch vụ hậu cần của Đức trên những điểm chính sau:

Hệ thống giao thông vận tải chất lượng. Nếu so sánh với kết cấu hạ tầng giao thông vận tải quốc tế, thì kết cấu hạ tầng giao thông vận tải của Đức được ghi nhận tốt cả về số lượng và chất lượng. Đức có hệ thống đường cao tốc và mạng lưới đường sắt rộng lớn nhất ở châu Âu. Các sân bay, cảng biển và cảng nội địa của Đức cũng được xếp loại lớn nhất châu Ấu và luôn được nâng cấp, đổi mới. Sông Rhine (Đức) cho đến nay vẫn được xem là đường thủy nội địa quan trọng nhất châu Âu.

Mặc dù Đức sở hữu một mạng lưới đường sắt và đường bộ rất rộng, song trong những năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, khối lượng lưu chuyển hành khách và hàng hóa bằng đường bộ đã tăng lên nhanh hơn nhiều so với đầu tư vào lĩnh vực này. Theo Báo cáo của Bộ Giao thông vận tải Đức GMT (German Ministry of Transport), lưu lượng hành khách vận chuyển sẽ tăng lên 18% và lưu thông hàng hóa tăng lên 70% (năm 2025). Do đó, nếu kết cấu hạ tầng giao thông không được đầu tư phát triển sẽ là yếu tố hạn chế sự tăng trưởng kinh tế. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, việc thiếu hụt vốn trong khu vực công cũng như những ưu tiên chi tiêu cho tiêu dùng trong khu vực công là những lý do chính làm cho đầu tư vào kết cấu hạ tầng của Đức ngày càng giảm. Để phát triển hệ thống giao thông vận tải, việc huy động nguồn vốn tư nhân là cần thiết. Mục tiêu mà Chính phủ Đức đặt ra cho giao thông vận tải quốc gia là đảm bảo không ảnh hưởng đến môi trường. Trong đó, phải giảm thiểu tiếng ồn và giảm phát thải khí thải độc hại do giao thông gây ra; nâng cao chất lượng môi trường sống tại các đô thị; đảm bảo sự sống lâu dài ở các đô thị và khu vực nông thôn; đảm bảo sự đi lại với mức giá hợp lý cho toàn thể nhân dân. Để đáp ứng được các mục tiêu đó, Chính phủ Đức đã khuyến khích sử dụng nhiên liệu và các động cơ thay thế (đặc biệt là sử dụng động cơ điện), khuyến khích sử dụng các phương tiện vận tải hành khách công cộng và xe đạp, áp dụng các biện pháp thắt chặt sử dụng phương tiện giao thông cá nhân trong nội thị nhằm bảo vệ môi trường, quản lý khu vực đỗ xe....

Đức có hệ thống đường sắt (hơn 44.000 km) dài gấp đôi mức trung bình ở các nước trong khu vực EU; hệ thống đường cao tốc dài gần 657.140 km. Hệ thống giao thông của Đức hiện đại bậc nhất không chỉ ở châu Âu mà cả trên toàn thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên chở, tiết kiệm thời gian và chi phí. Hệ thống kết cấu hạ tầng cũng được đầu tư rất công phu. Chính phủ Đức nhận thức được khả năng phát triển ngành dịch vụ logistics của đất nước nên một số cơ quan nhà nước đã kết hợp với các công ty logistics tạo ra các khu vực gọi là làng chuyên chở, vận chuyển (freight village). Chỉ trong vòng 20 năm đã có 33 làng chuyên chở, vận chuyển hình thành rải đều ở khắp nước Đức phục vụ cho ngành hậu cần logistics. Hệ thống làng chuyên chở giúp cho các điểm phân phối trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn nhiều. Nhờ có sự kết hợp từ các công ty logistics và các cơ quan chính phủ nên các “làng chuyên chở” phát triển dịch vụ thông quan hàng hoá dễ dàng, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và công sức. Làng chuyên chở “Freight village” đã tạo nên một khả năng cạnh tranh mạnh mẽ cho ngành dịch vụ hậu cần Đức.

Theo kế hoạch, Đức sẽ chi đến 15 tỷ euro (năm 2015) vào các công trình xây dựng giao thông. Hơn 30 công trình đại lộ mới đang xây dựng để thay thế cho 40 đại lộ cũ. Các đại lộ ở Đức có độ dài khoảng 12.000 km, với mật độ khoảng 33km đại lộ/1.000km đường phố. Khoảng 70% hàng hoá được vận chuyển trên đường cao tốc. Thêm vào đó, kênh giao thông đường thuỷ dài 60.000km (dài hơn 25% so với của Pháp), đường sắt dài 36.000 km (dài nhất châu Âu). Hơn 22,4% container sau khi qua cảng Hamburg của Đức được chuyên chở bằng tàu đến những nơi phân phối, giao hàng.

Đức có tới hơn 30 sân bay. Trong đó, sân bay Frankfurt là một trong những sân bay nhộn nhịp nhất ở châu Âu và thứ chín trên thế giới. Vận tải hàng không Đức đứng đầu trong khu vực châu Âu, được thể hiện rõ qua khối lượng vận chuyển của Công ty cung cấp vận chuyển bưu điện quốc tế DHL.

Hệ thống cảng, biển thuận lợi. Đức có đường bờ biển dài và có biên giới giáp ranh với 9 quốc gia nên có khả năng làm nơi trung chuyển hàng hoá đến các nước trong khu vực châu Âu dễ dàng, thuận lợi. Các con sông chính của Đức như sông Rhine và kênh Kiel (kênh Kiel là một đầu mối quan trọng nối liền biển Baltic và biển Bắc). Hamburg là cảng biển lớn nhất Đức và cũng là một trong 3 cảng lớn nhất thế giới. Hệ thống cảng được bố trí phủ khắp, tận dụng tất cả vùng biển. Trong số 10 bạn hàng lớn nhất của cảng Hambug có tới 5 bạn hàng là các nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore và Bắc Triều Tiên. Cảng Rostock của Đức có vai trò quan trọng trong thông thương của Đức với các nước bán đảo Xcăng-đi-na-vi và các quốc gia vùng biển Ban-tích; có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Đức, và giữ vị trí trọng yếu kinh tế của bang Mecklenburg-Vorpommern (nằm ở phía Đông Bắc Đức).

Hệ thống kho bãi rộng và hiện đại. Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kho bãi trong phát triển dịch vụ hậu cần nên Đức rất chú trọng đầu tư phát triển. Hệ thống kho chứa ở Đức có diện tích lớn, cứ 8 khu vực trong nội thành là có 1 kho chứa có diện tích lớn, khả năng sắp xếp khoa học khiến cho việc dự trữ và bảo quản hàng hóa tốt. Xe container có thể đi lại vào kho dễ dàng, tiết kiệm chi phí vận chuyển. Thêm vào đó, chi phí thuê mặt bằng ở Đức được coi là rẻ so với các quốc gia châu Âu khác, chỉ bằng một nửa so với chi phí của Anh.

Để tiếp tục phát triển ngành hậu cần, chính phủ Đức rất chú trọng việc đầu tư và mở rộng hệ thống kho bãi. Xu hướng mở rộng sự phân phối và kho vận tại thị trường nước ngoài đang được đầu tư phát triển. Công ty Schenker Gemadept Logistics của Đức lập kế hoạch mở rộng hệ thống kho vận và phân phối tại miền Nam, miền Bắc và miền Trung Việt Nam.

Hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông phát triển. Đức là quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Đức cũng là thị trường điện thoại di động và thị trường Online lớn nhất châu Âu.

Hãng chuyển phát bưu kiện - Hermes Germany đã đầu tư khoản tiền khổng lồ cho công nghệ thông tin vào hệ thống máy quét (scanning) để hỗ trợ dịch vụ mới, với mục đích cung cấp sự minh bạch, chính xác trong việc vận chuyển hàng hóa. Hermes Germany được biết tới như hãng chuyển phát nhanh luôn chú trọng mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cho khách hàng. Hiện Hãng đã giới thiệu các ứng dụng cho iPhone, iPad và smartphone Android. Phát triển các dịch vụ trực tuyến đảm bảo lợi thế cạnh tranh tương lai cho Hermes trên thị trường hậu cần.

Theo đánh giá của Nghiên cứu Chỉ số kết nối toàn cầu (Global Connectivity Index - GCI), Đức đứng thứ 1/25 quốc gia phát triển (năm 2014) nhờ cam kết mạnh mẽ và đầu tư liên tục cho sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), tạo ra được một thị trường thực sự có sức cạnh tranh.

Thách thức đối với ngành dịch vụ hậu cần Đức

Mặc dù dịch vụ hậu cần của Đức vẫn giữ vị trí số một trên thế giới năm 2014, song trong bối cảnh suy giảm của kinh tế thế giới, ngành dịch vụ hậu cần Đức không tránh khỏi gặp những khó khăn, đó là:

Thứ nhất, sự suy giảm của môi trường kinh tế vĩ mô có tác động tiêu cực đến phát triển dịch vụ hậu cần. Suy giảm tăng trưởng kinh tế thế giới làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng hóa giảm, dẫn đến thu hẹp nhu cầu dịch vụ hậu cần. Thể hiện rõ ràng nhất là trong hoạt động giao thông vận tải hàng hóa.

Thứ hai, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu cũng làm giảm nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trong khu vực và trên thế giới. Các quốc gia vì lợi ích quốc gia có xu hướng áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch, hạn chế thương mại hàng hóa toàn cầu, do đó cản trở hoạt động dịch vụ hậu cần của Đức nói riêng cũng như dịch vụ hậu cần thế giới, nói chung. Tuy nhiên, dịch vụ hậu cần Đức đang có những thuận lợi do giá năng lượng đang có xu hướng giảm. Gía xăng giảm mạnh trong thời gian gần đây giúp chi phí vận tải giảm.

Thứ ba, chính sách bảo đảm an ninh môi trường cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển ngánh dịch vụ hậu cần Đức. Trong giai đoạn 1990-2010, lượng khí thải CO2 trong ngành giao thông vận tải EU tăng hơn 1/3 - mức tăng nhanh hơn tất cả các khu vực kinh tế khác. Giao thông vận tải đóng góp hơn 27% lượng khi thải CO2 của châu Âu. Đây là lý do tại sao châu Âu hiện đang là tâm điểm của vấn đề an ninh môi trường. Ô nhiễm môi trường buộc Đức phải cạnh tranh hơn trong hoạt động giao thông vận tải với các quốc gia trong khu vực. Để giải quyết vấn đề an ninh môi trường, Đức đã tăng mức chi phí vận chuyển hàng hóa từ 13,5 cent lên hơn 16,3 cent/km (năm 2014).

Thứ tư, chi phí nhân sự trong ngành dịch vụ hậu cần Đức đang gia tăng cũng là một thách thức, bởi chi phí nhân sự là chi phí lớn nhất trong vận chuyển hàng hóa đường bộ ở Đức. Chi phí này tăng trung bình 4,7 tỷ euro/năm, chiếm 10% tổng chi phí vận chuyên hàng hóa đường bộ. Dự báo, Đức cần tới 50.000 (năm 2025) lái xe cho vận tải đường bộ.

Hiện tại, Đức đang từng bước dần khắc phục những khó khăn, thách thức để duy trì ngôi đầu bảng thế giới về phát triển dịch vụ hậu cần.

Tóm lại, phát triển dịch vụ hậu cần của Đức có sự kết hợp đồng bộ về kết cấu hạ tầng giữa cảng biển, trung tâm logistics cũng như cơ chế đầu tư, quản lý kết cấu hạ tầng. Hạ tầng logistics của Đức phát triển chủ yếu dựa vào mô hình hợp tác giữa nhà nước và tư nhân. Khu vực nhà nước có trách nhiệm cung cấp kết cấu hạ tầng như đất đai, phương tiện truyền thông, đường bộ và đường sắt. Các công ty tư nhân tham gia đầu tư và tổ chức xây dựng kho bãi, trạm dịch vụ... Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư tư nhân và áp dụng mở rộng các mô hình PPP (hợp tác công tư). Kinh nghiệm của Đức đã chỉ ra rằng, muốn giảm thiểu rủi ro ở các công trình đầu tư xây dựng hạ tầng logistics, cần kêu gọi hợp tác công tư (PPP) để giảm gánh nặng vốn đầu tư từ Nhà nước. Hình thức đầu tư PPP cũng góp phần minh bạch hóa thông tin và giúp cải thiện kết cấu hạ tầng vận tải nhanh hơn. Nhờ vậy, Đức luôn nằm trong Top 5 nước đứng đầu (cùng với Hà Lan, Bỉ, Anh và Singapore) có chất lượng dịch vụ hậu cần (logistics) tốt nhất thế giới./.

-------------------------------------------------

(1) Người cung cấp dịch vụ hậu cần bên thứ ba là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ hậu cần. Do vậy, dịch vụ hậu cần bên thứ ba tích hợp các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc lưu chuyển hàng hóa và xử lý thông tin trong dây chuyền cung ứng.