TCCSĐT - Những kết quả ban đầu đạt được trong đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với triển khai thực hiện công tác vận động nhân dân trong tình hình mới của Đảng bộ tỉnh Sơn La, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết của nhân dân các dân tộc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Sơn La là một tỉnh miền núi, biên giới, diện tích tự nhiên là 14.174 km2, có 250 km biên giới giáp với nước bạn Lào. Sơn La có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực Tây Bắc, với nhiều tiềm năng thế mạnh để phát triển kinh tế, du lịch và xây dựng thủy điện (như nhà máy Thủy điện Sơn La với công suất 2.400MW và nhiều nhà máy thủy điện vừa và nhỏ khác được xây dựng và đi vào vận hành).

Trong thời gian qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, mặc dù tỉnh Sơn La gặp nhiều khó khăn, thách thức, song được sự quan tâm, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, cùng sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nên kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh tiếp tục giữ được ổn định và có bước phát triển. Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2013: nông - lâm - thủy sản chiếm 31,6%, công nghiệp - xây dựng chiếm 23,3%, dịch vụ chiếm 45,1%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 1.000 USD. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 2.072 tỷ đồng (đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh đề ra đến năm 2015).

Sơn La vẫn là tỉnh nghèo, phải đối mặt với nhiều khó khăn do xuất phát điểm kinh tế thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, công tác ổn định đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng di dân tái định cư thủy điện Sơn La và Hòa Bình đang đặt ra nhiều vấn đề phải quan tâm giải quyết. Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội; nạn buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các chất ma túy; các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan; học và truyền đạo trái phép; di cư tự do, tranh chấp đất đai; tái trồng cây thuốc phiện… còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, mưu đồ “thành lập Vương quốc Mông” với nhiều hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, chia rẽ Đảng với nhân dân. Những khó khăn ấy đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh.

Công tác xây dựng Đảng còn những hạn chế, như một số nơi tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở yếu kém, giảm sút vai trò lãnh đạo, không sát dân, không nắm được tình hình nhân dân. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, quan liêu, cửa quyền, tắc trách trong công việc, lời nói không đi đôi với việc làm, giải quyết những công việc của nhân dân không đến nơi, đến chốn. Những yếu tố đó nếu không sớm được sửa chữa, khắc phục sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh Sơn La xác định: để sớm vượt qua những khó khăn, thách thức nêu trên, phải giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo đồng thời phải làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với triển khai công tác vận động nhân dân, coi đó là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hiện nay.

Thứ nhất, làm tốt công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, khắc phục những hạn chế yếu kém trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức đảng ở cơ sở, sự thiếu gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có tư tưởng chính trị vững vàng, hiểu dân, tận tụy với công việc, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng, noi theo.

Ngay sau khi kết thúc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, các cấp ủy, tổ chức đảng từ tỉnh đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14-5-2011, của Bộ Chính trị, về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Lựa chọn một số vấn đề nổi cộm, bức xúc để tập trung chỉ đạo giải quyết.

Để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành một số văn bản quy định nhằm cụ thể hóa vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, như các hướng dẫn thực hiện quy định của Ban Bí thư Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp; thực hiện ngay việc quản lý, sử dụng xe ô-tô công đúng quy định của Nhà nước.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên được triển khai tích cực. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn; góp phần giữ vững bản chất giai cấp công nhân và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng; tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị, về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng bộ, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nâng cao ý thức tu dưỡng đạo đức của cán bộ, đảng viên và trở thành một bộ phận không thể tách rời với công tác xây dựng Đảng.

Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, các chỉ thị, kế hoạch của Bộ Chính trị, hướng dẫn của các ban đảng Trung ương và các văn bản của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Sau kiểm điểm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo cấp ủy các cấp xây dựng và thực hiện nghiêm túc kế hoạch khắc phục và sửa chữa những thiếu sót, khuyết điểm.

Tập trung kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể; hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quy định rõ hơn về mối quan hệ lãnh đạo, quan hệ phối hợp của từng tổ chức. Tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ; công tác đánh giá cán bộ dần đi vào nền nếp, nghiêm túc và chặt chẽ hơn, giúp cấp ủy đánh giá sát chiều hướng phát triển của cán bộ, là cơ sở quan trọng cho việc quy hoạch và sử dụng cán bộ.

Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng đạt được nhiều kết quả tích cực. Thực hiện có hiệu quả chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa hằng năm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để phòng ngừa sai phạm và thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giúp cho đảng viên nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác, chú trọng rèn luyện đạo đức, lối sống, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

Tăng cường sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và cấp ủy các cấp đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Chỉ đạo và tổ chức thanh tra, kiểm tra, điều tra, giám sát tất cả các lĩnh vực; phát hiện, chấn chỉnh, xử lý kịp thời các sai phạm; tập trung vào công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, đầu tư xây dựng, sử dụng ngân sách; thực hiện nghiêm quy định về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Khối đoàn kết các dân tộc được củng cố vững chắc. Vai trò của các tổ chức đảng và đảng viên, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được phát huy; nội dung và phương thức hoạt động ngày càng thiết thực, thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo, bảo đảm lợi ích, vai trò giám sát của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Sau 03 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đến nay, những yếu kém, khuyết điểm được chỉ ra sau kiểm điểm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã cơ bản được khắc phục; các văn bản tiếp tục được rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới; những việc tồn đọng được tăng cường chỉ đạo, giải quyết, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về phong cách, lề lối công tác, rõ người, rõ việc; công tác lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp có chuyển biến rõ rệt; xác định rõ hơn trách nhiệm của người đứng đầu trong cơ quan, tổ chức; tinh thần trách nhiệm, thái độ của cán bộ, công chức được nâng lên; nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm túc trong sinh hoạt của các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Những kết quả bước đầu đã tạo ra một không khí mới trong xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận tích cực.

Thứ hai, tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động nhân dân. Bên cạnh việc triển khai thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về công tác dân vận, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, vì vậy công tác vận động nhân dân trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, hiệu quả từng bước được nâng lên. Ngay từ năm 2008, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 31-NQ/TU, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước ở tỉnh Sơn La”; Quyết định số 36-NQ/TU, ngày 03-12-2010, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị để lãnh đạo thực hiện trong toàn Đảng bộ tỉnh.

Cấp ủy đảng, hệ thống dân vận các cấp tổ chức học tập, quán triệt triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, tập trung xây dựng chương trình hành động và kế hoạch thực hiện Nghị quyết.

Hệ thống các cơ quan dân vận từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn, giữ vai trò nòng cốt trong công tác vận động quần chúng. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đẩy mạnh chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; đa dạng hóa các hình thức tập hợp đoàn viên, hội viên. Công tác dân vận của chính quyền có nhiều chuyển biến tiến bộ; cải cách hành chính đã đạt được những kết quả bước đầu.

Đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận chuyên trách được tăng cường về số lượng và chất lượng. Ban dân vận cấp huyện được bố trí đủ số lượng theo quy định. Khối dân vận xã, phường, thị trấn được củng cố, kiện toàn và hoạt động có hiệu quả, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện dân chủ và tổ chức vận động nhân dân. Từ việc thực hiện tốt công tác vận động nhân dân đã tạo ra sự đồng thuận trong nhân dân, trong xã hội, là cơ sở quan trọng để cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo điều hành và triển khai thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Để củng cố vững chắc lòng tin, mối quan hệ bền chặt giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, trước hết việc xây dựng, ban hành chủ trương, chính sách phải sát thực tiễn, hợp lòng dân và để nhân dân tin tưởng, tích cực thực hiện. Thực tiễn những năm qua, đã có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước bắt nguồn từ việc biết lắng nghe tiếp thu ý kiến tham gia của nhân dân, nên khi ban hành, tổ chức thực hiện được nhân dân đồng tình ủng hộ cao, nhanh chóng đi vào cuộc sống. Có thể minh chứng điều đó qua việc triển khai một số chủ trương lớn của tỉnh những năm qua:

Về Chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La, sau hơn 06 năm triển khai quyết liệt, đến ngày 15-4-2010 tỉnh Sơn La đã hoàn thành nhiệm vụ di chuyển dân ra khỏi vùng ngập lòng hồ thủy điện Sơn La (ở 03 huyện, 16 xã, 169 bản) đến 221 điểm tái định cư tập trung, 38 điểm tái định cư xen ghép và chuyển trung tâm huyện lỵ Quỳnh Nhai về Phiêng Lanh; đồng thời sắp xếp, tổ chức tái định cư cho hơn 15.900 hộ dân đã nhường đất cho thủy điện Sơn La..., góp phần hoàn thành và đưa nhà máy thủy điện đi vào hoạt động cung cấp điện cho quốc gia. Đời sống và sản xuất của nhân dân vùng tái định cư thủy điện Sơn La được ổn định. Đây chính là niềm tự hào, niềm vinh dự lớn lao, khẳng định công tác vận động nhân dân của Đảng bộ tỉnh có bước trưởng thành vượt bậc, hoàn thành một nhiệm vụ hết sức nặng nề có ý nghĩa lịch sử trong công tác vận động nhân dân của Đảng bộ tỉnh Sơn La.

Về chủ trương phát triển cây cao su, tỉnh phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam thực hiện chương trình phát triển cây cao su gắn với công nghiệp chế biến đã mở ra hướng phát triển về kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đến nay đã trồng được hơn 7.100 ha cao su; thu hút được 7.433 hộ gia đình góp giá trị quyền sử dụng đất, mua cổ phần để trở thành cổ đông; Công ty cổ phần Cao su Sơn La đã nhận 4.460 người thuộc các hộ gia đình có góp giá trị sử dụng đất vào làm cán bộ, công nhân công ty (trong đó trên 95% là đồng bào các dân tộc thiểu số).

Các chương trình 134, 135, 30a của Trung ương về hỗ trợ giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động khu vực nông thôn, miền núi đối với 05 huyện (Bắc Yên, Phù Yên, Mường La, Sốp Cộp, Quỳnh Nhai) của tỉnh đã thực sự góp phần cải thiện đời sống nhân dân, được đông đảo nhân dân các dân tộc đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 38% năm 2010 xuống còn 27% năm 2013; tỷ lệ hộ nghèo của 05 huyện nghèo giảm 4,5% so với năm 2012; hỗ trợ xóa được 15.270 nhà ở tạm (bình quân 5.090 hộ/năm).

Thứ ba, tập trung gắn phát triển kinh tế với tiến bộ và thực hiện công bằng xã hội, tích cực xóa đói, giảm nghèo, từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, phát huy tinh thần đoàn kết tập trung tháo gỡ những khó khăn, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc của nhân dân.

Trong “cuộc chiến” với tệ nạn ma túy, tỉnh Sơn La ban hành nhiều cơ chế, chính sách phù hợp để tổ chức thực hiện với tư tưởng chỉ đạo là “tập trung, thống nhất, toàn dân, toàn diện, kiên trì phòng, chống ma túy”. Chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã huy động được sức mạnh tổng hợp, sự đồng thuận và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, nhân dân đều vào cuộc để đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy và đã đạt kết quả rất quan trọng. Công tác quản lý, tổ chức cai nghiện, cai tái nghiện ma túy đạt kết quả tích cực; đã tổ chức triệt phá cơ bản hết các địa điểm tệ nạn ma túy trên địa bàn; góp phần đắc lực cho công tác bảo đảm an ninh trật tự, tạo môi trường lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài của nhân dân trong lĩnh vực quản lý đất đai, trong thực hiện chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La, áp giá đền bù giải phóng mặt bằng quốc lộ 6… tỉnh đã tập trung chỉ đạo khắc phục kịp thời, do vậy đến nay không còn tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài trong nhân dân.

Trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tỉnh đã phát huy tốt vai trò già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng để phổ biến tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cộng đồng dân cư. Tổ chức sâu rộng các phong trào “đền ơn, đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”, “tương thân tương ái”, “ngày vì người nghèo”, làm nhà “đại đoàn kết” và cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, tích cực tham gia xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, hội quần chúng, các cấp, các ngành và nhân dân hưởng ứng thực hiện.

Để gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tích cực xóa đói, giảm nghèo, từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo triển khai đồng bộ các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh. Quan tâm thực hiện chính sách đối với người có công; đặc biệt là ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khuyến nông, khuyến lâm, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động khu vực nông thôn, miền núi,… đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân, được đông đảo nhân dân các dân tộc đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện. Đồng thời, tỉnh đang tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn theo hướng dân làm, Nhà nước hỗ trợ; chỉ đạo làm đường bê tông nội bản ở xã, phường và thị trấn, Nhà nước hỗ trợ chủ yếu là xi măng, chiếm khoảng 30% tổng chi phí từ nguồn vượt thu của tỉnh, nhân dân hiến đất và đóng góp 70% để làm đường. Đối với xã đặc biệt khó khăn, Nhà nước hỗ trợ với mức cao hơn, bằng lồng ghép các nguồn vốn chương trình mục tiêu. Triển khai dự án xây dựng kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) ở các xã vùng sâu, vùng xa; tập trung củng cố, nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường trung học cơ sở và trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh; thực hiện Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg, ngày 18-6-2013, của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh ở khu vực kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn 15kg/tháng, với 288 trường phổ thông dân tộc có học sinh bán trú trên địa bàn, tỉnh đã hỗ trợ người nấu ăn và dụng cụ nấu ăn, đồng thời giao cho Hội Cựu Chiến binh chủ trì cùng với Đoàn Thanh niên vận động làm nhà bếp, Hội Phụ nữ đảm nhận vườn rau, Liên đoàn Lao động tỉnh phụ trách công tác quản lý và sử dụng gạo của từng nhà trường và gia đình học sinh.

Những kết quả nói trên đã tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh những năm tới, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2020, đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá trong các tỉnh miền núi phía Bắc, như Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh đã đề ra./.