Làm rõ hơn những giải pháp khả thi, khâu đột phá để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong nhân dân
TCCS - Giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong nhân dân là công việc trọng đại đối với mọi thời đại và mỗi quốc gia. Tuy mỗi quốc gia có những phương sách và bước đi khác nhau, nhưng có một điểm chung là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất. Qua gần 30 năm đổi mới, chúng ta sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm để tạo bước đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất xã hội nhằm thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” mà một số quốc gia đã mắc phải.
Để bảo đảm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 do Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định rõ ba khâu đột phá là “(1). Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. (2). Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. (3). Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn”(1).
Ngay từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đã đặt ra mục tiêu phấn đấu “đến năm 2010 cơ bản hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ở nước ta. Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải đồng thời trên cả ba nội dung: Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Cùng với phát triển mạnh thị trường hàng hóa, dịch vụ và thị trường sức lao động, cần phát triển vững chắc thị trường tài chính, bất động sản, phát triển thị trường khoa học và công nghệ...; Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nghĩa là phải phát triển nhanh lực lượng sản xuất xã hội của đất nước, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất xã hội phù hợp.
Trong quá trình đổi mới, lực lượng sản xuất xã hội của nước ta đã có bước phát triển nhanh, với những chính sách, cơ chế mới tạo bước đột phát trong phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất và mở rộng thị trường, đưa đất nước đứng vào hàng các nước có thu nhập trung bình. Song muốn thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, theo tôi, phải phát huy cao độ sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong nhân dân hiện nay còn rất lớn. Tôi chỉ xin nêu vấn đề về hai yếu tố quan trọng, quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất và một số khía cạnh của quan hệ sản xuất hiện nay:
Hai yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất trong xã hội hiện nay
1- Yếu tố khoa học - công nghệ
Hiện nay, yếu tố này đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, bộ phận hàng đầu của lực lượng sản xuất. Khoa học - công nghệ quyết định tăng năng suất lao động xã hội, mà mức năng suất lao động xã hội là tiêu chí quan trọng nhất đánh giá sự tiến bộ xã hội.
Nhiều nước, kể cả một số nước xung quanh ta, nhờ phát triển khoa học - công nghệ mạnh mẽ, dám đầu tư cho lĩnh vực này mà đã đạt thành quả cao trong việc xây dựng, phát triển kinh tế, đã chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang phát triển nền kinh tế tri thức. Chủ trương “đi tắt đón đầu” là chủ trương rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển kinh tế và chúng ta có điều kiện để làm điều đó, nhất là trong khoa học - công nghệ, nhưng trong quá trình thực hiện lại rất nhiều bất cập:
- Chúng ta chưa chú trọng thực hiện việc “đi tắt đón đầu” trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, chưa mạnh dạn đầu tư cho khoa học, công nghệ. Kinh nghiệm các nước cho thấy: Muốn kinh tế phát triển phải tập trung đầu tư cho khu vực nghiên cứu triển khai khoa học - công nghệ. Song ở nước ta đến nay, việc ra đời khu vực này vẫn còn hết sức khó khăn, mặc dù một số viện nghiên cứu của các bộ, ngành có được đầu tư nâng cấp và có phát huy tác dụng, song chúng ta thiếu những nghiên cứu cơ bản tầm quốc gia mà nhờ có những nghiên cứu đó mới tăng được năng suất lao động xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển nhanh và vững chắc. Chúng ta đã nhìn thấy điều đó, nhưng tại sao không làm được?
- Ở một số địa phương, ngành vì lợi ích cá nhân hay “lợi ích nhóm” đã tiếp nhận, nhập khẩu công nghệ lạc hậu từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước, làm cho năng suất lao động đã thấp lại tiêu phí nhiều năng lượng, làm thất thoát nguồn vốn của Nhà nước (Vụ án Vinalines là một điển hình). Có nơi tuy có nhiều năng động trong phát triển kinh tế, nhưng hiện nay vẫn có 60% số doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu của những năm 70 thế kỷ trước; một số nơi nhập khẩu công nghệ, thiết bị hiện đại, tiên tiến nhưng lại chưa có người đủ trình độ, kỹ thuật tương ứng để vận hành, dẫn đến lãng phí vốn đầu tư. Năng suất lao động của nước ta những năm gần đây luôn giảm tương đối so với ngay các nước trong khu vực Đông Nam Á. Do đó mà chúng ta đang tụt hậu xa hơn họ nhiều.
- Chúng ta chưa thực sự tập trung cho yếu tố khoa học - công nghệ ở tất cả các lĩnh vực, chưa có nhiều cơ chế để phát huy tính sáng tạo của con người, mà sự sáng tạo trong lao động sản xuất hiện nay mới ở mức độ nhỏ lẻ, chưa có sức tác động lớn đến tăng năng suất lao động xã hội. Trong nông nghiệp, do yếu tố công nghệ sinh học được áp dụng mà năng suất, chất lượng, hiệu quả thể hiện rõ. Hoặc trong lĩnh vực y học, vai trò của khoa học - công nghệ cũng được đề cao và có kết quả tốt. Song đứng trên phạm vi toàn xã hội thì việc nghiên cứu, triển khai, áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế của chúng ta chậm phát triển, trong khi chúng ta có thể phát huy yếu tố này.
2- Yếu tố con người
Có rất nhiều vấn đề liên quan đến yếu tố này. Tôi chỉ xin nêu một vấn đề về đào tạo, sử dụng người lao động.
Trong lực lượng sản xuất, con người luôn là yếu tố động nhất, cách mạng nhất. Cùng với sức lao động, chủ yếu là trình độ, kỹ năng tay nghề kết hợp với trình độ hiện đại của các công cụ lao động (máy móc, thiết bị,...) mà tạo nên năng suất lao động cao. Cũng phải nói rằng, chúng ta đã có bước tiến nhất định trong việc phát triển khoa học - công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều đó đã đem đến cho đất nước đạt nhiều thành quả trong phát triển kinh tế - xã hội. Song thực tế cho thấy, lao động ở nước ta hiện trình độ, kỹ năng còn rất hạn chế, kỷ luật lao động yếu, chưa có tác phong lao động công nghiệp, chúng ta thực sự đang thiếu những thợ lành nghề, có hiểu biết,... Số lượng lao động trong sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, lại chưa qua đào tạo. Lao động trong công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển. Trong khi đó một lượng lao động không nhỏ được đào tạo ở các trường đại học thì không có việc làm phù hợp hoặc không xin được việc làm. Tình trạng dư thừa 72.000 thạc sĩ và cử nhân, như báo chí mới đây cho hay, làm chúng ta phải suy nghĩ đến việc lãng phí trong đào tạo, sử dụng yếu tố động nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất. Trong khi chúng ta cũng đã dành sự quan tâm lớn cho vấn đề đào tạo, trong đó có đào tạo nghề thông qua các chương trình mục tiêu, mở rộng mạng lưới các trường thì hiệu quả lại chưa đáp ứng. Như vậy, các yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện nay còn lạc hậu, yếu kém. Do đó, năng suất lao động của chúng ta thấp, sự tụt hậu ngày càng xa là có lý do xác đáng.
Một số khía cạnh của quan hệ sản xuất
- Đã đến lúc chúng ta phải có tư duy mới về quan hệ sản xuất xã hội. Vào những năm 1984 - 1986 chúng ta đã có những đột phá về nhận thức lại chủ nghĩa xã hội làm tiền đề cho đổi mới tư duy kinh tế và là cơ sở khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng. Hiện nay cơ sở hạ tầng và cách thức sản xuất ra của cải vật chất đã khác trước rất nhiều nên cần phải có nhận thức lại về quan hệ sản xuất xã hội, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất. Chúng ta đã nhận thức nền kinh tế thị trường là một sản phẩm và phương thức sản xuất tiến bộ của xã hội loài người tính đến thời điểm này và đang phấn đấu để các quốc gia công nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường. Do vậy, cần nhận thức và thực hiện đúng các quy luật của quan hệ sản xuất xã hội trong nền kinh tế thị trường (quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật phân phối,...), để người chủ tư liệu sản xuất bù đắp đủ chi phí sản xuất và có một phần giá trị thặng dư, mở rộng tái sản xuất xã hội mới khuyến khích được sản xuất phát triển bền vững, từ đó mà phát triển mạnh lực lượng sản xuất xã hội. Nhà nước cần chú trọng hơn nữa vào quá trình phân phối lại thông qua chính sách thuế và phí. Chính quá trình phân phối lại mới là bản chất ưu việt của một chế độ. Các nước Bắc Âu (Đan Mạch, Thuỵ Điển, Na Uy) và Nhật Bản đã thực hiện rất tốt quá trình phân phối lại, sử dụng nó làm một công cụ điều tiết để thực hiện các chính sách phúc lợi, an sinh xã hội và tác động vào tầng lớp trung lưu phát triển (tầng lớp chiếm số đông nhất trong xã hội nước đó). Vì đây chính là tầng lớp thúc đẩy xã hội phát triển.
- Ở nước ta hiện nay cần có nghiên cứu sâu thực tế đang diễn ra về sự phân hóa trong xã hội để có hiểu biết rõ ràng về sự phân tầng xã hội, từ đó xác định tầng xã hội nào là yếu tố quyết định đến sự phát triển của xã hội thì có các cơ chế tác động phù hợp. Dường như ở nước ta, người nông dân và người lao động làm công ăn lương chiếm số đông nhất, nhưng các cơ chế, chính sách lại chưa tác động đúng mức vào tầng lớp này nhằm phát huy tốt nhất mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong nhân dân. Thực hiện các chính sách dành cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn vừa qua đã làm cho bộ mặt nông thôn khởi sắc, đời sống nông dân được nâng lên nhiều so với trước, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu do nguồn vốn đầu tư dàn trải, vốn đã ít lại được chia ra nhiều chương trình mục tiêu, trùng chéo (chương trình đào tạo nghề có nhiều đầu mối đảm nhiệm), cách quản lý nguồn vốn, cơ chế giải ngân,... khiến người đảm nhiệm chương trình ở nhiều nơi làm qua loa, cốt là để giải ngân xong cho hoàn thành chương trình, việc dạy nghề cũng không xuất phát từ nhu cầu của nông dân nên dẫn đến tiền dạy nghề không ít nơi thì tiêu hết, nghề vẫn không ra nghề hoặc học xong mà không hành nghề được, gây lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội, đặc biệt là lực lượng lao động ở nông thôn - yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất nông nghiệp không có trình độ nghề nghiệp tốt. Hoặc việc người dân tiếp cận nguồn vốn cũng rất khó khăn, số lượng vốn được vay lại không nhiều, khó có thể đầu tư mở rộng sản xuất. Hoặc hiện nay, ở nước ta doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm phần lớn tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động trong các doanh nghiệp, làm ra khoảng 50% hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu, đóng góp khoảng 20% tổng thu ngân sách nhà nước, đặc biệt còn đóng góp tích cực vào việc ổn định xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa có Luật Doanh nghiệp vừa và nhỏ, thực tế khu vực doanh nghiệp này vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận các nguồn lực (vốn, đất đai). Trong khi đó, một số chính sách dường như lại chỉ nhằm tác động vào tầng lớp “giàu” chiếm rất ít ở nước ta hiện nay, như giảm thuế, khoanh nợ, giãn nợ, vay vốn của các tập đoàn, hay “giải cứu” thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán...
- Cần đổi mới tư duy về quan hệ sản xuất xã hội ở nước ta - quan hệ sản xuất xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chứ chưa phải là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đó là quan hệ sản xuất xã hội của nền kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người sở hữu tư liệu sản xuất và đối tượng sản xuất chủ yếu phải là người quyết định quá trình sản xuất và phân phối lần đầu. Người chủ sở hữu phải có quyền định đoạt tài sản của mình. Đất đai thuộc sở hữu nhà nước, song Nhà nước lại chưa có thực quyền định đoạt trên thực tế dẫn đến việc thu hồi, giải phóng mặt bằng luôn tạo ra khiếu kiện đông người và có nơi là mảnh đất màu mỡ cho “lợi ích nhóm”, làm giàu cho một số cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương thông qua việc cấp đất cho các dự án. Thực tế, chúng ta chưa phân định rõ quyền sở hữu với hình thức sở hữu, giữa quyền sở hữu với quyền sử dụng ngay trong phân định các thành phần kinh tế.
- Chúng ta cũng phải nhìn nhận, đánh giá lại quan hệ về tổ chức - quản lý thông qua hệ thống cơ chế, chính sách và quan hệ phân phối thời gian qua, phân tích một cách thấu đáo vì nếu không sẽ dẫn tới mâu thuẫn xã hội do phân phối không công bằng, do độc quyền, hách dịch trong quản lý,... gây nên những bức xúc trong nhân dân dẫn đến niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước bị giảm sút nhiều. Đây là những vấn đề lý luận rất cơ bản cần phải được mổ xẻ thông qua thực tiễn gần 30 năm đổi mới để có cái nhìn chính xác hơn về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong giai đoạn mới. Đây là những yếu tố cơ bản để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực trong xã hội trong thời gian tới. Chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp, ngược lại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Các yếu tố làm giảm sút niềm tin của nhân dân, gây bức xúc trong xã hội cũng là những tác nhân kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển.
Một bài học rất quý báu đối với nước ta là nhờ cơ chế, chính sách đột phá về khoán và giao quyền tự chủ cho nông dân đã tạo động lực đưa nước ta từ chỗ thiếu lương thực triền miên đến chỗ bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới. Nhưng khi bước vào nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, tuy Đảng đã đề ra Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhưng do chưa chú trọng cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành cơ chế, chính sách tác động đúng mức đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn nên chúng ta lại đang đứng trước những khó khăn rất lớn về giá thành sản phẩm nông nghiệp cao (mà thực chất là năng suất lao động thấp), sản phẩm khó tiêu thụ, thậm chí có những sản phẩm càng sản xuất nhiều càng lỗ nhiều, làm cho mức sống của nông dân giảm tương đối so với các tầng lớp khác. Để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp (cả sản phẩm trồng trọt, lâm nghiệp, thủy, hải sản) cần phải có động lực mới đối với khu vực này và từ bài học trong nông nghiệp chúng ta có thể áp dụng cho các lĩnh vực khác bằng việc “cởi trói”, giao quyền tự chủ nhiều hơn cho người lao động.
Từ một số nét về thực trạng xã hội hiện nay của nước ta, để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất theo hướng giải quyết tốt hơn các mâu thuẫn hiện có (đây là việc khó song cần tháo gỡ dần), cần tập trung vào một số vấn đề sau:
Một là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng định hướng, nhưng không bao biện làm thay hay “lấn sân” hoặc ngược lại, buông lỏng lãnh đạo. Tập trung vào lãnh đạo để tăng tính khoa học và tính thực tiễn của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các kế hoạch trung và dài hạn, các nghị quyết của Đảng về kinh tế; kịp thời chỉ đạo Quốc hội, Chính phủ cụ thể hoá thành các luật, chính sách cụ thể về kinh tế. Chú trọng đến công tác tổ chức, cán bộ trong điều hành và quản trị nền kinh tế; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí để lấy lại niềm tin của nhân dân. Ở nước ta, Đảng thống nhất công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ nên những yếu kém và suy thoái, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trách nhiệm lớn thuộc về các cấp ủy đảng. Chính sự yếu kém trong công tác cán bộ và sự suy thoái, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không chỉ cản trở quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội mà còn làm “méo mó” quan hệ sản xuất và mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, phải tiếp tục và tăng cường thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cũng chính là nhằm phát triển và giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất xã hội.
Hai là, tập trung tổng kết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong gần 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới.
Ba là, thấm nhuần vị trí, vai trò của khoa học - công nghệ, phát triển mạnh khoa học - công nghệ, làm cho khoa học - công nghệ thực sự là động lực của sự phát triển. Sớm triển khai xây dựng khu công nghệ cao mà hàng chục năm nay chúng ta đã có kế hoạch. Thực hiện tốt chính sách “đi tắt đón đầu”, cần chú trọng ưu tiên việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ đã được thế giới thừa nhận và trở thành lực lượng sản xuất xã hội trực tiếp mang lại năng suất lao động cao; khuyến khích các doanh nghiệp thành lập các quỹ ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ, có sự hỗ trợ của Nhà nước. Tập trung đổi mới hoạt động khoa học - công nghệ theo hướng gắn kết quả nghiên cứu với địa chỉ ứng dụng mà chúng ta đã nêu từ chục năm nay. Đặc biệt, cần đổi mới cơ chế quản lý khoa học - công nghệ, trao quyền tự chủ và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng đối với các chương trình, đề tài, đề án để các nhà khoa học dành thời gian tập trung cho công tác nghiên cứu. Thực tế hiện nay, nhiều chủ nhiệm đề tài, đề án cho rằng trong công tác nghiên cứu khoa học, khó khăn nhất là phần thanh, quyết toán kinh phí, dẫn đến nhiều nhà khoa học có tên tuổi không muốn đứng ra làm chủ nhiệm các đề tài, đề án khoa học vì có quá nhiều thủ tục rườm rà, phiền phức trong thanh, quyết toán. Như vậy, cũng kìm hãm sức sáng tạo của các nhà nghiên cứu, chưa kể đến chính sách cũng còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, hoàn thiện.
Bốn là, phát triển mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao, quan tâm đúng mức xây dựng đội ngũ trí thức. Tập trung vào đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo để giáo dục - đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu. Đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển lâu dài và bền vững. Giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định đến xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Vấn đề này không mới nhưng ta chưa làm được nhiều. Thu gọn các chương trình mục tiêu để tập trung nguồn vốn đầu tư cho giáo dục - đào tạo nghề nhằm tạo ra những thợ lành nghề, có trình độ chuyên môn cao. Cần tổng kết để khắc phục tình trạng bất hợp lý, mất cân đối trong đào tạo ngành, nghề hiện nay. Cần nghiên cứu kỹ những tư tưởng của Bác Hồ về đào tạo và trọng dụng nhân tài. Từ năm 1946, Bác đã ra lời kêu gọi “Diệt giặc dốt”, vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
Năm là, tái cơ cấu nền kinh tế, trước mắt là tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước. Việc tái cơ cấu nền kinh tế phải có cách nghĩ, cách nhìn và cách làm mới, đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, trao quyền tự chủ cho người lao động nhằm phát huy cao độ mọi khả năng và nguồn lực cũng như sức sáng tạo của người lao động.
- Trong công nghiệp, trước đây trong điều kiện ngoại thương không phát triển (đóng cửa biên giới), để quốc gia phát triển, cần tuân theo quy luật: khu vực I (sản xuất máy móc - tư liệu sản xuất) phải phát triển nhanh hơn khu vực II (sản xuất tư liệu tiêu dùng). Nhưng ngày nay nước ta đã có quan hệ ngoại thương và đối ngoại với hầu hết các nước và khu vực, thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và nhiều tổ chức khác, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, do vậy việc cơ cấu lại cần tập trung vào những ngành, những khâu mà nước ta có lợi thế so sánh. Cần chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ và năng lượng, kết cấu hạ tầng giao thông mà không nên cứ nhất thiết phải ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Đối với những ngành công nghiệp nặng đòi hỏi vốn lớn và công nghệ tiên tiến, nhất là ngành hóa dầu, nên thực hiện liên doanh với nước ngoài.
- Trong nông nghiệp, trước mắt Nhà nước cần tập trung tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, có chính sách giải quyết những khó khăn về vốn, thị trường cho nông dân, tăng cường thông tin thị trường, gắn quy hoạch sản xuất nông nghiệp với thị trường tiêu thụ, gắn kết doanh nghiệp (hoặc hợp tác xã dịch vụ) - nông dân - nhà khoa học theo hướng sản xuất hàng hóa lớn một cách chặt chẽ và có cơ chế cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm làm ra, cần nghiên cứu những mô hình tốt thời gian qua để nhân rộng với sự hỗ trợ của Nhà nước; có chính sách, cơ chế phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại. Sản phẩm nông nghiệp chịu nhiều rủi ro bất khả kháng, như thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh, nên cần có quỹ phòng, chống rủi ro trong nông nghiệp. Nhà nước phải đóng vai trò quyết định trong ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây, con có năng suất, chất lượng sản phẩm cao, phù hợp với thị hiếu và nhu cầu tiêu dùng. Khắc phục tình trạng tâm lý tiểu nông thấy đắt thì trồng, thì nuôi, thấy rẻ thì phá và chuyển trồng cây, nuôi con khác, thậm chí bị các thương lái lừa vì thiếu thông tin. Nông dân là tầng lớp đông nhất ở nước ta hiện nay, do vậy, các chính sách của Nhà nước cần tập trung vào tầng lớp này - đây là mục tiêu và bản chất của chế độ ta và cũng để phát huy mọi nguồn lực trong nhân dân.
- Cải cách hành chính, hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước. Cải cách hành chính thực chất là đổi mới và xây dựng quan hệ giữa cơ quan nhà nước với các chủ thể khác và người dân, tạo môi trường thuận tiện và thông thoáng trong các quan hệ dân sự, tạo điều kiện phát triển sức sản xuất xã hội, rút ngắn các thủ tục hành chính chính là tiết kiệm thời gian lao động xã hội. Trong những năm gần đây, Chính phủ đã nỗ lực thực hiện cải cách hành chính và mang lại kết quả tích cực. Người dân và doanh nghiệp được tạo thuận lợi hơn trong tiếp xúc, giải quyết công việc với cơ quan hành chính. Tính minh bạch, công khai của nền hành chính được nâng lên nhưng cải cách hành chính vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Những tồn tại, yếu kém trong xây dựng thể chế, việc chậm trễ trong thực thi các văn bản luật đã ban hành, thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức đang cản trở hoạt động của người dân và doanh nghiệp - cản trở sức sản xuất xã hội. Cải cách hệ thống ngân hàng, giải quyết dứt điểm nợ xấu; tính đến lợi ích của người gửi tiền để huy động nguồn tiền nhàn rỗi và nguồn vàng, ngoại tệ cất trữ trong nhân dân vào đầu tư phát triển. Trước mắt, cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, trong đó có cả ngân hàng, nhất là các tập đoàn, tổng công ty theo đúng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất. Tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, cạnh tranh bình đẳng, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp (những mặt hàng quan trọng thiết yếu nếu có độc quyền thì Nhà nước giữ độc quyền).
Sáu là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới. Đây chính là sức mạnh mềm mà không phải quốc gia nào cũng có. Thời đại hiện nay, đây là sức mạnh mang lại chiến thắng cho các quốc gia. Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã phát huy được lòng yêu nước và đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh vô địch. Nhưng trong điều kiện thời bình và kinh tế thị trường, để phát huy lòng yêu nước và đại đoàn kết phải tính đến lợi ích mới phát huy được mọi nguồn lực, trong đó có nguồn lực trong nhân dân (cần nghiên cứu mô hình của xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội). Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường việc nhận thức và phân biệt rành mạch giữa chủ nghĩa cá nhân với lợi ích cá nhân là vấn đề rất quan trọng. Chủ nghĩa cá nhân đều bị các chế độ xã hội lên án vì nó đẻ ra rất nhiều tiêu cực và tác hại; nhưng xét ở góc độ khác lợi ích cá nhân lại là động lực bên trong thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vì vậy trong các chính sách của Nhà nước cần phải chú ý đến lợi ích cá nhân. Chẳng hạn như thu hồi đất, giải phóng mặt bằng nếu tính toán đúng, hài hòa giữa lợi ích người dân - doanh nghiệp và Nhà nước, bảo đảm công bằng, khách quan thì sẽ không có khiếu kiện đông người./.
----------------------------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 32
Kỳ họp thứ 10 Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua nhiều nghị quyết quan trọng  (11/07/2014)
Kiểm toán Nhà nước kỷ niệm 20 năm thành lập và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì  (11/07/2014)
Triển lãm tranh cổ động về chủ quyền biển, đảo Việt Nam  (11/07/2014)
Nga chủ trương mở rộng hợp tác với các nước Mỹ Latinh  (11/07/2014)
Việt Nam hoan nghênh Nghị quyết 412 của Thượng viện Hoa Kỳ  (11/07/2014)
Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị quyết về Biển Đông  (11/07/2014)
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) - Doanh nghiệp nhà nước tiên phong xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm