“Dân cần” - Một thành tố quan trọng trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay
TCCS - Nhận diện, lắng nghe, thấu hiểu và đáp ứng những nhu cầu chính đáng, hợp pháp, hợp đạo lý của nhân dân chính là thực hiện thành tố “Dân cần”. Chỉ khi những gì người dân cần được coi trọng và giải quyết thỏa đáng, các khâu còn lại của phương châm thực thi dân chủ mới thực sự phát huy hiệu quả và tránh rơi vào hình thức.
Trong tiến trình đổi mới đất nước, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được nêu ra từ Đại hội VI (năm 1986) và được bổ sung, hoàn thiện hơn thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(1) tại Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã trở thành nền tảng quan trọng trong việc phát huy dân chủ ở cơ sở. Sáu thành tố này phản ánh một cách toàn diện quá trình nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, từ khâu tiếp nhận thông tin, tham gia bàn bạc, tổ chức thực hiện, đến việc kiểm tra, giám sát và cuối cùng là được thụ hưởng thành quả. Đây chính là mô hình dân chủ xã hội chủ nghĩa được cụ thể hóa trong đời sống hằng ngày của người dân ở Việt Nam.
Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và đặc biệt là sự phát triển của xã hội số, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu mới. Dân chủ ở cơ sở không chỉ dừng lại ở việc “dân được biết, dân được bàn” hay “dân được thụ hưởng”, mà còn phải xuất phát từ “những gì nhân dân thật sự cần”. Điều đó gợi mở một thành tố nên bổ sung là “dân cần” vào phương châm nói trên.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của thành tố “Dân cần”
Thứ nhất, về cơ sở lý luận.
Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin nhấn mạnh rằng, phải nhất định thiết lập “nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(2), tức xác lập nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà ở đó quyền lực thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, dân chủ với tính cách là chế độ nhà nước được thể hiện ra như là “một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân”(3). Nhà nước dân chủ thực sự là nhà nước “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực, và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân. Chế độ nhà nước ở đây xuất hiện đúng chân tướng của nó, - tức là xuất hiện với tính cách là sản phẩm tự do của con người”(4).
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định rằng, quyền lực đó không thể thực chất nếu không bắt nguồn từ việc thỏa mãn lợi ích, nhu cầu của nhân dân. C. Mác nhấn mạnh: “Không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”(5). Và “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”(6). Vì thế, thành tố “Dân cần” không phải là sự thêm thắt tùy tiện, mà là một sự bổ sung mang tính lý luận, gắn chặt với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Cần phải xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước”(7). V.I. Lê-nin đã chỉ ra nguyên tắc cốt lõi trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: phải gắn liền với nhân dân, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sức sáng tạo và sự tham gia thực chất của nhân dân. Đây không chỉ là điều kiện bảo đảm cho sự vững mạnh của nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn là quy luật tất yếu để hiện thực hóa lý tưởng “Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước”. Nhà nước xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân” chỉ tồn tại và phát triển khi nhân dân được trực tiếp tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, từ việc bầu cử, giám sát, phản biện xã hội, cho đến tham gia vào các quyết sách phát triển. Theo đó, quần chúng không chỉ là đối tượng thụ hưởng dân chủ, mà còn là chủ thể sáng tạo. Mọi chính sách, mọi mô hình tổ chức nhà nước chỉ bền vững khi xuất phát từ trí tuệ và nhu cầu thực sự của nhân dân. Ở đây, thành tố “Dân cần” thực sự quan trọng và cần thiết để các quyết sách sẽ có tính đồng thuận, tính khả thi cao, hạn chế tình trạng quan liêu, xa dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ chính trị.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân là gốc của nước, làm nên mọi thắng lợi cách mạng Việt Nam. Người từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(8). Đặc biệt, lời dạy của Người dành cho đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết”(9) đã trở thành “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó có nghĩa là, dân chủ phải bắt đầu từ việc nhận biết và đáp ứng “những nhu cầu thiết thực của nhân dân”. Nếu dân cần cơm ăn, áo mặc, việc làm, học hành, chăm sóc sức khỏe, thì chính quyền phải có chính sách phù hợp để bảo đảm. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông”(10). “Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(11). Từ đó, Người yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên “Phải thật thà quan tâm đến đời sống của nhân dân, tin và dựa vào lực lượng, sáng kiến của nhân dân”(12).
Văn kiện Đại hội VI của Đảng cũng thẳng thắn chỉ rõ, một trong những khuyết điểm của đội ngũ cán bộ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sau khi nước nhà thống nhất là thiếu sự quan tâm đến nhu cầu của nhân dân; bởi vì, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức quyền… đã sống xa dân, không quan tâm giải quyết những vấn đề bức thiết do quần chúng đặt ra…”(13). Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội VI nhấn mạnh: “Phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân; tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu. Mỗi đảng viên cộng sản phải thật sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng”(14). Có hiểu được nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chúng ta mới có thể có những chính sách đúng đắn, đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của nhân dân; từ đó, Đảng với nhân dân mới đồng lòng, nhất trí thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới mà Đảng đã đề ra.
Gần 40 năm sau, dù đạt nhiều thành tựu và có nhiều chuyển biến tốt trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân, nhưng Đảng ta vẫn thẳng thắn thừa nhận: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu gương mẫu, chưa thực sự gần dân, tôn trọng dân, lắng nghe, kịp thời giải quyết những kiến nghị liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân”(15). Chính vì vậy, hiểu điều người dân cần là tiền đề, là cơ sở quan trọng cho mọi chính sách có thể đi vào cuộc sống một cách khả thi và hiệu quả và Đảng luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải gần dân, trọng dân, lắng nghe dân.
Thứ hai, về cơ sở thực tiễn.
Ở nhiều địa phương, mặc dù Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 được ban hành, nhưng có lúc, có nơi, việc xác định nhu cầu thật sự của nhân dân chưa được coi trọng. Có khi chính quyền đưa ra chủ trương, dự án mà thiếu sự khảo sát, tham vấn, dẫn đến “cái chính quyền làm” chưa khớp với “cái dân cần”. Ví dụ: người dân cần hạ tầng y tế cơ sở, nhưng ngân sách lại ưu tiên cho các công trình không cấp bách hoặc chưa thực sự cần thiết; người dân cần môi trường trong sạch, nhưng vẫn có những dự án được phê duyệt phát triển gây ô nhiễm môi trường sống; người dân cần trường học để giảm tải, học sinh không phải đi xa, nhưng thay vào đó vẫn có những dự án đô thị, cao ốc, khách sạn được triển khai; rất nhiều người dân cần nhà ở xã hội, đồng thời cũng cần chỗ ở ổn định, bảo đảm an toàn, vệ sinh, phù hợp túi tiền. Tuy nhiên, giá đất, giá nhà ở Việt Nam đang ở mức cao so với thế giới và quá cao so với thu nhập của người lao động. Việc thực hiện giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không theo quy hoạch mà chạy theo nhu cầu của nhà đầu tư; lợi dụng thẩm quyền để lập hoặc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng nhằm trục lợi của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền… Thực trạng trên đã ít nhiều làm suy giảm niềm tin và sự đồng thuận xã hội.
Năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân được Quốc hội ban hành (Luật số 96/2015/QH13, ngày 25-11-2015) có ý nghĩa rất quan trọng cả về phương diện chính trị, pháp lý và xã hội. Luật đã thể chế hóa Hiến pháp 2013 (Điều 29, Điều 120), bảo đảm cho nhân dân có cơ chế thực thi quyền làm chủ, không chỉ thông qua đại biểu, mà còn trực tiếp bằng lá phiếu. Đây là một hình thức dân chủ trực tiếp, cho phép nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong những vấn đề hệ trọng của đất nước, là bước phát triển mới trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Luật tạo điều kiện cho Nhà nước “lắng nghe” và “làm theo” tiếng nói của người dân một cách chính thức; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho việc huy động trí tuệ, ý chí và nguyện vọng của nhân dân, góp phần xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn những băn khoăn, trăn trở để làm sao Luật này thực sự đi vào cuộc sống.
Nội hàm của thành tố “Dân cần”
Như đã đề cập, “Dân cần” chính là việc nhận diện, lắng nghe, thấu hiểu và đáp ứng những nhu cầu chính đáng, hợp pháp, hợp đạo lý của nhân dân. “Dân cần” không chỉ dừng lại ở khía cạnh vật chất, mà bao hàm cả nhu cầu tinh thần, chính trị, xã hội. Có thể xem xét ở một số nội dung cụ thể sau:
Dân cần thông tin minh bạch. Trong xã hội hiện đại, người dân cần thông tin minh bạch, vì quyền được tiếp cận thông tin là một nhu cầu thiết yếu gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân. Khi nắm rõ các vấn đề liên quan đến quy hoạch, ngân sách hay dự án phát triển do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành, người dân mới có cơ sở để tham gia bàn bạc, đưa ra ý kiến đóng góp xác đáng và thực hiện quyền giám sát của mình đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Ngược lại, nếu thiếu thông tin hoặc thông tin bị che giấu, quyền dân chủ sẽ chỉ tồn tại trên hình thức, dễ dẫn đến lãng phí, thất thoát và thậm chí là tham nhũng. Minh bạch thông tin không chỉ giúp Nhà nước củng cố niềm tin xã hội, mà còn huy động được trí tuệ, sự đồng thuận và trách nhiệm của toàn dân trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
Dân cần được bảo đảm an sinh xã hội. Đây là nền tảng quan trọng nhất để bảo đảm quyền sống, quyền phát triển và quyền hạnh phúc của mỗi con người. Trong bất kỳ xã hội nào, các nhu cầu cơ bản, như chăm sóc y tế, tiếp cận giáo dục, có việc làm ổn định, được bảo đảm an ninh, trật tự và thụ hưởng các phúc lợi xã hội đều là những điều kiện thiết yếu để người dân yên tâm lao động, học tập và cống hiến. Nếu những nhu cầu này không được đáp ứng công bằng, kịp thời thì bất bình đẳng xã hội sẽ gia tăng, đời sống của người dân bị đe dọa, từ đó nảy sinh mâu thuẫn và gây mất ổn định xã hội. Ngược lại, khi Nhà nước coi an sinh xã hội là chính sách trụ cột, quan tâm đầu tư và thực hiện tốt, thì không chỉ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, mà niềm tin vào chế độ chính trị cũng ngày càng vững chắc, tạo động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Dân cần cơ hội phát triển. Chúng ta biết rằng, an sinh xã hội mới chỉ bảo đảm cho con người những nhu cầu tối thiểu, trong khi sự phát triển lại đòi hỏi những điều kiện cao hơn để khẳng định giá trị và năng lực cá nhân. Người dân không chỉ cần được bảo vệ trước rủi ro trong cuộc sống, mà còn cần được mở ra những cánh cửa để sáng tạo, khởi nghiệp, làm giàu hợp pháp, đóng góp và hưởng lợi từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Nếu thiếu cơ hội, xã hội sẽ trì trệ, tài năng bị lãng phí, bất bình đẳng dễ gia tăng. Ngược lại, khi Nhà nước tạo môi trường minh bạch, công bằng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và hỗ trợ những người yếu thế, thì mỗi công dân đều có thể phát huy hết khả năng của mình, từ đó vừa nâng cao đời sống cá nhân, vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước.
Dân cần môi trường sống an toàn, bền vững. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sức khỏe, chất lượng cuộc sống và sự phát triển lâu dài của cộng đồng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, thiên tai, dịch bệnh và ô nhiễm môi trường gia tăng, việc bảo vệ môi trường không còn là lựa chọn mà là một đòi hỏi cấp thiết. Người dân không thể sống yên ổn nếu nguồn nước bị ô nhiễm, không khí độc hại hay đất đai bạc màu,… Ngược lại, một môi trường trong lành, an toàn sẽ tạo nền tảng cho phát triển kinh tế xanh, nâng cao đời sống, giảm chi phí y tế và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Do đó, việc thực thi nghiêm ngặt các chính sách bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng sạch, quản lý tài nguyên hợp lý và khuyến khích sự tham gia của toàn dân chính là cách thiết thực để bảo đảm một tương lai bền vững cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Dân cần được tôn trọng, lắng nghe. Nhu cầu tinh thần, nhân phẩm, quyền tham gia vào đời sống chính trị - xã hội là một giá trị không thể thiếu trong xã hội dân chủ. Người dân không chỉ sống bằng cơm áo, an sinh, mà còn cần được thừa nhận nhân phẩm, được đối thoại và tham gia vào đời sống chính trị - xã hội. Khi tiếng nói của nhân dân được lắng nghe, những chính sách ban hành sẽ gần gũi thực tiễn, phản ánh đúng nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng, từ đó tạo nên sự đồng thuận xã hội bền vững. Ngược lại, nếu ý kiến người dân bị xem nhẹ, không được coi trọng thì dễ nảy sinh tâm lý bất mãn, xa lánh chính quyền và làm suy giảm niềm tin vào thể chế. Chính vì vậy, tôn trọng và lắng nghe người dân không chỉ thể hiện bản chất “của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn khơi dậy tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và sáng tạo của Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Như vậy, “Dân cần” là sự cụ thể hóa khía cạnh “lợi ích chính đáng, hợp pháp, hợp đạo lý của nhân dân”, bảo đảm rằng dân chủ ở cơ sở không bị trừu tượng hóa, mà gắn chặt với đời sống hằng ngày của người dân. Ngoài ra, “Dân cần” còn thể hiện tính nhân văn và đạo lý của dân chủ. Đáp ứng cái người dân cần là bảo đảm quyền lợi cho tất thảy mọi người, không thiên vị cho nhóm lợi ích nào. Chính điều đó khẳng định, dân chủ ở cơ sở không chỉ là thủ tục (bầu cử, họp bàn), mà còn là sự chăm lo, tôn trọng đời sống vật chất và tinh thần của từng con người.
Vai trò của thành tố “Dân cần” trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay
Một là, “Dân cần” bảo đảm tính thực chất của dân chủ. Nếu thực hiện dân chủ chỉ dừng lại ở việc thông tin, bàn bạc mà không xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, nó dễ trở thành hình thức. “Dân cần” bảo đảm dân chủ gắn với cái cốt lõi, cái thiết thực. Có nghĩa rằng, dân chủ không chỉ là nguyên tắc chính trị chung chung, mà phải được hiện thực hóa qua việc bảo đảm lợi ích thiết thân, hợp pháp và hợp đạo lý của nhân dân. Những nhu cầu, như được sống an toàn, có việc làm, con cái được học hành, mọi người dân đều chăm sóc sức khỏe, được tham gia bàn bạc công việc chung của cộng đồng, của địa phương, của đất nước,... chính là những lợi ích chính đáng. Khi đáp ứng những cái “dân cần”, dân chủ mới thực sự có nội dung và giá trị thực tiễn. Bên cạnh đó, nếu chỉ nói “dân làm chủ” mà không xác định cụ thể dân cần gì, dân chủ dễ bị trừu tượng hóa, xa rời đời sống và “Dân cần” trở thành thước đo, là điểm nối giữa nguyên tắc chính trị với thực tế đời sống hằng ngày.
Hai là, “Dân cần” sẽ tạo sự đồng thuận xã hội và sự ủng hộ của nhân dân. Khi cái “dân cần” được giải quyết, họ sẽ tích cực tham gia vào cái “dân làm, dân kiểm tra”. Khi Nhà nước và chính quyền quan tâm, đáp ứng những nhu cầu thiết thực của nhân dân, như an sinh, việc làm, y tế, giáo dục, môi trường sống…, người dân cảm nhận được sự lắng nghe và tôn trọng. Chính sự thỏa mãn nhu cầu căn bản ấy sẽ tạo ra niềm tin và đồng thuận xã hội, vì người dân thấy rằng lợi ích của mình gắn với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội. Và rằng, “Dân cần” được quan tâm giải quyết thì “dân làm, dân kiểm tra” mới có sức sống thực tiễn. Nếu nhu cầu thiết yếu chưa được giải quyết, người dân khó nhiệt tình tham gia vào các công việc cộng đồng. Khi những cái dân cần được bảo đảm, người dân có động lực và trách nhiệm tích cực hơn trong việc bàn bạc, thực hiện, giám sát, từ đó nâng cao hiệu quả của dân chủ cơ sở. Hơn nữa, khi cái dân cần được đáp ứng, nhân dân nhất định sẽ ủng hộ các chủ trương, chính sách, giúp làm giảm mâu thuẫn xã hội, hạn chế xung đột tiềm tàng có thể xảy ra. Vì thế, có thể nói, “Dân cần” trở thành điểm xuất phát của đồng thuận xã hội, yếu tố góp phần tạo nên nền tảng cho ổn định chính trị.
Ba là, “Dân cần” là điểm xuất phát của chính sách. Các chủ trương, kế hoạch phát triển ở địa phương phải lấy cái dân cần làm cơ sở. Nếu ngược lại, chính sách sẽ khó thực hiện và kém hiệu quả. Ở đây, “Dân cần” còn gắn dân chủ với thực tiễn quản lý nhà nước. Khi nắm được người dân cần gì, chính quyền mới có định hướng cụ thể để hoạch định chính sách mang tính khả thi và hiệu quả. Như vậy, “Dân cần” vừa là tiêu chí, vừa là cơ chế để kiểm nghiệm hiệu quả của dân chủ ở cơ sở.
Bốn là, “Dân cần” góp phần củng cố niềm tin của nhân dân. Đáp ứng cái người dân cần chính là cách tốt nhất để nhân dân thấy rõ “Đảng và Nhà nước vì dân”, từ đó củng cố niềm tin vào chế độ, vào hệ thống chính trị. Nói cách khác, “Dân cần” chính là một trong những thước đo chân thực của niềm tin nhân dân. Người dân đánh giá Đảng và Nhà nước không chỉ qua những tuyên bố, mà chủ yếu qua việc giải quyết những vấn đề thiết thực trong đời sống hằng ngày. Sự quan tâm, đáp ứng “dân cần” cũng chính là thể hiện bản chất “vì dân” của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó cho thấy, chủ trương “dân là gốc” sẽ trở nên cụ thể, sinh động khi gắn với việc thỏa mãn cái dân cần. Chính điều này chứng minh rằng, Đảng và Nhà nước không vì lợi ích riêng hay vì nhóm lợi ích, mà vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Những chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết chỉ trở nên có giá trị khi chạm tới đúng cái người dân mong muốn, trông đợi. Cái dân cần được thực thi, nhân dân cảm nhận sự tận tụy, tận tâm, tận hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là con đường ngắn nhất, vững chắc nhất để tạo dựng và duy trì niềm tin ấy, biến sự gắn bó giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân thành mối quan hệ bền chặt.
Đề xuất giải pháp để thực hiện thành tố “Dân cần”
Thứ nhất, nghiên cứu thể chế hóa và luật hóa thành tố “Dân cần” trong các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm trách nhiệm giải trình của chính quyền trước nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Nghị quyết số 43-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII chỉ rõ: “Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và giải quyết hài hòa lợi ích trong xã hội”.
Thứ hai, tăng cường các kênh đối thoại, lắng nghe nhân dân. Tổ chức đối thoại định kỳ giữa lãnh đạo chính quyền với nhân dân; ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội để khảo sát nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân; mở rộng hoạt động tiếp công dân của các cấp lãnh đạo, nhất là ở cấp tỉnh và cấp cơ sở. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: “Quần chúng càng chủ động, càng có nhiều ý kiến, càng mạnh dạn và càng có tinh thần sáng tạo khi tiến hành công việc đó thì lại càng tốt”(16). Nghị quyết số 43-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII yêu cầu: “Thực hiện nghiêm chế độ người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp định kỳ tiếp xúc, đối thoại với Nhân dân, cử lãnh đạo làm việc với các tổ chức đại diện của Nhân dân; lắng nghe và giải quyết kịp thời những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề Nhân dân bức xúc, dư luận xã hội quan tâm”.
Thứ ba, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ sở. Cán bộ phải gắn bó với nhân dân, gần dân, thật sự hiểu dân thì mới biết người dân cần gì. Lợi ích chính đáng của người dân phải trở thành tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Bác đã nói cán bộ là đày tớ của nhân dân, chỗ nào nhân dân cần đến mình là mình phải đến, bất kỳ chỗ nào cũng là Tổ quốc, là đất nước, cũng là cương vị công tác của cán bộ. Phải nhớ rằng Đảng, Chính phủ tin cậy vào cán bộ, nơi nào khó có cán bộ. Việc gì khó có cán bộ”(17). Nghị quyết số 43-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII cũng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải tăng cường nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp, kịp thời giải quyết những tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của cử tri và nhân dân; đề cao trách nhiệm của cấp ủy, hệ thống chính trị ở cơ sở, cán bộ, đảng viên... thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là cầu nối quan trọng giúp tập hợp, phản ánh nhu cầu của người dân đến chính quyền. Thông qua mạng lưới rộng khắp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội nắm bắt sát sao tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của từng giai tầng trong xã hội, bảo đảm dòng chảy hai chiều: từ trên xuống (chính sách, chủ trương) và từ dưới lên (nguyện vọng, nhu cầu). Hơn nữa, tập hợp và phản biện xã hội là những chức năng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; nhờ đó, “dân cần gì, dân muốn gì” mới được chuyển hóa thành kiến nghị chính sách.
Thứ năm, khuyến khích người dân mạnh dạn bày tỏ nhu cầu. Trong lịch sử dân tộc, chúng ta đã được biết đến những truyền thống dân chủ ở cơ sở biểu hiện qua hoạt động của các thiết chế tự quản cộng đồng gắn chặt với đời sống sản xuất nông nghiệp và văn hóa làng xã. Trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay, yêu cầu cấp thiết là cần phát huy truyền thống đó để xây dựng văn hóa dân chủ ở cơ sở, khích lệ người dân mạnh dạn, nhận rõ rằng, việc nói lên cái mình cần là quyền và trách nhiệm mà không sợ bị định kiến hoặc coi thường. Trong Nghị quyết số 43-NQ/TW, Đảng ta cũng nhấn mạnh yêu cầu: “Xây dựng cơ chế phù hợp để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước, những vấn đề có liên quan mật thiết đến cuộc sống của người dân; nêu cao tinh thần cầu thị, tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của Nhân dân theo quy định”.
“Dân cần” không chỉ là một khái niệm bổ sung, mà là một “thành tố tất yếu” trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay. Nó phản ánh yêu cầu khách quan của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn bó với tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ khi cái người dân cần được tôn trọng và giải quyết thỏa đáng, 6 thành tố còn lại của phương châm dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mới thực sự có sức sống, vận hành hiệu quả và toàn diện.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ, việc bổ sung và thực thi thành tố “Dân cần” không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn mang giá trị thực tiễn to lớn, góp phần nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân và từ đó, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân./.
------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 96
(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 19, tr. 47
(3), (4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 349
(5) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 14
(6) C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 19, tr. 36
(7) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 31, tr. 337
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 453
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 487
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 176
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 518
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 520
(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 792
(14) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 47, tr. 710 - 711
(15) Xem: Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-43-NQ-TW-2023-truyen-thong-dai-doan-ket-toan-dan-toc-xay-dung-dat-nuoc-phon-vinh-589018.aspx
(16) V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 31, tr. 337
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 212
Quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới  (19/02/2026)
Phát huy trí tuệ, đoàn kết, dân chủ, đổi mới trong công tác tổ chức đại hội đảng bộ cấp cơ sở của Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, nhiệm kỳ 2025 - 2030  (08/08/2025)
Phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh - Qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh  (01/12/2024)
“Dân thụ hưởng” - giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam  (01/02/2024)
Quảng Ninh đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở  (05/11/2023)
- “Dân cần” - Một thành tố quan trọng trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay
- Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau: Trường hợp đất hiếm trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
- Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc - Nga trên lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh mới
- Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
- Phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong giai đoạn phát triển mới
-
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX -
Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay -
Kinh tế
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển -
Chính trị - Xây dựng Đảng
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm