Hạ tầng đồng bộ - phương thức then chốt tạo nền tảng phát triển bền vững ở Quảng Ninh
TCCS - Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư, chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và yêu cầu phát triển bền vững, hạ tầng đồng bộ đã và đang trở thành nhân tố quyết định để khai thác lợi thế vùng, tăng năng lực kết nối, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển lâu dài. Quảng Ninh - với vị trí cửa ngõ ven biển phía Bắc, hệ cảng biển lớn, sân bay quốc tế và các tuyến cao tốc - là một ví dụ sinh động cho thấy hạ tầng đồng bộ đóng vai trò nền tảng trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Phát triển đồng bộ giữa hạ tầng “cứng” và hạ tầng “mềm”
Trên nền tảng định hướng phát triển nhanh và bền vững, Quảng Ninh nhiều năm qua đã kiên trì lựa chọn hạ tầng đồng bộ như trục xuyên suốt để mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
Thứ nhất, cao tốc và hệ thống đường bộ kết nối liên vùng tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái (và các nút giao liên kết) tạo hành lang vận tải quan trọng, rút ngắn thời gian di chuyển, kết nối ba khu kinh tế ven biển và khu cửa khẩu Móng Cái. Hệ thống đường bộ mở rộng cũng làm tăng sức cạnh tranh của Quảng Ninh trong thu hút đầu tư công nghiệp và logistics.
Thứ hai, cảng biển - trục xuất nhập khẩu lớn Cảng Cái Lân, Ao Tiên và hệ thống cảng ven biển đã được nâng cấp để tăng năng lực bốc xếp container và hàng rời. Năng lực cảng lớn giúp Quảng Ninh trở thành trung tâm logistics của vùng Bắc Bộ và một mắt xích trong chuỗi vận tải biển quốc tế.
Thứ ba, sân bay quốc tế Vân Đồn là nhân tố quyết định mở cửa kết nối hàng không cho Quảng Ninh, hỗ trợ du lịch quốc tế và các chuyến công vụ, xúc tiến thương mại. Sân bay còn thúc đẩy phát triển khu kinh tế Vân Đồn - một không gian thử nghiệm cho du lịch cao cấp và kinh doanh dịch vụ.
Thứ tư, hạ tầng số và thủ tục hành chính một cửa. Để phát huy hiệu quả hạ tầng cứng, Quảng Ninh đã cải cách thủ tục hành chính, áp dụng nền tảng số trong quản lý cảng, cấp phép đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Sự đồng bộ giữa hạ tầng cứng (giao thông, cảng, sân bay) và hạ tầng mềm (quy trình, quản lý, dữ liệu) tạo nên môi trường đầu tư thông minh hơn.
Phương thức then chốt đối với phát triển bền vững của Quảng Ninh
Nhìn lại chặng đường hơn một thập niên, có thể thấy rõ, mỗi bước tiến về kinh tế - xã hội của tỉnh đều gắn liền với bước đi mạnh mẽ trong quy hoạch, kết nối giao thông, phát triển hạ tầng đô thị với các dự án hạ tầng tiêu biểu.
Một là, tăng năng lực kết nối, giảm chi phí giao thương, thúc đẩy chuỗi giá trị. Hạ tầng giao thông đồng bộ rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics và tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường. Cảng biển, cảng hàng không và cao tốc nối vùng cho phép Quảng Ninh tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng nội địa và quốc tế, tạo thuận lợi cho xuất nhập khẩu, dịch vụ logistics và dịch vụ cảng biển. Việc cảng biển Quảng Ninh đạt sản lượng kỷ lục trong những năm gần đây, năm 2024, các cảng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đón hơn 161.000 lượt phương tiện tàu các loại, sản lượng hàng hóa đạt kỷ lục cao nhất trong nhiều năm qua với gần 150 triệu tấn(1) là minh chứng trực tiếp cho năng lực kết nối hàng hóa. Sự phát triển cảng biển hỗ trợ mạnh cho xuất nhập khẩu, logistics và liên kết vùng.
Hai là, thu hút đầu tư chất lượng cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhà đầu tư lớn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp nhẹ, logistics, du lịch nghỉ dưỡng cao cấp và công nghệ, thường ưu tiên địa bàn có hạ tầng hoàn chỉnh. Hạ tầng tốt giúp Quảng Ninh chuyển dịch từ nền kinh tế phụ thuộc than sang nền kinh tế đa ngành với trọng tâm là du lịch, dịch vụ cảng biển, logistics và sản xuất sạch hơn. Kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP 9 tháng năm 2025 ước tăng 11,66%, vượt xa mức tăng 8 - 10% của các năm trước phản ánh hiệu quả trong thu hút và triển khai đầu tư.
Ba là, nâng cao chất lượng du lịch bền vững sân bay Vân Đồn, kết nối đường bộ và cảng biển giúp Quảng Ninh trở thành điểm đến hấp dẫn, giảm tải cho các trục du lịch truyền thống(2) và gia tăng khả năng đón du khách quốc tế. Trong năm 2024, Vân Đồn đã đón trên 1,8 triệu lượt khách, đạt 100% so với kế hoạch năm, tăng 40% so với cùng kỳ năm 2023; trong đó khách quốc tế tăng gần gấp đôi, khách nội địa tăng 38%. Doanh thu dịch vụ du lịch năm 2024 ước đạt 2.831 tỷ đồng, đạt 100% so với kế hoạch năm và tăng 43% so với cùng kỳ năm 2023. Lượng khách đến Vân Đồn năm 2024 cho thấy, hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng du lịch. Tuy nhiên, phát triển du lịch bền vững còn đòi hỏi quản lý môi trường, quy hoạch điểm đến và bảo tồn cảnh quan thiên nhiên (nhất là vịnh Hạ Long).
Bốn là, tạo việc làm, nâng cao chất lượng sống và an ninh năng lượng. Hạ tầng công nghiệp, cảng, logistics và dịch vụ kéo theo nhu cầu lao động tại địa phương, góp phần tạo việc làm và thu nhập ổn định. Đồng thời, hạ tầng hiện đại (đường, cầu, cảng) tạo điều kiện thuận lợi cho cung cấp dịch vụ công, cứu hộ, y tế và an ninh. Mặt khác, chuyển dịch sang các ngành ít ô nhiễm hơn (du lịch, logistics) nếu được quản lý tốt sẽ góp phần bảo vệ môi trường - một tiêu chí then chốt của phát triển bền vững.
Tiếp tục triển khai những bước đi chiến lược
Các số liệu được đề cập ở trên cho thấy Quảng Ninh có sự phục hồi mạnh mẽ và tăng trưởng, minh chứng mối quan hệ trực tiếp giữa hạ tầng đồng bộ và kết quả kinh tế - xã hội. Những số liệu đó mở ra cơ hội thu hút thêm đầu tư FDI, phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực cho Quảng Ninh.
Tuy nhiên, cần lưu ý, tăng trưởng nhanh nếu không tính tới chuẩn mực bền vững có thể tạo áp lực lớn lên môi trường (ô nhiễm, quá tải hạ tầng đô thị), do đó phải đồng bộ hạ tầng xanh, quản lý quy hoạch chặt chẽ. Sự gia tăng cảng biển, du lịch ồ ạt và xây dựng có thể gây ảnh hưởng đến vùng vịnh (đặc biệt vịnh Hạ Long và Bái Tử Long), hệ sinh thái ven biển, đa dạng sinh học và tài nguyên nước. Vì vậy, bảo vệ di sản thiên nhiên đòi hỏi tiêu chí môi trường đi trước, không thể hy sinh cảnh quan vì phát triển ngắn hạn. Bên cạnh đó, tốc độ tăng dân số cơ học do dịch chuyển lao động và tăng khách du lịch tạo áp lực lên hạ tầng đô thị: giao thông nội đô, xử lý rác thải, cấp nước, y tế, giáo dục. Nếu phát triển hạ tầng đô thị không theo kịp, chất lượng sống người dân có thể giảm.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Quảng Ninh xác định tập trung nguồn lực hoàn thành hàng loạt công trình, dự án trọng điểm mang tính kết nối chiến lược. Ở lĩnh vực hạ tầng khu kinh tế và khu công nghiệp, Quảng Ninh đặt mục tiêu phát triển đồng bộ, hiện đại, hướng tới các mô hình sản xuất sạch, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy cộng sinh công nghiệp - dịch vụ. Về hạ tầng cảng biển và dịch vụ cảng biển, Quảng Ninh tiếp tục phát triển mạnh khoa học - công nghệ phục vụ kinh tế biển, đầu tư các cảng biển nước sâu, âu tàu du lịch đẳng cấp quốc tế gắn với phát triển chuỗi khu kinh tế đô thị ven biển. Trong lĩnh vực phát triển đô thị, Quảng Ninh hướng đến mô hình đô thị thông minh, sinh thái, văn minh, thích ứng biến đổi khí hậu, lấy vịnh Cửa Lục làm trung tâm kết nối, mở rộng không gian đô thị theo mô hình đa cực(3).
Có thể nói, hạ tầng đồng bộ chính là phương thức then chốt để Quảng Ninh xây dựng nền tảng phát triển bền vững: tăng năng lực kết nối, thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng đời sống. Thực tế cho thấy, nhờ đầu tư có trọng tâm vào cảng biển, sân bay và mạng lưới giao thông, Quảng Ninh đã đạt được những kết quả kinh tế đáng kể với GRDP tăng trưởng ấn tượng trong các quý gần đây và sản lượng hàng hóa cảng đạt kỷ lục.
Song, để biến lợi thế hạ tầng thành phát triển bền vững cần có chiến lược tích hợp: quy hoạch đồng bộ, ưu tiên hạ tầng xanh, cơ chế tài chính minh bạch, năng lực quản trị nâng cao và liên kết vùng. Nếu Quảng Ninh tiếp tục triển khai những bước đi chiến lược nêu trên, đặc biệt là kết hợp phát triển hạ tầng “cứng” với hạ tầng “mềm” và đặt tiêu chí bền vững lên trước thì tỉnh sẽ không chỉ là một trung tâm logistics, cảng biển và du lịch của khu vực mà còn là mô hình phát triển bền vững, cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn giá trị thiên nhiên, văn hóa./.
---------------------------
(1) Xem: Nguyễn Sơn, Sản lượng hàng hóa đầu năm tại các cảng biển Quảng Ninh đạt gần 15 triệu tấn, ngày 14-2-2025, https://tapchidongnama.vn/san-luong-hang-hoa-dau-nam-tai-cac-cang-bien-quang-ninh-dat-gan-15-trieu-tan/
(2) Xem: Hoàng Quỳnh, Vân Đồn: Tạo hấp dẫn thu hút khách du lịch 4 mùa, ngày 24-12-2024, https://baoquangninh.vn/van-don-tao-hap-dan-thu-hut-khach-du-lich-4-mua-3336004.html
(3) Xem: Ngọc Mai, Quảng Ninh tiếp tục phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, ngày 23-10-2025, https://laodong.vn/xa-hoi/quang-ninh-tiep-tuc-phat-trien-ha-tang-dong-bo-hien-dai-1596526.ldo
Tỉnh Quảng Ninh thúc đẩy mô hình tăng trưởng đa trục, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số  (03/12/2025)
Phát huy vai trò của truyền thông số gắn với mục tiêu xây dựng con người Quảng Ninh trong kỷ nguyên mới  (02/12/2025)
Quảng Ninh kiên định mục tiêu chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh”  (02/12/2025)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
- Truyền thông hình ảnh trong định hướng dư luận xã hội hiện nay
- Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
- Quan điểm công bằng, chất lượng, hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm