Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức ở nước ta hiện nay
TCCS - Để hoạt động đạt mục đích và hiệu quả, bất kỳ thiết chế chính trị - pháp lý - xã hội nào cũng đều phải thường xuyên đổi mới để thích ứng hơn với điều kiện, hoàn cảnh xã hội. Đây là vấn đề mang tính quy luật. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức càng có tầm quan trọng đặc biệt, có tính cấp thiết, trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với yêu cầu về tính dân chủ, công khai, minh bạch,... khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức là một tất yếu khách quan
Kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị được xem là toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá, phát hiện nhằm ngăn ngừa, hạn chế, loại bỏ nguy cơ, hành vi sai trái của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức trong việc tổ chức và thực thi quyền lực, bảo đảm việc tổ chức và thực thi quyền lực được tổ chức và thực hiện đúng mục đích và hiệu quả; góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích chính đáng của người dân; đồng thời, chế ước vi phạm của tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực thi quyền lực(1).
Yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức xuất phát từ đòi hỏi cấp bách, thường trực từ phía xã hội, Nhà nước, lợi ích nhân dân, quốc gia - dân tộc và từ bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”(2).
Muốn kiểm soát quyền lực, cần có một hệ thống cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực khoa học, phù hợp, thể hiện sự vận hành đồng bộ và thống nhất của hệ thống thể chế, thiết chế liên quan trong thực thi và kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng, trong hoạt động của Nhà nước và các thành viên của hệ thống chính trị, bám sát đường lối, chính sách của Đảng, tuân thủ pháp luật của Nhà nước, không trái thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội. Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng được thể chế hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và việc tổ chức thực thi, bảo vệ pháp luật là công việc của Nhà nước. Các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đó chính là thước đo tính đúng đắn, tính khả thi, sức mạnh và sự tôn nghiêm của Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng được thể chế hóa thành pháp luật.
Yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức xuất phát từ nguyên tắc nền tảng của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ chính trị Việt Nam, đó là: do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Bản chất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định với nội dung cốt lõi là hệ thống chính trị mang tính nhân dân sâu sắc, là hệ thống chính trị của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có, mà là quyền lực phái sinh từ quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy quyền, được nhân dân giao quyền. Ở nước ta, cơ chế tổng thể quản lý đất nước, quản lý xã hội là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Trong hệ thống chung, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt, có tính cấp thiết. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đã đánh giá: “Quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên và nhân dân chưa nghiêm;...”. Hạn chế trong kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị dẫn tới tình trạng lạm quyền, lộng quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở một số cấp, một số ngành, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên, nhân dân; ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, đến sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Thực tế này đặt ra yêu cầu tăng cường xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị, trước tiên là trong nội bộ Đảng với tư cách là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được Hiến pháp quy định.
Có thể thấy, kiểm soát quyền lực là nhu cầu tự thân của chính hệ thống chính trị. Kiểm soát quyền lực ở Việt Nam còn phản ánh quá trình đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở tham khảo, vận dụng giá trị phổ biến, tiến bộ của thực tiễn tổ chức quyền lực ở các mô hình, hệ thống chính trị trên thế giới, phù hợp với điều kiện xã hội Việt Nam trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay. Với tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”(3). Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII tiếp tục đề ra mục tiêu kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; việc kiểm soát quyền lực nhà nước phải được thực hiện một cách đầy đủ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; vì thế, quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị nhằm xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự bền vững của chế độ và sự thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.
Giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với tăng cường kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị theo hướng khoa học, hiệu quả
Trong kỷ nguyên mới, Đảng ta tiếp tục phát huy bản lĩnh, vai trò lãnh đạo thống nhất, toàn diện hệ thống chính trị và xã hội, trong đó kiểm soát và giám sát hiệu quả quyền lực là một trong những điều kiện quan trọng để bảo đảm “sức sống” mạnh mẽ của toàn hệ thống, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Một mặt, cần hoàn thiện hệ thống giám sát và kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng; mặt khác, tăng cường kiểm soát quyền lực của Nhà nước; đồng thời, không ngừng nâng cao khả năng tự thanh lọc, tự đổi mới, tự hoàn thiện của toàn hệ thống. Để tăng cường xây dựng hệ thống kiểm soát và giám sát quyền lực chính trị một cách khoa học và hiệu quả, một số vấn đề sau cần được cân nhắc:
Thứ nhất, lấy việc kiểm soát và giám sát quyền lực trong nội bộ Đảng làm yếu tố tiên quyết, trọng tâm hàng đầu, kết hợp với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và tăng cường sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đại bộ phận cán bộ lãnh đạo các cấp của hệ thống chính trị là đảng viên, là lực lượng đại diện của nhân dân. Vị thế cầm quyền của Đảng xác định rằng, để kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị thì kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng là ưu tiên hàng đầu. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Quyền lực luôn có nguy cơ bị “tha hóa”, tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, cho nên phải thiết lập cho được một cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực đối với người có chức vụ, quyền hạn theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn phải được ràng buộc với trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn”(4).
Đồng thời, xây dựng hệ thống giám sát quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảng một cách thống nhất, toàn diện, bao phủ, đúng thẩm quyền và hiệu quả. Hệ thống giám sát của Đảng và Nhà nước là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa xã hội Việt Nam, bởi giám sát được xem là một phương tiện quan trọng của quản trị quốc gia. Kiên quyết thực hiện phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong giám sát, kiểm soát quyền lực; tăng cường giám sát tổ chức từ trên xuống, cải thiện giám sát dân chủ từ dưới lên, phát huy vai trò, tác dụng giám sát lẫn nhau cùng cấp, cho phép giám sát, quản lý hằng ngày đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, không để lọt sai phạm trong thực thi quyền lực. Để tăng cường giám sát quyền lực, cần nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, tăng cường phối hợp và liên kết, liên thông giữa các cơ quan giám sát khác nhau trong Đảng, giữa giám sát của Đảng với giám sát của cơ quan nhà nước, giữa giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội với cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật... Qua đó, các hệ thống giám sát khác nhau có thể tạo thành sức mạnh tổng hợp, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, tăng cường hiệu quả của việc giám sát quyền lực. Về vấn đề này, trong bài viết “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ để Nhân dân tham gia hoạt động quản lý Nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức khoa học, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động công vụ phải bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, thực hiện quyền hạn theo chức trách, thẩm quyền, có sự thanh tra, kiểm tra chặt chẽ”(5).
Xây dựng và hoàn thiện các nguyên tắc quản trị khoa học, quản trị dân chủ và quản trị theo pháp luật, không ngừng hoàn thiện và nâng cao phương pháp lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hợp lý hóa và chuẩn hóa hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời, chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng trên cơ sở mở rộng dân chủ trong Đảng và toàn xã hội; đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng nhằm bảo đảm sự đoàn kết, đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội; phát huy sự nhiệt tình, chủ động, sáng tạo của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội; quản lý đất nước theo tinh thần dân chủ, thượng tôn pháp luật.
Thứ hai, chú trọng việc giám sát đầy đủ, chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu trong thực thi quyền lực công.
Bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng. Quyền lực công phải được kiểm soát và giám sát để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, không bị tha hóa. Việc phân công, phân cấp phải gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm. Đồng thời, thực hiện nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây dư luận xấu; xử lý nghiêm trách nhiệm cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong tổ chức, cơ quan, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Quan trọng hơn, phải ngăn ngừa tận gốc sai phạm, khuyết điểm một cách căn cơ, bài bản bằng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo tinh thần quyền lực càng cao thì càng phải được giám sát chặt chẽ. Kết hợp giám sát trong nội bộ Đảng với giám sát bên ngoài Đảng. Xóa bỏ “vùng cấm”, hạn chế “kẽ hở” pháp luật trong quá trình thực thi quyền lực công, bảo đảm rằng, mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức làm việc trong tổ chức đảng và cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình theo pháp luật và sử dụng quyền lực một cách đúng đắn, khách quan; xây dựng môi trường làm việc thường xuyên có sự giám sát, kiểm soát chặt chẽ, khoa học. Đồng thời, không ngừng nâng cao tính răn đe của công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.
Thứ ba, kiên quyết “nhốt quyền lực vào lồng thể chế”, tăng cường quản trị tổ chức đảng và đảng viên nghiêm minh, toàn diện, trên nguyên tắc và mấu chốt của việc quản trị là theo quy định của Đảng và tuân thủ pháp luật của Nhà nước.
Quyền lực luôn là “con dao hai lưỡi”. Để hạn chế lạm dụng quyền lực và tăng cường giám sát quyền lực, phải lấy việc thực thi nghiêm minh quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thể chế hóa, luật hóa quy định của Đảng làm chiến lược cơ bản. Quy định của Đảng có tính căn bản, toàn cục, ổn định, lâu dài, nên việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức cần bám sát các quy định của Đảng, Điều lệ Đảng. Phải tự giác tuân thủ, học tập, quán triệt và bảo vệ các nguyên tắc của Đảng, nhất là phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định về chế độ tập trung dân chủ và thực hiện được các khâu công tác lãnh đạo trong việc đề ra quyết sách tuyển người, dùng người đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường đổi mới, kiện toàn cơ chế xây dựng quy định cũng như cơ chế kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, bảo đảm tính tổng thể, hoàn chỉnh, quy phạm, khoa học, hiệu quả, chắc chắn hơn, rõ nét hơn. Kiên trì bảo vệ tính nghiêm túc và tính uy nghiêm của quy định. Có như thế mới thể hiện được tầm quan trọng, tính tất yếu của việc xây dựng quy định của Đảng, thể hiện được khái niệm mới về chế độ hóa, quy phạm hóa, trình tự hóa trong việc thúc đẩy quản trị tổ chức đảng và đảng viên trước tình hình mới.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp quyền lực và tăng cường giám sát việc vận hành quyền lực giữa các cơ quan.
Cần gắn việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, sáp nhập địa giới hành chính cấp tỉnh, cấp xã và xây dựng chính quyền 3 cấp với việc tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn vận hành đồng bộ, thống nhất. Tập trung vào phân quyền, ủy quyền, sử dụng quyền lực và kiểm soát quyền lực; đồng thời, hoàn thiện cơ chế phòng ngừa để kịp thời phát hiện vấn đề, cũng như cơ chế khắc phục để điều chỉnh chính xác sai lệch và cơ chế giải trình để tăng cường trách nhiệm. Tiếp tục hoàn thiện và chuẩn hóa trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phân bổ khoa học quyền hạn và chức năng của cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; xây dựng quy trình vận hành quyền lực, xác định quyền sở hữu quyền lực, vạch ra ranh giới quyền lực rõ ràng, làm rõ danh mục quyền lực, bảo đảm các cơ quan trong hệ thống chính trị thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo thẩm quyền và thủ tục quy định.
Bàn về vấn đề này, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Phải tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, không bị “tha hóa”; phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời thực hiện nghiêm việc xử lý, điều chuyển, miễn nhiệm, thay thế cán bộ có biểu hiện tham nhũng gây nhiều dư luận; xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; và quan trọng hơn là phải ngăn ngừa tận gốc những sai phạm, khuyết điểm một cách căn cơ, bài bản bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nói một cách hình ảnh là phải “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế”(6).
Thứ năm, tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh mới.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc xây dựng luật pháp, trong đó nêu rõ các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nhiều vấn đề lớn cần được tập trung giải quyết. Do đó, cần có quyết tâm chính trị cao của Đảng và kiên trì sử dụng tư duy pháp lý, biện pháp pháp lý để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trước hết, cần xây dựng, hoàn thiện thể chế để “không thể”, “không dám” tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân. Cần “đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành nghiêm túc, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước nhanh và bền vững”(7); xây dựng được thể chế đầy đủ, chặt chẽ, làm căn cứ để thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xử lý đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật hình sự đối với những người vi phạm, bất kể đó là ai.
Mặt khác, cần xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán có đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu được giao, người kiểm soát quyền lực cũng phải chịu sự kiểm soát quyền lực; tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Cơ quan kiểm tra, giám sát cùng với cơ quan nội chính, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải thật sự trong sạch, chí công vô tư, có dũng khí đấu tranh ngăn chặn việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân. Cán bộ thanh tra, kiểm tra phải là chiến sĩ kiên cường, có bản lĩnh, nắm chắc cơ chế, chính sách của Nhà nước, Điều lệ Đảng, quy định của Đảng; đặc biệt phải có dũng khí đấu tranh, và hơn ai hết phải liêm, phải sạch, bởi không liêm, không sạch thì không nói được ai, không kiểm tra, giám sát, không kỷ luật được người khác(8).
Thứ sáu, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với quyền lực, để quyền lực được thực thi một cách dân chủ, công khai, minh bạch.
Quyền lực do Nhân dân trao do vậy, phải được Nhân dân giám sát. Nếu việc thực thi quyền lực không có sự giám sát của nhân dân thì không thể xác lập được uy tín, phẩm chất của tổ chức, tập thể, cá nhân được giao quyền. Cần tiếp tục nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật, quản lý đất nước theo pháp luật, cải tiến hệ thống dịch vụ công, khai thông kênh để người dân góp ý, phê bình và giám sát; phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của dư luận xã hội, đặt quyền lực dưới sự giám sát của Nhân dân. Nâng cao nhận thức về chủ động công khai và sẵn sàng chấp nhận sự giám sát, thúc đẩy công bằng thông qua công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhắc nhở: “Cán bộ lãnh đạo các cấp phải ghi nhớ, bất cứ ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật, bất kỳ ai sử dụng quyền lực đều phải phục vụ Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và tự giác chịu sự giám sát của Nhân dân”(9). Chính vì thế, cán bộ lãnh đạo các cấp phải luôn tôn trọng sự giám sát của Nhân dân, xây dựng thói quen thực thi quyền lực dưới sự giám sát của Nhân dân. Cần tạo điều kiện, mở rộng kênh để người dân giám sát, kiên quyết loại bỏ trở ngại trong quá trình tham gia giám sát của nhân dân, xử lý nghiêm hành vi trù dập đối với người tố giác tham nhũng, lãng phí, lạm quyền, lộng quyền của cán bộ, công chức.
Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của internet và việc sử dụng rộng rãi của phương tiện truyền thông đa phương tiện, nhất là mạng xã hội càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và trở thành phương tiện để truyền tải thông tin, với việc tham gia tích cực của nhân dân đối với việc giải quyết các vấn đề của đất nước. Phải hết sức coi trọng việc sử dụng và tiêu chuẩn hóa hoạt động giám sát trên internet, thiết lập và cải thiện cơ chế thu thập, nghiên cứu và phán đoán dư luận trực tuyến cũng như xử lý vấn đề phản ánh về việc thực thi quyền lực của hệ thống chính trị; hành vi vi phạm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải được xem xét kịp thời. Người tố cáo sai sự thật, vu khống phải chịu trách nhiệm; người bịa đặt và phát tán tin đồn thất thiệt phải bị xử lý theo pháp luật./.
----------------
(1) Xem: Nguyễn Thị Tuyết Mai (Chủ biên): Kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 17
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 118
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 203
(4) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 83 - 84
(5) Tô Lâm: “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1.049, tháng 11-2024, tr. 5
(6) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Sđd, tr. 83 - 84
(7) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 135
(8) Xem: Vũ Trọng Lâm (chủ biên): Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 305
(9) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Sđd, tr. 83 - 84
Phát huy vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp  (19/11/2025)
- Danh sách các tác phẩm đoạt Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng - Giải Búa liềm vàng lần thứ X
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cơ quan, tổ chức ở nước ta hiện nay
- Cao Bằng - nơi Bác Hồ trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền
- Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
- Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm