Giá trị văn hóa trong phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Hồng
TCCS - Văn hóa là nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước nói chung, vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng, trong đó du lịch là ngành kinh tế trọng điểm của vùng. Du lịch được xác định là “ngành kinh tế mũi nhọn, là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, mang nội dung văn hóa và nhân văn sâu sắc, đóng góp chính vào hội nhập kinh tế, tạo động lực cho các ngành khác phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc phòng”(1). Nghiên cứu phát huy các giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng để phát triển du lịch là yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng và ban hành chiến lược phát triển du lịch nhân văn và bền vững.
Nhận diện giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng
Từ phương diện địa lý - sinh thái, đồng bằng sông Hồng (còn gọi là châu thổ sông Hồng hay đồng bằng Bắc Bộ) là vùng đất được hình thành từ sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình. Trước ngày 1-7-2025, vùng đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành phố (thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Quảng Ninh)(2). Từ sau ngày 1-7-2025, khu vực này có thay đổi, gồm 6 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình và Quảng Ninh)(3), với diện tích 23.938,47km2, dân số 24,5 triệu người.
Đồng bằng sông Hồng là vùng đất đa dạng về sinh thái, với địa hình không hoàn toàn bằng phẳng, có nhiều vùng trũng (như Bình Lục, Lý Nhân của tỉnh Ninh Bình; Vĩnh Bảo, Tiên Lãng của thành phố Hải Phòng,…), nhiều vùng núi đồi xen kẽ đồng bằng và thung lũng, nhiều vùng ven biển, bãi bồi,… Vùng đất này cũng có sự đa dạng về các luồng/nhóm cư dân và đi cùng với đó là sự đa dạng văn hóa.
Từ góc nhìn vùng văn hóa, các nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, Trần Quốc Vượng… đã phân chia vùng này ra thành nhiều tiểu vùng văn hóa, như Thăng Long - Hà Nội, đất Tổ - Phú Thọ, Kinh Bắc - Bắc Ninh, Hải Đông, Hưng Yên - Hưng Nhân, Hà - Nam - Ninh. Điều đó cho thấy, đồng bằng sông Hồng luôn có vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển của quốc gia, dân tộc.
Từ phương diện lịch sử, đồng bằng sông Hồng là vùng đất này có lịch sử lâu đời, nơi khai sinh các vương triều Đại Việt, nơi phát tích của các nền văn hóa Đông Sơn, Thăng Long - Hà Nội. Đồng bằng sông Hồng còn là vùng đất tổ, cái nôi hình thành văn hóa, văn minh Việt Nam và cũng là cội rễ của văn hóa Việt Nam.
Hệ thống các giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng rất đa dạng, là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch. Có thể phân loại các giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng gồm: Giá trị văn hóa vật chất (di tích, di chỉ, nhà cổ, phố cổ,…); giá trị văn hóa tinh thần (văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội,…); giá trị văn hóa cá nhân; giá trị văn hóa cộng đồng; giá trị văn hóa hiện hữu (đã được nhận diện, được ghi danh, được phát huy giá trị), giá trị văn hóa tiềm ẩn (chưa được nhận diện rõ); giá trị văn hóa nội sinh; giá trị văn hóa ngoại sinh (do du nhập, tích hợp, vay mượn từ bên ngoài); giá trị văn hóa truyền thống, giá trị văn hóa đương đại; giá trị văn hóa nông thôn, giá trị văn hóa đô thị,…
Giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng còn được thể hiện ở sự đa dạng trong các biểu đạt văn hóa, gồm những biểu đạt cơ bản sau: Hệ thống các di tích, bao gồm các di tích khảo cổ học, di tích lịch sử, di tích tôn giáo tín ngưỡng, di tích kiến trúc nghệ thuật(4); hệ thống các danh thắng(5); hệ thống các bảo tàng, các nhà lưu niệm(6) tại nhiều tỉnh, thành phố trong vùng; hệ thống chợ gồm nhiều loại chợ, như chợ phiên, chợ cóc, chợ đình, chợ xanh, chợ đêm, chợ đầu mối,…; chợ chuyên một loại hàng, như chợ nón làng Chuông, chợ cá Yên Sở, chợ tâm linh như chợ Viềng…; hệ thống các loại hình nhà ở, bao gồm các loại nhà truyền thống của từng địa phương, nhà phố, nhà ống, nhà vườn, nhà cửa hàng, biệt thự, chung cư,…; hệ thống các nghề, làng nghề(7) trải khắp vùng.
Bên cạnh đó, vùng đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung hệ thống các làng cổ(8) và hệ thống phong tục, tập quán, tri thức dân gian, gồm những phong tục tập quán, tri thức gắn với đời sống thường ngày, đời sống sản xuất, đời sống nghi lễ cùng các hoạt động cộng đồng; hay hệ thống các tri thức liên quan đến thời tiết, kinh nghiệm sản xuất, ứng xử, dưỡng sinh trị bệnh… Song song đó, vùng đồng bằng sông Hồng là vùng đất của lễ hội với nhiều lễ hội dân gian nổi tiếng(9) cùng các lễ hội mới(10), đồng thời là vùng đất có các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng. Cùng với đó là sự phong phú của cảnh quan làng (cây đa, bến nước, sân đình, bờ ao, cánh đồng, cổng làng, ngõ xóm,…), đời sống thường ngày ở làng, đời sống sản xuất, đời sống tâm linh, đời sống nghệ thuật, các hình thức vui chơi giải trí,… Vùng đồng bằng sông Hồng còn là cái nôi của nhiều loại hình văn học, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn,… từ truyền thống đến hiện đại, từ dân gian đến bác học, cũng là nơi có nhiều sinh hoạt nghệ thuật(11). Bên cạnh đó, vùng đồng bằng sông Hồng còn có nền văn hóa ẩm thực phong phú, đa dạng gắn với nguồn nguyên liệu địa phương, thể hiện trong cách thức, ăn uống, cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ xã hội. Sự đa dạng của giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng là nguồn lực quan trọng để khai thác và xây dựng sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách.
Một số vấn đề đặt ra trong việc phát huy các giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Hồng
Để khai thác, phát huy các giá trị văn hóa này trong phát triển du lịch, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, làm giàu thêm các giá trị văn hóa của vùng đồng bằng sông Hồng cần chú ý một số vấn đề sau:
Một là, giá trị văn hóa và việc phát huy giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch
Giá trị văn hóa là khái niệm mang tính hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành. Phát huy các giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch cần thiết phải bảo tồn và phát huy cả hệ thống giá trị văn hóa, không nên có sự chọn lọc hay tách riêng các giá trị mà bỏ qua tính gắn kết, tương liên giữa chúng.
Giá trị văn hóa mang tính tương đối và có thể thay đổi qua thời gian, không gian và sự lựa chọn của từng cộng đồng. Giá trị văn hóa không bất biến, không đồng nhất, vì vậy sẽ không có giá trị văn hóa nào được xem là trường tồn, là quan trọng nhất mà mỗi giá trị có “toạ độ” riêng trong đời sống xã hội, chuyển tải “trường nghĩa” của cộng đồng sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Giá trị văn hóa còn mang tính thực tiễn cao, gắn với từng cộng đồng, từng cá nhân trong các điều kiện, bối cảnh và trải nghiệm khác nhau. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong phát triển du lịch cần gắn với thực tiễn để đạt được hiệu quả tốt nhất.
Việc phát huy các giá trị văn hóa trong phát triển du lịch cần được chú trọng cả những giá trị hiện hữu và đang được vận hành cho đến những giá trị còn ở dạng tiềm ẩn. Thực tế hiện nay, các giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng được chú ý, quan tâm bảo tồn, phát huy chủ yếu là các thực hành văn hóa đã được nhận diện và công nhận một cách chính thống (ví như các di tích cấp quốc gia, cấp tỉnh; các nghi lễ, tín ngưỡng, lễ hội đã được ghi danh hoặc đã phổ biến, các thiết chế văn hóa chính thống,…). Trong khi đó, vùng đồng bằng sông Hồng còn có nhiều giá trị văn hóa tiềm ẩn chưa được nhận diện đầy đủ, thậm chí chưa được nhìn nhận đúng đắn về vai trò, giá trị. Đó là những ký ức, tâm thức, câu chuyện văn hóa, những thiết chế văn hóa phi chính thống, cảnh quan tự nhiên, những di sản công nghiệp (các nhà máy cũ, nhà tập thể cũ,…), nhịp sống, nếp sống thường ngày ở mỗi vỉa hè, góc phố, làng quê… là những giá trị văn hóa có ý nghĩa, tạo điểm nhấn chú ý trong phát triển du lịch.
Các giá trị văn hóa luôn gắn với đời sống, được sáng tạo, duy trì, nuôi dưỡng trong đời sống. Vì vậy, khi huy động các giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch luôn cần chú ý khía cạnh đời sống của chúng, khai thác luôn phải đi cùng với bảo tồn và làm giàu thêm, đa dạng thêm các giá trị văn hóa. Hiện nay, xuất hiện nhiều hình thức huy động các giá trị văn hóa phục vụ du lịch theo cách thiếu bền vững, ví như “sân khấu hóa” các giá trị văn hóa một cách quá đà, “sân khấu hóa” các thực hành tín ngưỡng trong đó có cả những điều kiêng kỵ,… hay giá trị văn hóa nào cũng biến thành “hàng hóa” phục vụ du lịch hoặc khai thác các giá trị văn hóa kiểu “tận thu”,…
Hai là, mối quan hệ giữa các giá trị văn hóa và phát triển du lịch
Các giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng tạo nền tảng bền vững, đồng thời bảo đảm các điều kiện và môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch. Ở chiều cạnh khác, du lịch là phương tiện hữu hiệu nhất để quảng bá, giới thiệu các giá trị văn hóa đến với cộng đồng và toàn thế giới. Khi thực hành văn hóa diễn ra một cách thường xuyên trong hoạt động du lịch, người dân sẽ nâng cao ý thức, trách nhiệm gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của mình. Trong nghiên cứu về du lịch ở Bali (Indonesia), Shepherd cho rằng: “Du lịch... đã khiến cư dân địa phương tự ý thức về một thứ mà họ sở hữu được gọi là văn hóa”(12). Du lịch còn đánh thức các tiềm năng văn hóa, khơi dậy các thực hành văn hóa truyền thống có phần bị mai một hoặc chưa được thực hành thường xuyên trong đời sống thường ngày. Xét ở ý nghĩa này, du lịch chính là không gian quan trọng cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, làm giàu văn hóa. Phát triển du lịch cũng tạo động lực cho người dân và cộng đồng nâng cao ý thức giữ gìn giá trị văn hóa, sáng tạo vốn văn hóa phù hợp với bối cảnh thực tiễn của kỷ nguyên phát triển mới. Không chỉ vậy, du lịch còn tạo ra nguồn thu quan trọng để các cộng đồng đầu tư vào cải tạo môi trường văn hóa, phục hồi các giá trị văn hóa truyền thống, tổ chức các hoạt động cộng đồng,… giúp văn hóa phát triển. Du lịch còn tạo môi trường thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng, quốc gia, tạo sự chia sẻ, bao dung, học tập văn hóa lẫn nhau và đẩy mạnh sự sáng tạo, thích nghi và làm giàu văn hóa.
Như vậy, mối quan hệ giữa các giá trị văn hóa và du lịch là mối quan hệ tương tác, gắn bó mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau. Hiểu đúng và khoa học về mối quan hệ này mới đề ra định hướng, giải pháp phù hợp để khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch.
Ba là, sự tham gia của các bên liên quan
Mặc dù giá trị văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng được đánh giá phong phú, đa dạng, song để khai thác giá trị văn hóa này trở thành nguồn lực phục vụ phát triển du lịch, cần có sự tham gia tích cực, đồng bộ của nhiều bên liên quan. Trước hết, cần có sự đầu tư trọng điểm, đúng hướng và định hướng về mặt chính sách để có sự nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, đầy đủ về các giá trị văn hóa. Trong các quy hoạch, chiến lược phát triển chung cũng như quy hoạch, chiến lược riêng cho phát triển du lịch cần quan tâm đặc biệt đến yếu tố văn hóa. Bên cạnh đó, cần đầu tư nâng cao công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch và du lịch văn hóa. Việc huy động sự đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và cá nhân quan tâm đến lĩnh vực du lịch văn hóa ở trong nước và nước ngoài là cần thiết nhằm tạo đột phá mới cho phát triển du lịch. Song song đó, cần tăng cường sự tham gia của các hãng lữ hành, những người làm du lịch chuyên nghiệp. Đặc biệt, sự tham gia bài bản của các nhà nghiên cứu sẽ giúp các giá trị văn hóa được phát hiện, nghiên cứu, tổng kết, đánh giá và dự báo một cách kỹ lưỡng, cẩn trọng. Với việc nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng về nguồn tài nguyên văn hóa, nhà nghiên cứu luôn đóng vai trò tư vấn một cách khách quan, hiệu quả đối với các bên liên quan trong việc khai thác các giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch.
Sự tham gia tích cực và chủ động của các cộng đồng văn hóa giữ vai trò quyết định trong việc khai thác các giá trị văn hóa trong phát triển du lịch. Việc khuyến khích các cộng đồng bảo tồn, phát huy và làm giàu giá trị văn hóa của mình; tham gia vào chuỗi du lịch, xây dựng sản phẩm văn hóa du lịch là phương thức hữu hiệu nhất để khai thác tốt nhất các giá trị văn hóa cho phát triển du lịch. Điều quan trọng là quá trình khai thác giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch cần có sự chung tay của các bên liên quan, hợp tác, chia sẻ trên trên cơ sở hài hòa về lợi ích hướng đến phát triển bền vững.
Bốn là, xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù vùng đồng bằng sông Hồng
Du lịch văn hóa là “các cuộc tham quan những nền văn hóa và địa điểm khác để học hỏi về con người, lối sống, di sản, và nghệ thuật trong một hình thức thông tin đại diện một cách tự nhiên cho bối cảnh văn hóa và lịch sử của những con người đó”(13). Theo đó, du lịch chú trọng đến phạm trù “những nền văn hóa và địa điểm khác” - nghĩa là phải tạo ra sự mới lạ và hấp dẫn.
Dựa trên nguồn lực và các biểu đạt văn hóa đa dạng của vùng đồng bằng sông Hồng, có thể xây dựng những sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù, như tour du lịch khám phá các khu di chỉ khảo cổ học nổi tiếng; kết nối các di sản văn hóa thế giới (Hoàng thành Thăng Long, Dân ca quan họ Bắc Ninh, ca trù, Lễ hội Gióng, Văn Miếu - Quốc Tử Giám); câu chuyện từ các ngôi đình cổ; vẻ đẹp của miền danh thắng vùng châu thổ; kết nối các bảo tàng; các chợ phiên truyền thống, Chơi chợ ngày xuân, đi chợ trong sương; nét đẹp từ những nếp nhà; tiếng vọng từ các làng nghề; hồn quê làng cổ; những ký ức làng; nông nghiệp xanh trên đất lành; qua những miền ký ức; theo dấu phong tục xưa; về miền ẩm thực xứ Đoài/Bắc/Đông/Nam; khám phá ẩm thực đường phố; thông điệp từ trang phục xưa; trải nghiệm trò chơi dân gian; khám phá các chiếng chèo; nét đẹp mỹ thuật cổ; lắng đọng những làn điệu dân ca…
Dựa trên sự đa dạng của các giá trị văn hóa còn ở dạng tiềm ẩn của vùng, có thể xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo và đặc thù như: Tiếng nói từ những khu tập thể cũ; câu chuyện từ những di sản công nghiệp (các nhà máy cũ); thông điệp từ những không gian sáng tạo; trải nghiệm đời sống vỉa hè; theo gánh hàng rong; ký ức không ngủ yên,…
Các sản phẩm du lịch đặc thù còn có thể được xây dựng theo từng cấp độ (vùng, khu vực hoặc địa phương); từ sự kết hợp, liên kết giữa các địa phương; hoặc từ các giá trị văn hóa truyền thống, các giá trị văn hóa mới hoặc các giá trị văn hóa được tạo dựng. Nhìn chung, các sản phẩm du lịch đặc thù vùng đồng bằng sông Hồng được xây dựng trên cơ sở của các giá trị văn hóa đặc thù của vùng, như vậy có thể vừa bảo tồn, phát huy được các giá trị văn hóa và phát triển du lịch của vùng.
Trong quá trình phát triển, du lịch vùng đồng bằng sông Hồng đã dựa trên nền tảng văn hóa, góp phần bảo tồn, phát huy và ghi danh nhiều giá trị văn hóa. Với mục tiêu đặt ra đến năm 2030, “tổng số lượt khách du lịch đến các tỉnh, thành phố trên địa bàn vùng đồng bằng sông Hồng đạt trên 120 triệu lượt khách du lịch trong đó có trên 20 triệu lượt khách quốc tế. Doanh thu du lịch đạt khoảng 276.000 tỷ đồng”(14) còn rất nhiều việc phải làm. Mặc dù còn không ít thách thức, song với nhiều giải pháp đồng bộ và sự chung tay vào cuộc của các bên liên quan và của toàn xã hội, việc khai thác, phát huy giá trị văn hóa sẽ điểm tựa quan trọng cho phát triển du lịch, làm giàu thêm văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng./.
------------------------
(1) Xem: Quyết định số 147/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22-1-2020, về Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2020/01/147.signed.pdf
(2) Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 81/2023/QH15, ngày 9-1-2023, của Quốc hội, về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
(3) Căn cứ Quyết định 759/QĐ-TTg, ngày 14-4-2025, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp
(4) Như Hoàng thành Thăng Long, khu di chỉ khảo cổ Vườn Chuối, Cổ Loa, những Gò Đống Đa, Khu di tích Bạch Đằng giang, nhà thờ đá Phát Diệm, Nhà thờ lớn, Văn miếu Quốc Tử Giám, đình Đình Bảng, chùa Phật Tích, chùa Keo, đền Trần,…
(5) Như Nhà hát lớn, Tháp Rùa, cầu Long Biên, Tràng An, Hoa Lư, Tam Cốc Bích Động, biển Đồng Châu, vườn quốc gia Tam Đảo, động Phúc Long, Côn Sơn, Phố Hiến, Tháp Phổ Minh, cảng Hải Phòng,…
(6) Như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng mỹ thuật, Bảo tàng Nam Định, Bảo tàng đồng quê, Khu lưu niệm Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Trường Chinh, bộ sưu tập cổ vật An Biên ở Hải Phòng, bộ sưu tập xe cổ, đồng hồ cổ, tiền cổ, tranh, tượng,…
(7) Như các làng gốm như Bát Tràng, Phù Lãng, Thổ Hà, Chu Đậu, các làng đúc đồng như Ngũ Xã, Đại Bái, Tống Xá, Lộng Thượng, Mỹ Đồng, các làng đồ gỗ như Đồng Kỵ, Liên Hà, Hải Minh, La Xuyên, làng nghề rối nước như Đào Thục, Tràng Sơn, Ra, Rạch, Đống
(8) Đó là làng cổ Đường Lâm, Cự Đà, Đông Ngạc (Hà Nội), làng Tam Sơn, Đình Bảng, Phù Lưu (Bắc Ninh), làng Dịch Diệp (Nam Định), làng Nôm (Hưng Yên), làng Cố Viên Lầu (Ninh Bình), làng An Cố (Thái Bình), làng Cổ Am, Việt Hải (Hải Phòng), làng Mộ Trạch, Thượng Cốc (Hải Dương),…
(9) Như Lễ hội đền Hùng, Lễ hội chùa Hương, Lễ hội đền Trần, Lễ hội Lim, lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc, Lễ hội Phủ Giày, Lễ hội chọi trâu, Lễ hội đền Gióng, Lễ hội chùa Keo
(10) Như Lễ hội hoa phượng đỏ Hải Phòng, Lễ hội đường phố Festival Ninh Bình, Festival Về miền Quan họ, Lễ hội áo dài,…
(11) Như chèo Thái Bình, quan họ Bắc Ninh, hát văn Nam Định, hát đúm Hải Phòng, hát trống quân Hưng Yên, hát xẩm Ninh Bình,…
(12) Shepherd, R: “A green and sumptuous garden: Authenticity, Hybridity, and the Bali Tourism Project” (tạm dịch: Một khu vườn xanh tươi và tráng lệ: Tính chân thực, sự kết hợp và dự án du lịch Bali), South East Asia Research, 10, 1, pp. 63-97, 2002
(13) Craik: “Culture of Tourism” (tạm dịch: Văn hóa du lịch), trong Touring Culture, Rojek Chris and John Urry, London and New York: Routledge, tr. 121, 1997
(14) Cát Tường: Du lịch vùng đồng bằng sông Hồng đặt mục tiêu thu về 276.000 tỉ đồng/năm, Báo Lao động, ngày 12-7-2022, https://laodong.vn/xa-hoi/du-lich-vung-dong-bang-song-hong-dat-muc-tieu-thu-ve-276000-ti-dongnam-1067270.ldo
Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người  (04/03/2026)
Huyện Bình Liêu: Tích cực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc  (03/01/2026)
Phát huy giá trị chữ viết các dân tộc thiểu số trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay - nhìn từ thực tiễn Đắk Lắk  (28/12/2025)
- Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị
- Quan điểm của đồng chí Hà Huy Tập về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng
- Tính bao trùm của ASEAN trong bối cảnh khu vực thay đổi sâu sắc: Cơ hội, thách thức và hàm ý cho Việt Nam
- Vai trò của quan hệ công chúng trong xây dựng hình ảnh quốc gia và nâng cao hiệu quả đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW
- Nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí sau sáp nhập
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm